Lê Đình Danh
Tây Sơn bi hùng truyện (2003)
[1] Nguyễn Huệ đại thắng quân Xiêm
[2] Quang Trung đại thắng quân Thanh
[3] Quang Trung mất, Gia Long trả thù
o o o
Tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung băng hà, vừa tròn bốn mươi tuổi.
Người đời sau có thơ khen vua Quang Trung rằng:
"Lưu truyền thanh sử Nguyễn Quang Trung
Cứu dân giúp nước dựng cờ hồng
Bốn lần vào Nam, truy Phúc Ánh
Ba lần ra Bắc, giết Trịnh Tôn
Rạch Gầm tan tác, quân Tiêm - Nguyễn
Đống Đa sành sạch bóng Lê - Thanh.
Ví thử trời thương dòng Âu Lạc
Ngờ đâu đoản mệnh đấng anh hùng!"
Vua Quang Trung mất rồi, Lê Hoàng hậu và bá quan văn võ cũng khóc thật thảm thiết. Nguyễn Văn Tuyết đang đứng ngoài cửa nghe vậy nhảy lên ngựa Xích kỳ nhằm hướng Bắc phi mau như gió!
° ° °
Nói về Vũ Văn Dũng theo sứ đoàn sang Mãn Thanh. Hôm ấy Dũng đang đóng cửa vẽ bản đồ, Nguyễn Văn Tuyết bước vào nói:
- Thôi ông còn vẽ bản đồ Mãn Thanh làm chi nữa!
Vũ Văn Dũng ngạc nhiên hỏi:
- Tôi theo lệnh vua vẽ bản đồ đất Lưỡng Quảng sao ông lại bảo thế. Và vì sao ông lại đến đây?
Rơm rớm nước mắt, Văn Tuyết nói:
- Hoàng thượng bảo tôi cưỡi ngựa Xích kỳ gọi ông về gấp!
Văn Dũng ngạc nhiên hỏi:
- Sao lại có việc ấy được. Vậy chiếu lệnh của vua đâu?
Văn Tuyết khóc lớn đáp:
- Hoàng thượng đã băng hà không kịp viết chiếu lệnh, chỉ sai tôi gặp ông nói miệng mà thôi.
Vũ Văn Dũng nghe qua như sét đánh ngang mày, vùng hét lên một tiếng rồi ngã ra mà ngất đi. Quân hầu xúm lại cứu chữa. Hồi lâu Dũng hồi tỉnh đứng dậy đây và lấy bản đồ vẽ dở xé tan rồi khóc rằng:
- Trời cho vua ta sống thêm mấy năm nữa, chúa tôi Đường - Tống hết khoe hùng. Đại sư huynh ơi! Uổng bao tâm huyết của sư huynh. Ôi! Thật là đáng tiếc!
Than xong Vũ Văn Dũng cố nén niềm đau, đem hai tờ biểu cầu hôn công chúa nhà Thanh và đòi đất Lưỡng Quảng đốt đi rồi ra lệnh cho sứ đoàn quay về nước.
Người đời sau tiếc việc vua Quang Trung đòi đất Lưỡng Quảng bất thành có hai câu thơ rằng:
"Liệt oanh nối chí triều Tây
Ai đòi Lưỡng Quảng về đây cho mình?"
Nói về vua Thái Đức ở Hoàng đế thành, Quy Nhơn phủ. Ngày ấy vua Thái Đức nói với con trai là Thái tử Bảo rằng:
- Ta đã thuận ý giao binh quyền cho Hoàng thúc của con đem quân vào Nam tiêu diệt Nguyễn Phúc Ánh. Sao đến bây giờ vẫn chưa thấy Hoàng thúc có động tĩnh gì.
Thái tử Bảo đáp:
- Hoàng thúc đợi đến mùa Thu đầu mùa gió Bấc mới thuận gió xuôi chiến thuyền vào Nam đánh Phúc Ánh. Nay mới đến tiết sau thu nên người chưa phát lệnh hành quân đó thôi.
Thái tử Bảo vừa dứt lời, xảy quân vào phi báo:
- Tâu Hoàng thượng, vua em Quang Trung ở Phú Xuân lâm bạo bệnh đã băng hà!
Vua Thái Đức nghe qua vùng hét lên: "Em ơi!", rồi ngã ra ngất đi. Ngươi hầu xúm vào cứu chữa. Vừa tỉnh lại khoe rằng:
- Nguyễn Huệ em oi! Kẻ từ ngày Tây Sơn dấy nghĩa nhờ có em chinh Nam phạt Bắc nên nhà Tây Sơn ta mới được như ngày nay. Cũng tại anh do ta làm chậm bước tiến của em trên con đường thống nhất giang sơn nên Nguyễn Phúc Ánh mới manh nha dấy loạn ở miền Nam. Nay anh đình nhường ngôi cho em để giang sơn quy về một mối, thì than ôi, em đã ra người thiên cổ! Đau đớn thay! Nguyễn Huệ em ơi!
° ° °
Lại nói về Nguyễn vương ở thành Sài Côn ngày ấy đang cùng các tướng luyện võ trước điện, bỗng quân mừng rỡ chạy vào báo:
- Tâu Thượng vương, quân do thám ta từ Phú Xuân báo về vua em Tây Sơn là Quang Trung Nguyễn Huệ đã chết!
Nguyễn vương đang múa gươm nghe vậy hét lên một tiếng tung mình một cái nhảy vọt lên đứng trên nóc điện. Các tướng đều ngừng luyện võ vỗ tay reo hò như sấm dậy. Nguyễn Vương từ trên nóc điện nhảy xuống gọi tên tiểu tướng cận vệ đến hỏi:
- Vì sao ngươi lại vui mừng như vậy.
Tên tiểu tướng đáp:
- Thượng vương hàng ngày luyện võ là để làm gương cho tướng sĩ gắng sức tập luyện đề phòng Nguyễn Huệ kéo quân vào đánh. Nay Nguyễn Huệ đã chết ta không còn phải lo quân Tây Sơn đến đánh nên thần vui mừng là thế.
Nguyễn vương cau mày bảo:
- Vậy hoá ra ngươi sợ giặc hay sao? Nguyễn Huệ tài cán gì mà phải sợ hắn. Ngươi đã làm giảm nhuệ khí ba quan. Võ sĩ lôi ra chém!
Chém tên tiểu tướng xong, Nguyễn vương hỏi các tướng:
- Còn các khanh vì sao lại mừng rỡ như vậy?
Ai này đều cúi đầu không dám nói. Lão tướng Nguyễn Nghi nhanh trí bước ra thưa:
- Chúng thần thấy Thượng vương chỉ nhảy một bước đã bay lên nóc điện nhẹ nhàng như chim nên mừng rỡ vỗ tay tán thưởng đấy ạ.
Nguyễn vương cười hỏi:
- Trong thiên hạ có ai nhảy được như ta chăng.
Trương Tấn Bửu thật thả đáp:
- Hạ thần nghe nói tướng Tây Sơn là Võ Đình Tú tài nhảy cao. Ngày xưa giặc Tây Sơn đánh thành Quy Nhơn nhờ Võ Đình Tú nhảy lên mặt thành dẫn quân kéo cầu treo nên giặc Tây Sơn mới tràn vào thành.
Nguyễn vương cau mày bảo:
- Lão tướng Nguyễn Nghi từng trải qua ba đời Chúa, từ Võ Vương, Định Vương rồi đến ta con không nghe đến việc ấy. Ngươi mới theo ta biết gì mà nói. Thôi mau giải tán chờ gió Nồm tiến đánh Tây Sơn.
Đoạn Nguyễn vương quày quả về vương phủ. Mọi người ra về rồi, Trương Tấn Bửu chạy theo hỏi Nguyễn Nghi:
- Không có việc Võ Đình Tú nhảy lên mặt thành Quy Nhơn thì thôi, sao Thượng vương lại giận tôi.
Nguyễn Nghi đáp giọng bí mật:
- May mà tướng quân thật thà chất phác nên Thượng vương chỉ giận mà thôi. Nếu kẻ khác ắt phải mất dần.
Trương Tấn Bửu lại hỏi:
- Sao lão tướng quân không xin Thượng vương nhảy lại lần nữa cho mọi người thưởng ngoạn?
Nguyễn Nghi kề tai Bửu nói nhỏ:
- Thượng tướng quân là người thật thà nên tôi mới căn dặn điều này. Thượng vương không bao giờ nhảy được lần hai đâu. Nếu tướng quân xin thế sao khỏi mất đầu.
Nguyễn Nghi đi rồi Bửu nói thầm rằng:
- Nếu không nhảy được lần hai, vậy nhờ đâu Thượng vương lại có sức mạnh thần sầu như thế. Ta thật không hiểu nổi?
***
Chương 59
Bùi Đắc Tuyên dùng kế thu quyền
Lê Thái hậu làm thơ minh oan
Nhắc lại vua Quang Trung mất rồi, đình thần bèn phò Thái tử Toản mới mười tuổi lên ngôi vua. Quang Toản xưng đế hiểu là Cảnh Thịnh.
Vua Cảnh Thịnh tuổi còn nhỏ chỉ nghe lời cậu ruột của mình là quan nội thị Bùi Đắc Tuyên, phong Tuyên làm Thái sư đứng đầu ba quan trong triều.
Tuyên mừng rỡ về nhà hỏi Vũ Tâm Can:
- Ta này được chức Thái sư là nhờ ấu quân ta phong nhưng e lòng người không phục. Vậy nên là thế nào để khiến chúng được.
Vũ Tâm Can cười đáp:
- Nếu Thái sư biết dùng nanh vuốt của mình thì quyền nghiêng thiên hạ đó.
Tuyên lấy làm lạ hỏi:
- Thế nào là biết dùng nanh vuốt?
Can đáp:
- Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân gọi Thái sư là chú ruột. Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân xưa mang ơn nhà họ Bùi của Thái sư, họ đều là đại tướng anh hùng cả. Nếu Thái sư dùng họ làm nanh vuốt củng cố thế lực thì ai dám không nghe.
Tuyên lắc đầu hỏi:
- Diệu, Xuân dù cháu ta nhưng chưa hẳn đã lôi kéo được, làm thế nào sai khiến họ đây?
Vũ Tâm Can hiến kế:
- Thái sư cứ làm như vậy... như vậy... ắt bá quan sợ thế lực của Diệu, Xuân mà phải đến chúc mừng Thái sư. Ấy là kế cáo mượn oai hùm.
Bùi Đắc Tuyên mừng rỡ khen:
- Thật là diệu kế!
Nói rồi liền theo kế ấy thi hành.
Hôm sau vợ chồng Diệu, Xuân nhận được chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh vời đến tư dinh của Bùi Đắc Tuyên. Diệu ngạc nhiên hỏi Xuân:
- Vua gọi ta thì phải gọi vào ngự điện, sao lại gọi đến tư dinh Thái sư là cớ gì.
Bùi Thị Xuân đáp:
- Vua còn nhỏ chưa tháo triều nghi. Vả lại Thái sư là chú ruột của thiếp có gì mà chẳng phải ngại.
Diệu nghe xuôi tai liền theo vợ đến nhà Bùi Đắc Tuyên. Bá quan trọng thấy bảo nhau rằng:
- Thái sư là cậu ruột của vua lại là chú ruột của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Bùi Thị Xuân và chồng là quan thiếu phó thượng tướng Trần Quang Diệu đang nắm giữ binh quyền lại theo về với Bùi Thái sư. Vậy bọn ta nên đến chúc mừng Thái sư mới được.
Bàn rồi bá quan văn võ liền đến nhà riêng của Bùi Đắc Tuyên chúc mừng và dâng tặng vật. Khách về cả rồi, Vũ Tâm Can nói với Bùi Đắc Tuyên rằng:
- Tôi bày kế món cáo mượn oai hùm mà trăm quan thảy đều khiếp oai của Thái sư. Vậy Thái sư ban thưởng cho tôi vật gì đây?
Tuyên mặt dàu dàu đáp:
- Trăm quan đến chúc mừng ta không vui. Có mấy người chưa đến làm ta lo lắm.
Can liền hỏi:
- Mấy người ấy là ai.
Tuyên đáp:
- Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đang trấn thủ Bắc Hà thì chẳng nói làm chi. Con anh em Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, anh em Đặng Văn Long, Đăng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong và hai tướng thuỷ binh là Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết không thấy đến. Họ đều là danh tướng cùng Trần Quang Diệu Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân nổi danh là Tây Sơn thập hổ. Nay bọn họ không đến tức là không phục nên ta vẫn lấy làm lo lắm.
Vũ Tâm Can cười nói:
- Ta dùng kế cáo mượn oai hùm đe doạ chồn cáo, chứ hùm sao doạ được hổ. Nay Thái sư hãy làm như vậy... như vậy... tất đưa được bảy tướng ấy ra khỏi kinh thành và gọi Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân về làm vây cánh cho mình.
Bùi Đắc Tuyên khen:
- Ấy thật là diệu kế.
Hôm sau đến hạn thiết triều, vua Cảnh Thịnh hạ lệnh:
- Tiên đế vừa băng hà e rằng Nguyễn Phước Ánh nghe tin ấy thừa cơ đem thuỷ binh ra đánh các trấn dọc theo bờ biển của ta. Vậy nay ta lệnh cho Đặng Văn Long ra trấn thủ Nghệ An. Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Văn Tuyết trấn thủ Thanh Hoá. Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong trấn thủ Thuận Hoá. Võ Văn Dũng và Võ Đình Tú ra trấn thứ Bắc Hà thay cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân.
Vũ Văn Dũng bước ra thưa:
- Tâu Hoàng thượng, địa hình nước Nam ta các trấn phủ đều nằm dọc theo bờ biển nên chia tướng trấn thủ đề phòng Nguyễn Phúc Ánh đem thuỷ binh ra đánh là rất đúng. Còn riêng Bắc Hà đã có Sở và Lân hùng tài trấn thủ sao lại phải thay anh em tôi.
Cảnh Thịnh lấp lửng đáp:
- Việc này trẫm không rõ. Thử hỏi Thái sư xem.
Bùi Đắc Tuyên xen vào nói:
- Tiên đế băng hà, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ở Thăng Long chưa về chịu tang. Vậy tướng quân ra thay để hai tướng ấy về chịu tang Tiên đế. Vua đã có lệnh tướng quân lại chẳng tuân sao.
Vũ Văn Dũng nghe vậy chẳng biết nói sao đành cùng các tướng nhận lệnh mà đi. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân được triệu hồi kính. Ba quan trong triều lại bảo nhau rằng:
- Đại tư mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phan Văn Lân trước kia mang ơn nhà họ Bùi của Thái sư cũng Trần Quang Diệu. Bùi Thị Xuân là anh em kết nghĩa. Nay hai người này được triệu về kinh còn các tướng khác bị đổi đi xa. Vậy quyền thế của Thái sư đã lớn làm rồi. Bọn ta nên về theo Thái sư mới là kẻ thức thời.
Từ ấy Bùi Đắc Tuyên làm việc gì cũng mượn danh thiên tử, Cảnh Thịnh còn nhỏ nhất nhất tuân theo, các quan lại a dua theo, Bùi Đắc Tuyên quyền uy tột đỉnh.
Ngày kia Bùi Đắc Tuyên nghe người thân tín về báo:
- Thưa Thái sư, thiên hạ trong thành bàn tán rằng Thái sư đầu độc Tiên đế.
Tuyên sửng sốt hỏi:
- Bọn họ suy luận thế nào mà dám nói lão như vậy?
Quần thân tín đáp:
- Họ bảo Thái sư đầu độc Tiên đế để nương theo ấu quân nên từ chức quan nội thị quèn nhảy lên làm Thái sư dễ dàng như Võ Đình Tú nhảy quá nóc nhà vậy.
Tuyên vỗ án quát:
- Bọn này láo! Mau đi tìm xem đứa nào nói bậy chém chết cho ta.
Vũ Tâm Can vội vã can:
- Chém người này thì con người khác nói, chẳng lẽ đem chém hết hay sao. Tôi có một kế dùng một mũi tên mà trúng hai con nhạn.
Tuyên hỏi:
- Kế thế nào.
Can đáp:
- Thái sư cho người phao tin rằng Thái hậu Lê Ngọc Hân đầu độc Tiên đế, rồi đem mẹ con Thái hậu ra làm tội. Ấy là đã rửa tiếng nhơ cho mình, lại trừ được đối thủ, chẳng phải là nhất cử lưỡng tiện hay sao?
Bùi Đắc Tuyên khen rằng:
- Ấy mới thật là tuyệt diệu kế.
Đến hạn thiết triều, Bùi Đắc Tuyên rước vua Cảnh Thịnh ngự triều rồi sai quân đi mời Thái hậu Lê Ngọc Hân. Lê Thái hậu đến, Tuyên hỏi:
- Mới đây nghe bá tánh trong thành đồn rằng Tiên đế vì dứt nhà Lê, đuổi Lê Chiêu Thống chạy sang Mãn Thanh rồi lên ngôi Hoàng đế nên Thái hậu là công chúa nhà Lê mới oán hận đầu độc vua để trả thù. Thần trộm nghĩ không có lửa làm sao có khói nên vời Thái hậu đến hỏi cho ra lẽ.
Lê Thái hậu sửng sốt, nghẹn lời không nói được, Phan Văn Lân nổi nóng xen vào hỏi:
- Việc quy tội phải có tang chúng, sao lại tin vào lời đồn mà kết án người ta.
Bùi Đắc Tuyên quay lại bảo quân:
- Mau vời nhận chứng vào đây!
Quân đưa một người đến dưới bệ. Tuyên vỗ án hỏi:
- Tên kia? Ngươi quan hệ thế nào với Thái hậu. Mau khai ra.
Tên ấy đáp:
- Thần tên Hồ Bật, là người nấu bếp của Tiên đế. Thái hậu bảo thần đầu độc Tiên đế, thần lỡ dại nghe lời. Xin Bệ hạ giáng tội!
Bùi Đắc Tuyên quay sang hỏi Lê Thái hậu:
- Thái hậu còn chối cãi nữa chăng.
Lê Thái hậu khóc ngất, nghẹn ngào không thốt lên câu:
- Xin cho giấy bút viết lời tường thuật.
Tuyên mừng rỡ bảo:
- Quân mau đem giấy bút cho Thái hậu viết lời thú tội.
Quân đem giấy bút đến. Lê Thái hậu vừa khóc vừa viết liền một mạch xong bài thú tội. Bùi Đắc Tuyên cầm lấy bảo Trần Văn Kỷ:
- Quan Trung thu lệnh văn hay chữ tốt hãy đọc cho mọi người cùng nghe Thái hậu nhận tội thế nào?
Trần Văn Kỷ đón lấy đọc.
Thơ rằng:
"Gió hắt hiu phòng tiêu lạnh lẽo.
Trước thềm lan hoa héo don don.
Cầu tiên khói toả đỉnh non.
Xe rồng thăm thẳm bóng loan dàu dàu!.
Nỗi niềm đau dễ hầu than thở.
Trách nhân duyên lỡ vỡ cớ sao?.
Sầu sầu thảm thảm xiết bao.
Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời!.
Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc.
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.
Xe duyên vâng mệnh Phụ hoàng.
Thuyền lan chèo quế thượng đường vu quy.
Trăm ngàn dặm quản chi non nước.
Chữ nghi gia mừng được phải duyên.
Sang yêu muôn đợi ơn trên.
Rõ ràng vẻ thuý, nỗi chen tiếng cầm!.
Lượng che chở vụng lắm nào kê.
Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.
Dẫu rằng biển đổi non dời.
Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là.
Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội.
Khắp tôn thân cũng đội ơn sang.
Miếu đường Lê vẫn tế thường.
Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh.
Nhờ hồng phúc đôi cành hoè quế.
Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi.
Non Nam lấn chục tuổi trời.
Dâng câu đại thọ, ngỏ lời an khang.
Những ao ước trập trùng tuổi hạc.
Nguyện trăm năm ngõ được vầy vui.
Nào hay sông cạn biển vùi.
Lòng trời tráo trở. lòng người biệt ly!.
Đọc đến đây Trần Văn Kỷ lệ tuôn lã chã, đặt giấy lên án nói:
- Thần nghẹn lời không đọc được nữa. Xin người khác đọc thay cho!
Các quan đều ứa nước mắt nói:
- Thương thay cho Thái hậu!
Bùi Thị Xuân gạt lệ nói:
- Trần tiên sinh là văn sĩ nên lòng mềm yếu. Tôi xin đọc thay.
Đoạn Xuân đọc tiếp rằng:
"Từ nắng Hạ, mưa Thu trái tiết.
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên…".
Thị Xuân vùng khóc kêu lớn:
- Tiên đế ơi! Tiên đế!
Người định đến cuối Hạ sang Thu sẽ đem quân đánh Phúc Ánh thì đến lúc ấy người đã ra người thiên cổ.
Ôi! Nắng hạ mưa thu trái tiết.
Tiên đế ơi! Tiên đế!
Các quan nghe Thị Xuân nói thế cũng sụt sùi ngấn lệ.
Bùi Thị Xuân cắn răng đọc tiếp:
"Từ nắng Hạ, mưa Thu trái tiết.
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên.
Xiết bao kinh sợ lo phiền.
Miêu thần đã đảo thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn thầy hay tìm rước.
Phương pháp nào đổi được cùng chăng.
Ngán thay mày tạo bớt bằng.
Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan!.
Cuốc tụ tán bi hoan kíp bấy.
Kể xúm vầy đã mấy năm nay.
Lênh đênh chút phận bèo mây.
Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu.
Trằn trọc luống đêm thâu ngày tới.
Biết cậy ai giập nỗi bi thương.
Trông mong luống những mơ màng.
Mơ hồ như mộng, bàng hoàng như say.
Khi trận gió hoa bay thấp thoáng.
Ngỡ hương trời lảng bảng còn đâu.
Vội vàng sửa áo lên chầu.
Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng!
Đọc đến đây Xuân lấy vạt áo lau nước mắt rồi đọc tiếp :
Khi bóng trăng lá in lấp lánh.
Ngỡ tàn vàng ngắm cảnh ngự chơi.
Vội vàng dạo bước tới nơi.
Thương ôi vắng vẻ giữa trời tuyết sa!.
Nhớ hình dáng xót xa đòi đoạn.
Mặt rồng sao cách biệt lâu nay.
Có ai chốn ấy về đâY.
Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành!.
Nẻo u minh khéo chia đôi ngả.
Nghĩ đôi phen nồng nã đôi phen.
Kiếp này chưa trọn chữ duyên.
Ước xin kiếp khác vẹn tuyền lửa hương.
Đọc đến đây Xuân ôm mặt oà lên khóc. Các quan cùng gạt lệ nhìn nhau bảo:
- Lòng Thái hậu thương Tiên đế đến thế lẽ nào bày việc hại vua!
Phan Văn Lân thấy Thị Xuân khóc không đọc được bèn bước đến nói:
- Chị vừa bảo Trần tiên sinh là văn sĩ mềm yếu, còn chị tuy là võ tướng cũng bụng đàn bà. Thôi đưa đây tôi đọc cho mọi người rõ lòng Thái hậu.
Nói xong Lân liền cầm bài thơ lên đọc tiếp rằng:
Nghe trước có đấng vương Thang Võ.
Đức càng sâu tuổi thọ càng cao.
Mà nay áo vải cờ đào.
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình!.
Mới đọc được bốn câu Lân vùng khóc rống lên rằng:
- Tiên đế ơi! Tiên đế!
Vua Cảnh Thịnh cũng khóc theo:
- Phụ hoàng ơi! Phụ hoàng!.
Ngô Văn Sở thấy thế hỏi Văn Lân:
- Phan đệ chê chị Xuân bụng đàn bà sao vừa đọc bốn câu đã khóc rống lên vậy?
Văn Lân đáp:
- Trước Trần tiên sinh và chị Xuân đọc cảnh nhớ nhung, mây, nước, gió, trăng thì tôi không khóc.
Nhưng bốn câu tôi vừa đọc làm tôi nhớ đến công lao dựng nghiệp của Tiên đế mà khóc đấy thôi!
Nói rồi Văn Lân đọc tiếp:
Nghe rành rành trước vua Nghiêu Thuần.
Công đức dày ngự vận càng lâu.
Mà nay lòng cả ơn sâu.
Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần!.
Công thế ấy mà nhân dường ấy.
Tuổi thọ sao hẹp bấy hóa công.
Nếu cho chuộc được tuổi rồng.
Đổi thân này cũng thoả lòng riêng tôi!.
Đến đây Van Lân lại khóc rống lên rằng:.
- Tiên đế ơi! Tiên đế!.
Ngô Văn Sở thấy vậy nói:.
- Phan đệ tánh hay mủi lòng, đưa đây tôi đọc cho.
Ngô Văn Sở cầm lên đọc một mạch:
Buồn thay nhẽ! Sương rơi gió lọt.
Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa.
Trùng lời di chúc thiết tha.
Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê.
Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở.
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong.
Quyết liều mong vẹn chữ tòng.
Trên rường nào ngại giữa dòng nào e!.
Con trứng nước thương vì đôi chút.
Chữ thâm tình chưa thoát được đi.
Vậy nên nấn ná đôi khi.
Hình tuy còn ở, phách thì đã theo!.
Theo buổi trước ngự đèo Bồng Đảo.
Theo buổi sau ngự nẻo Sông Ngân.
Theo xa thôi lại theo gần.
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.
Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh.
Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao!.
Mơ màng thêm nỗi khát khao.
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi.
Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ.
Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai.
Xưa sao sớm hỏi khuya bày.
Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ.
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ.
Tình cô đơn ai kể xót đâu.
Xưa sao gang tấc gần chầu.
Trước sân phong nguyệt trên lầu sính ca!.
Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi.
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh.
Nửa cung gãy phím cầm lành.
Nỗi con côi cút nỗi mình bơ vơ.
Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đôi lúc.
Tiếng Cuốc kêu thêm giục lòng thương.
Não người thay cảnh tiên hương.
Dạ thương quanh quất, mắt thương ngóng trông.
Trông mái Đông cánh buồm xuôi ngược.
Thấy mênh mông những nước cùng mây.
Trông Đông rồi lại trông Tây.
Thấy non cao ngất thấy cây rườm rà!.
Buồn trong trăng, trăng mờ thêm tủi.
Gương Hằng Nga đã bụi màu trong.
Nhìn gương càng thẹn tấm lòng.
Thiền duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà.
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn.
Cánh hải đường đã quyện giọt sương.
Trông chím càng dễ đoạn trường.
Uyên ương chiếc bóng, Phụng Hoàng lẻ đôi!.
Cảnh nào cũng bùi ngùi cảnh ấy.
Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu.
Phút giây bãi bể nương dâu.
Cuộc đời là thế nài hầu được sao.
Chữ tình nghĩa trời cao đất rộng.
Nỗi đoạn trường càng sống càng đau.
Mấy lời tâm sự trước sau.
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho!.
Ngô Văn Sở đọc xong rồi, Bùi Đắc Tuyên bảo:
- Từ lâu nghe Thái hậu nổi danh cầm kỳ thi hoạ, xuất khẩu thành chương, nay tận mắt trong thấy thật quả không ngoa. Nhưng trong bài thơ ấy không nói đến việc hại vua là ý thế nào. Muốn chạy tội chăng?.
Lê Thái hậu chỉ khóc mà không đáp. Phan Văn Lân thôi khóc ngửa mặt lên trời cười lớn mấy hồi.
Tuyên giận lắm quát hỏi Lân:
- Phan Văn Lân! Ngươi cười gì mãi thế?.
Lân nghiêm mặt đáp:
- Tôi cười Thái sư ít học nên không thấy được lời thuật việc hỏi Tiên đế trong bài thơ của Thái hậu.
Tuyên cố nén giận hỏi:
- Ngươi bảo lời thuật chỗ nào phải nói cho thông, bằng không phải chém!.
Văn Lân ung dung đáp:
- Thái sư hãy nhìn mọi người ở đây xem. Nghe bài thơ này ai nấy đều khóc lóc nhớ thương Tiên đế. Nếu Thái hậu hại vua sao trong phút chốc có thể viết lên bài thơ ai oán đó. Ấy chẳng phải là lời tự bạch cho nỗi oan của mình đó ư?.
Văn Lân vừa dứt lời trăm quan đồng thanh nói:
- Lời quan Nội hầu rất phải. Xin Thái sư xét lại kẻo oan cho Thái hậu.
Tuyên liệu bắt tội Lê Thái hậu không được bèn bước lại gần Hồ Bật bảo:
- Thái hậu vô tội, vậy là ngươi vu oan cho Thái hậu.
Nói xong Tuyên rút gươm đâm Hồ Bật một nhát chết tươi. Thấy vậy Phan Van Lân nói:
- Đáng lý nên giữ Hồ Bật hỏi cho ra lẽ, ai đã bày mưu hại Thái hậu. Sao Thái sư lại giết hắn đi. Ngộ nhỡ có kẻ nói gièm rằng Thái sư giết người diệt khẩu thì sao?
Tuyên vỗ án quát:
- Phan Văn Lân to gan dám đổ tội cho ta. Võ sĩ đâu lôi ra chém tức thì.
Võ sĩ xông vào trói Văn Lân toan lôi đi.
Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân, Ngô Văn Sở cùng quỳ xin tội. Quang Diệu thưa:
- Văn Lân vì xót thương Thái hậu nói lỡ lời, xin Thái sư tha mạng. Vả lại Văn Lân xưa cùng Tiên đế kết nghĩa đệ huynh, là một bậc khai quốc công thần, có công một mình chặn giặc Mãn Thanh trên sông Như Nguyệt. Xin Thái sư nghĩ tình ấy mà tha cho Văn Lân mặt phen.
Bá quan cũng đều quỳ xin tha cho Văn Lân. Bùi Đắc Tuyên bảo:
- Nể lời trăm quân tha cho ngươi một lần. Lần sau tái phạm giết chết không tha.
Nói xong Tuyên dắt vua Cảnh Thịnh về cung. Ra ngoài Phan Văn Lân bàn với Ngô Văn Sở:
- Tôi e Thái sư lập kế hại Thái hậu. Kế không thành mới giết người diệt khẩu. Việc này không làm cho ra lẽ thật là tức chết.
Ngô Văn Sở bác đi bảo:
- Đang nào Thái hậu cũng đã được minh oan. Vả lại cũng không chắc người chủ mưu là Thái sư. Hơn nữa, xưa anh em ta tá túc trong nhà họ Bùi thì Thái sư kẻ như là người ơn của ta, cũng không nên tra cứu làm gì.
Nghe Sơ nói xong, Văn Lân lẳng lặng ra về.
Bùi Đắc Tuyên về nhà nói với Vũ Tâm Can:
- Nếu không có Phan Văn Lân ta đã làm tội được Lê Thái hậu rồi, thật là tức chết! Xưa nó ở nhờ trong nhà ta này lại phản ta. Phải làm sao trừ Văn Lân mới được.
Vũ Tâm Can bản rằng:
- Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân là anh em kết nghĩa từ lúc con để chỏm theo Đô thống Ngô Mãnh bỏ Phú Xuân lánh nạn vào Quy Nhơn. Phan Văn Lân nóng nảy bộc trực, Ngô Văn Sở điềm đạm, trầm tĩnh biết tính thiệt hơn. Nay Thái sư có người con gái là Xuân Hoa nên đem gả cho Ngô Văn Sở. Phan Văn Lân tất sẽ phải bỏ quan ở ẩn, hoặc sẽ nông nỗi làm càn. Khi ấy Thái sư bắt tội giết đi là trừ được hoạ.
Tuyên trầm ngậm bảo:
- Ta chỉ e Ngô Văn Sở không bằng lòng.
Vũ Tâm Can nói:
- Ngô Văn Sở đọc một mạch hết bài thơ của Thái hậu mà không hề rơi nước mắt, chứng tỏ Sở tình ít mà trí thì nhiều, người không bị tình cảm lưng lạc tất sẽ sáng suốt mới theo về với ta.
Tuyên nghe lời liền gọi Ngô Văn Sở đến hỏi:
- Ngô tướng quân đã lớp gia thất chưa.
Sở đáp:
- Tôi từ nhỏ theo Tiên để chinh chiến triền miên nên chưa thành gia thất.
Tuyên bảo:
- Xưa tướng quân và ông nội là Đô thống Ngô Mãnh gặp nạn ở Phú Xuân vào nhà ta tá túc. Ta vẫn xem tướng quân nhà người nhà, nay có còn gái tên là Bùi Xuân Hoa muốn gả cho tướng quân. Chẳng hay tướng quân thế nào?
Ngô Văn Sở bái tạ thưa:
- Thái sư đã bàn ơn tôi nào dám không vâng.
Tuyên mừng rỡ đỡ Văn Sở dậy nói:
- Vậy ta định ngày làm lễ cưới, mời trăm quân dự linh đình cho thiên hạ biết con rể ta là một danh tướng trong Tây Sơn thập hổ.
Nói xong cả hai cùng tay bắt mặt mừng.
Nhắc lại Phan Văn Lân nhận được thiếp mời hôn lễ của Ngô Văn Sở và Bùi Xuân Hoa. Xem xong, Lân vào Bắc cung gặp Lê Thái hậu. Lân quỳ thưa:
- Thần này phải bỏ quan về ở ẩn. Xin Thái hậu nên bảo trọng.
Lê Thái hậu ngạc nhiên hỏi:
- Tướng quân là bề tôi ỷ trọng của triều đình, sao bỗng dưng lại từ quan?
Lân đáp:
- Ngô Văn Sở đã theo làm rể của Bùi Đắc Tuyên, vậy Văn Lân không còn đất dung thân nên phải ra đi.
Lê Thái hậu trầm ngâm nói:
- Ta có một kỷ vật của Tiên để muốn kỳ thác cho tướng quân giữ gìn. Chẳng hay tướng quân có vừa lòng chăng?
Lân khóc lấy thưa:
- Vật gì của Tiên đế xin Thái hậu cứ giao cho thần. Thần có thể mất đầu mà không mất vật.
Lê Thái hậu cả mừng liền vào trong ẵm một hai nhi ra. Thái hậu ứa nước mắt nói:
- Đây là Hoàng tứ Quang Thiệu, vừa tròn mười hai tháng, xin ký thác tướng quân.
Văn Lân thất kinh hỏi:
- Vì sao Thái hậu lại giao Hoàng tử cho thân. Triều đình có biến chăng?
Lê Thái hậu lệ tuôn lã chã đáp:
- Lúc Tiên đế còn tại thế định việc bình đất Gia Định, đòi đất Lưỡng Quảng mới vời La Sen Phu tử đến hội ý. Phu tử bảo không có điều binh Nam, Bắc tiến và khuyên vừa nên giữ gìn hậu đức của mình. Lúc ấy ta không tin, nay Tiên đế băng hà mới hay là thực. Đã đúng điều trước ắt nhằm điều sau, nên ta mới tìm người trung nghĩa gửi gắm Hoàng tứ. Nay xét thấy chỉ có tướng quân là đáng tin cậy mà thôi.
Phan Văn Lân hỏi:
- Nếu vậy thần xin vâng, nhưng làm sao đem được Hoàng tử ra khỏi cung cấm mà không bị nghi ngờ?
Lê Thái hậu gạt nước mắt đáp:
- Tướng quân vóc dáng thư sinh vậy hãy vở giả làm nhĩ nữ ẵm theo một trẻ trạc tuổi như Hoàng tử nói giả rằng người trong Hoàng tộc nhà Lê ở Thăng Long vào thăm Thái hậu. Vào rồi ta đánh tráo hai trẻ vậy khi đem Hoàng tứ ra khỏi Hoàng cung tất chân ai nghi ngờ.
Văn Lân nói:
- Vậy thần xin theo kế ấy lập tức thi hành.
Từ ấy về sau không ai biết Phan Văn Lân bỏ đi đâu và cũng không ai biết rằng Hoàng tử Quang Thiệu đang sống cùng Thái hậu là Hoàng tử giả.
Nghe tin Phan Văn Lân bỏ quan đi biệt tích, Vũ Tâm Can nói với Bùi Đắc Tuyên rằng:
- Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân là cháu ruột của Thái sư nên dưới mắt thiên hạ cặp vợ chồng danh tướng này đã là vây cánh của Thái sư rồi vậy. Giờ đến Đại tư mã Ngô Văn Sở là con rể của Thái sư, đến nỗi Phan Văn Lân sợ mà bỏ trốn hỏi còn ai dám chống lại Thái sư nữa.
Bùi Đắc Tuyên hớn hở bảo:
- Ấy là nhờ kế cáo mượn oai hùm của ngươi đó. Để đền ơn, ta tiến cử ngươi lên vừa làm quan nội thị thế chỗ ta ngày trước. Ý ngươi thế nào?
Vũ Tâm Can quỳ lạy tạ ơn.
***
Chương 69
Dạ hờn căm, vua Gia Long báo thù
Lòng trung trinh, Lê Thái hậu tự vẫn
Nói về vua Gia Long ở thành Phú Xuân nghe quân báo đã giải Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng Đặng Xuân Bảo về đến. Vua truyền giải vào. Vợ chồng Diệu, Xuân vừa đến liền quỳ mọp khấu đầu dưới trướng. Đặng Xuân Bảo thấy vậy mắng Diệu , Xuân:
- Ta nghe thiên hạ xưa nay bảo vợ chồng ngươi là đấng anh hùng. Nayđến đường cùng mới hay loài hèn hạ.
Diệu , Xuân bị sỉ nhục hổ thẹn cúi đầu. Vua Gia Long vỗ ngai quát:
- Đặng Xuân Bảo to gan. Trước mặt ta sao dám không quỳ!
Bảo trợn mắt mắng lại:
- Đặng Xuân Bảo ta chỉ quỳ dưới trướng của Quang Trung đại đế. Ngoài ra xưa nay chưa biết quỳ trước kẻ khác bao giờ!
Vua Gia Long cười gằn nói:
- Được! Ta tạm giam tụi bây vào ngục chờ giải Cảnh Thịnh về đây rồi sẽ đào mả lấy xương anh em thằng buôn trâu Nhạc, Huệ, Lữ, rồi sẽ xử tội kẻ sống lẫn người chết vua tôi nhà Tây Sơn bay một thể.
Võ sĩ xông vào lôi Diệu, Xuân và Bảo đi. Bảo vừa đi vừa mắng Diệu, Xuân rằng:
- Ngày trước nó quỳ khóc van xin nên vợ chồng ngươi tha chết cho nó. Nhưng ngày nay cầu xin thế nào cũng không khỏi chết được đâu. Đừng quỳ trước kẻ tiểu nhân mà mang nhục.
Diệu, Xuân chỉ cúi đầu lê bước mà không dám nói gì.
Vua Gia Long nổi giận quát lên rằng:
- Quân bay, đưa Đặng Xuân Bảo lên đây!
Võ sĩ lôi Bảo quay lại. Vua Gia Long quắc mắt hỏi:
- Chờ ta đem hài cốt của Nhạc, Huệ, Lữ về đây rồi đưa các ngươi đến trước tôn miếu của tiên vương ta trị tội thử xem làm cách nào mà ngươi không chịu nhục?
Bảo cười to đáp:
- Ta sẽ tự vẫn mà chết, nhất định không chờ đến ngày thọ nhục.
Nói xong Bảo há miệng toan cắn lưỡi. Nguyễn Văn Thành đứng gần nhanh tay bóp miệng Bảo, không cho Bảo cắn lưỡi tự vẫn. Vua Gia Long quát:
- Quân bây bẻ răng nó rồi trói chặt không cho nó có chỗ đập đầu, xem thử nó chết bằng cách nào.
Võ sĩ vâng lời đè Bảo ra cạy miệng bẻ răng. Bảo máu me đầy miệng vẫn cười to mắng Gia Long rằng:
- Thằng tiểu nhân đê tiện kia, ta sẽ nín thở mà chết, xem thử ngươi có cản được ta chăng?
Nói xong Đặng Xuân Bảo trợn mắt nín hơi không thở nữa. Mặt Bảo vốn đã đỏ, giờ đỏ lên như máu. Giây sau Bảo ngã vật ra mà chết. Vua
Gia Long thất kinh than:
- Thật là một sự chết lạ xưa nay chưa từng thấy. Tướng Tây Sơn trung dũng hơn người. Nếu Cảnh Thịnh là một đấng minh quân e rằng ta khó mà phục quốc.
Đoạn vua Gia Long bảo:
- Mau truyền lệnh ta sai người đào mộ lấy cốt Nhạc Huệ, Lữ về cho ta trị tội.
Đặng Đức Siêu bước ra can:
- Tâu Bệ hạ. Việc ấy không nên.
Vua Gia Long hỏi:
- Vì sao lại không nên?
Siêu quỳ thưa:
- Tâu Bệ hạ, đành rằng Nhạc, Huệ có tội lớn với tiên vương, nhưng Nhạc, Huệ chết đã mười năm, vả lại lúc sinh thời cũng là vua một nước. Nếu Bệ hạ làm thế e rằng thiên hạ dị nghị ta quá cố chấp chăng?
Đang cơn giận vua Gia Long gắt:
- Anh em thằng buôn trầu giết hết cả nhà ta. Ta bao phen nếm mật nằm gai, lên rừng xuống bể, lênh đênh hải đảo, lưu vong nước người, trăm cay ngàn đắng. Nếu không đào mả lấy xương anh em nó làm tội sao thoả lòng oán hận của ta. Ý ta đã quyết, còn ai can ngăn, chém!
Đặng Đức Siêu sợ hãi lui ra. Vua Gia Long gọi giật:
- Đặng Đức Siêu!
Siêu giật mình đứng lại, Gia Long bảo:
- Khanh văn chương như nước chảy, hãy viết bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, chờ đến ngày làm tội vua tôi giặc Tây Sơn ta sẽ đem ra đọc cho mọi người cùng nghe.
Đặng Đức Siêu vâng lời bái tạ rồi lui ra.
Ít hôm sau, Nguyễn Văn Trương giải Cảnh Thịnh và Hoàng tộc Tây Sơn về đến, quân sĩ đem hài cốt ba anh em Tây Sơn là Nhạc, Huệ, Lữ về phục mệnh. Vua tôi Cảnh Thịnh quỳ trước linh vị các Chúa Nguyễn và bài vị Võ Tánh, Ngô Tùng Châu chịu tội. Vua Gia Long bảo Đặng Đức Siêu đọc bài văn tế.
Siêu quỳ trước bài vị Ngô, Võ đọc rằng:
Than ôi!
Đạo thần tử hết lòng thờ Chúa, gian nan từng trải dạ trung thành.
Đấng anh hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.
Ngọc dầu tan vẻ trắng nào phai.
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.
Nhớ hai người xưa:
Thao lược ấy tài,
Kinh luân là chí.
Phò vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn.
Vớt xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.
Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng cậy dạ khuông phò.
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng uỷ ký.
Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu.
Lễ bộ phen làm việc chánh khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.
Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu đà rải xuống ba quân.
Trong thành then khoá chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.
Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy.
Cõi Phú Xuân một trận khét oai trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.
Sửa áo mũ lạy về Bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can.
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí.
Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vây mà tìm đến quân vương.
Bởi rằng thương muôn mạng tỳ hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ấn tín xưa người bộ khúc thương tâm.
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.
Cơ đãng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót trướng doanh sao vắng mặt thân huân.
Phận truy tuỳ gang tất cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.
Nay gặp tiết thu,
Bày đàn uý tế.
Hai chữ cương thường gánh nặng, rõ cổn hoa cũng thoả chốn u minh.
Ngàn thu hoà nhạc khí thiêng, giúp mao việt để mớ nền bình trị.
Siêu đọc xong, các quan đều rưng rưng ngấn lệ.
Vua Gia Long ứa nước mắt nói:
- Ngô, Võ hai khanh!. Hãy xem ta trả thù cho hai khanh đây!
Đoạn vua chỉ vào ba cái sọ người rồi hỏi vua tôi Tây Sơn:
- Các ngươi có biết ba cái đầu lâu này là của ai chăng?
Cảnh Thịnh cũng ứa nước mắt đáp:
- Ấy là hài cốt các Tiên đế của ta.
Vua Gia Long bảo quân:
- Quân bay, đem ba cái đầu lâu của Nhạc, Huệ, Lữ lấy dây xích lại giam vào ngục, còn xương cốt đem nghiền nát bỏ vào lọ để trước cửa ngục làm đồ đựng nước tiểu cho quân sĩ.
Quân vâng lệnh mang ba bộ hài cốt đem đi. Cảnh Thịnh khóc theo:
- Hoàng bá, Phụ hoàng, Hoàng thúc ơi! Con thật là có tội với các Tiên đế!
Bùi Thị Xuân thấy cảnh ấy không dằn lòng được toan mở miệng mắng Gia Long. Trần Quang Diệu ngăn lại nói nhỏ:
- Vợ chồng ta ra hàng chịu nhục là để cứu mẹ. Nếu phu nhân mắng nó, nó giận giết mẹ ta thì sao?
Bùi Thị Xuân đành cắn răng ngậm miệng. Vua Gia Long thấy vợ chồng Diệu, Xuân nói nhỏ với nhau bèn hỏi:
- Trần Quang Diệu, giờ là lúc ta xử tội ngươi đây. Ngươi có điều gì cần nói chăng?
Diệu khấu đầu lạy rồi đáp:
- Tội của thần chết là đáng lắm. Mẹ thần nay đã ngoài tám mươi tuổi không thể làm hại cho xã tắc được. Xin Bệ hạ tha chết cho mẹ thần, thần dù tan xương nát thịt cũng muôn đội hoàng ân.
Vua Gia Long nhìn sang thấy Trần mẫu đã già nua lụ khụ bèn cười nói:
- Được! Ta mở lượng hiếu sinh tha cho mẹ ngươi được sống. Quân bay lôi Trần Quang Diệu xử lăng trì.
Nguyễn Văn Thành bước ra can:
- Lúc Trần Quang Diệu hạ thành Bình Định do hậu quân Võ Tánh trấn thủ, Diệu chẳng những không giết hại quân ta mà còn cấp cho ghe thuyền, lương thực cho quân ta về. Xin Bệ hạ giảm cho Diệu tội lăng trì.
Vua Gia Long suy nghĩ giây lâu rồi khoát tay bảo:
- Mang đi chém ngang lưng!
Trần mẫu nghe vậy vùng đứng lên giơ gậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Thằng tiểu nhân kia! Chém đầu cũng chết việc gì phải chém ngang lưng cho phơi gan lòi ruột. Ta quyết không vì thân già này mà để cho các con ta chịu nhục.
Nói xong Trần mẫu đập đầu vào bậc cấp mà chết. Ngoài sân đao phủ khai đao, Trần Quang Diệu đứt làm hai đoạn! Bùi Thị Xuân đau đớn hét lên một tiếng rồi khóc rằng:
- Mẹ ơi! Vợ chồng con ra nộp mạng là để cứu mẹ. Sao mẹ lại huỷ hoại thân mình như thế!
Bỗng Thị Xuân vùng đứng dậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Nay mẹ ta đã chết thì ta và ngươi vai vế ngang hàng. Ta nói cho ngươi biết, ngươi làm điều tàn bạo đào mộ các Tiên đế ta, dù ngươi là kẻ chiến thắng nhưng đời sau ai dám bảo ngươi là đấng anh hùng.
Vua Gia Long mỉm cười hỏi:
- Ngươi bảo ta không phải anh hùng, vậy ta hỏi ngươi, ta và Nguyễn Huệ ai hơn ai?
Xuân ung dung đáp:
- Tiên đế ta bốn lượt vào Nam, ba lần ra Bắc. Trong năm ngày đại phá ba mươi vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống cúi đầu cõng sang. Nội một đêm tiêu diệt năm vạn quân Tiêm La do chính ngươi muối mặt rước về. Xét về tài, Tiên đế ta như hùm còn ngươi như cẩu việc gì mà phải hỏi.
Vua Gia long giận tái mặt nhưng vẫn ôn tồn hỏi:
- Còn xét về đức ta và Nguyễn Huệ thế nào?
Bùi Thị Xuân hăng hái lưu loát đáp:
- Tiên đế ta bắt Nguyễn Đăng Trường rồi thả cho đi, bắt Nguyễn Huỳnh Đức dù không hàng được cũng không nỡ giết. Đập đổ hai nhà Trịnh, Nguyễn, đi đến đâu trăm họ đều cơm no áo ấm, nhân nghĩa sáng ngời. Còn ngươi rước ngoại bang về tàn hại lương dân, bắt tướng đối phương thì tru di tam tộc. Người chết đã mười năm ngươi còn đào mả lấy xương làm tội. Xét về đức Tiên đế ta như đêm trăng rằm còn ngươi như đêm ba mươi cần gì phải hỏi.
Bầm gan tím ruột, vua Gia Long gằn giọng:
- Ngươi dám nhục mạ ta, không sợ ta lột da xẻ thịt ư?
Xuân ung dung đáp:
- Lột da xẻ thịt cũng chết là cùng có gì phải sợ! Ta chỉ sợ rằng chết xuống âm phủ gặp Tiên đế ta hỏi ta hai tội. Tội thứ nhất không vâng lệnh mà giết chú ta là Bùi Đắc Tuyên. Tội thứ hai là ở cửa Hàm Luông tha cho thằng tiểu nhân Phúc Ánh.
Bùi Thị Xuân nói xong, các tướng Gia Miêu đều rút gươm khỏi vỏ. Vua Gia Long ngăn lại bảo:
- Giết nó sao thấy được gan nó. Ta có cách này xem nó to gan đến đâu.
Đoạn vua Gia Long bảo võ sĩ:
- Truyền đem con gái Bùi Thị Xuân ra cho voi giày trước mặt nó.
Bỗng một người từ ngoài chạy vào nói lớn:
- Xin Hoàng huynh hãy tha chết cho con gái Bùi Thị Xuân.
Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra là Quận Chúa Ngọc Du. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi Ngọc Du:
- Chồng nó là Trần Quang Diệu đánh thành Bình Định hại chết chồng em là Võ Tánh, sao em còn xin tha cho con gái của nó?
Quận Chúa Ngọc Du toan mở miệng, nhưng chợt nhớ ra điều gì bèn đến gần vua nói nhỏ:
- Ngày trước Bùi Thị Xuân tha cho ba mẹ con ta ở cửa Hàm Luông nên ta mới được như ngày nay. Xin Hoàng huynh nghĩ tình ấy mà tha cho con gái của Xuân.
Vua Gia Long lắc đầu đáp nhỏ với Ngọc Du:
- Ngày trước nó tha cho ta nên mất nước. Ngày nay ta lại bắt chước sự sai lầm của nó hay sao?
Đoạn quay sang bọn võ sĩ, vua vỗ án quát lớn:
- Nhổ cỏ tận gốc, giết rắn dập đầu. Quân bay mau đem con gái Bùi Thị Xuân ra hành hình!
Võ sĩ vâng lệnh, lập tức thi hành. Một con voi to lớn bước chậm rãi đến gần con gái Thị Xuân. Nàng ấy vừa mười bốn tuổi sợ hãi hét lên:
- Mẹ ơi cứu con!
Xuân nghiêm mặt quát:
- Con nhà tướng không được sợ chết! Con thà chết đi cùng cha mẹ còn hơn là sống với lũ tiểu nhân kia!
Xuân vừa dứt lời, voi đã dùng vòi quấn lấy con gái Xuân tung lên không. Khi nàng rơi xuống voi đưa cặp ngà ra hứng, ngà voi nhọn hoắt xuyên qua người, nàng quằn quại trên miệng voi mà chết. Voi lại cúi đầu vứt xác nàng xuống đất rồi dùng chân dày đạp lên.
Thương thay con gái Bùi Thị Xuân chết nát tan thi thể. Mọi người mục kích đều lè lưỡi lắc đầu mà rơi nước mắt!
Thế nhưng, có một người đáng ra phải khóc, mà không khóc. Đó là Bùi Thị Xuân! Xuân kéo lê xích chân đi đến gần con voi vừa hành hình con gái mình. Tên nài voi giục voi quấn Xuân. Voi vừa vươn vòi, Xuân vùng hét lên một tiếng, voi thất kinh co vòi quay đầu mà chạy.
Tên nài dùng búa đánh vào đầu voi bảo quay lại, voi vùng hất tên nài xuống đất rồi cắm cổ chạy ra khỏi pháp trường. Đội quân hành hình lại đưa voi khác vào thay, nhưng con nào cũng thế, khi đến gần nghe Xuân hét lên đều co vòi quay đầu chạy hết cả.
Tướng sĩ Gia Miêu tuy không hiểu vì lý do gì nhưng thấy vậy thảy đều khiếp đám. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi quần thần:
- Bùi Thị Xuân có tài gì mà có thể khuất phục được voi như thế?
Tả hữu có người biết chuyện thưa rằng: - Bùi Thị Xuân chuyên huấn luyện voi để lập đội tượng binh cho giặc Tây Sơn. Số voi này là của dịch do quân ta bắt được. Có lẽ nó nhận ra chủ cũ nên không dám làm hại chăng?
Vua Gia Long bảo:
- Nếu voi dày không được thì đem cho ngũ mã phanh thây. Nhất định phải cho nó chết không toàn thây!
Võ sĩ cột đầu và tứ chi của Bùi Thị Xuân vào năm con ngựa rồi bảo kỵ mã ra roi. Thương thay Bùi Thị Xuân! Đầu, mình, tay, chân mỗi phần một ngả!
Vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh thấy gia đình Diệu, Xuân bị hành hình xong biết đến lượt mình thì thất kinh hồn vía. Cảnh Thịnh vọt miệng nói:
- Trước khi chết xin cho mâm cơm lót dạ kẻo phải làm ma đói.
Vua Gia Long ôm bụng cười một hồi rồi bảo quân dọn mâm cho Cảnh Thịnh. Hoàng đệ Quang Bàn hỏi Cảnh Thịnh:
- Cớ sao Hoàng huynh lại xin cơm của giặc?
Cảnh Thịnh cúi đầu đáp:
- Không phải anh muốn ăn, nhưng để kéo dài thời gian sống được giờ nào hay giờ ấy.
Cơm dọn lên, võ sĩ cởi trói cho Cảnh Thịnh cùng hoàng tộc. Cảnh Thịnh ngồi vào bàn cầm đũa, Quang Bàn liệng chén quát:
- Chết thì chết, việc gì phải đi ăn cơm thừa của giặc!
Cảnh Thịnh vừa ăn vừa rơi nước mắt. Quang Bàn ngửa mặt lên trời kêu rằng:
- Phụ hoàng ơi! Nhà Tây Sơn ta đổ là phải lắm rồi. Chỉ tiếc cho công lao dựng nghiệp của Phụ hoàng mà thôi!
Nói xong Quang Bàn dùng chiếc đũa đâm mạnh vào lỗ tai mà chết. Vua Gia Long thất kinh nghĩ thầm: Con của Nguyễn Huệ đến thằng nhỏ này cũng khí khái anh hùng như vậy mà Quang Toản là người nối ngôi lại hèn hạ u mê. Ấy thật là trời giúp ta!
Cảnh Thịnh ăn xong, vua Gia Long truyền đem ra cho ngũ mã phanh thây.
° ° °
Làm tội vua tôi Tây Sơn xong, vua Gia Long lại hạ lệnh cho quân trấn thủ Bình Định lùng bắt bà con tông tộc của các tướng Tây Sơn đem làm tội. Vì việc ấy mà ở phủ Quy Nhơn người bị chém đầu lên đến hàng ngàn. Vua Gia Long lại hạ lệnh truy lùng tất cả sách vở dưới triều Quang Trung Nguyễn Huệ gom về đốt cả đi, và kẻ nào ghi chép bất cứ điều gì về nhà Tây Sơn phải bị tru di tam tộc.
Vua Gia Long bảo:
- Ta muốn từ nay về sau dân ta không được nói về giặc Tây Sơn và anh em thằng buôn trầu Nhạc, Huệ nữa.
Vua vừa dứt lời, xảy quân vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, quân ta vừa bắt được Lê Thái hậu vợ Quang Trung Nguyễn Huệ, xin giải về cho Bệ hạ xét xử.
Vua Gia Long hỏi:
- Ngọc Hân chết đã ba năm nay, có văn tế hẳn hoi thì làm gì còn Ngọc Hân nào đây nữa?
Quân đáp:
- Tâu Bệ hạ, các cung nữ hầu hạ trong Bắc cung dưới thời Nguyễn Huệ đều xác nhận người ấy là Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân.
Vua Gia Long lấy làm lạ bèn truyền cho vào. Quân đưa một thiếu phụ đến thi lễ dưới thềm. Vua Gia Long liếc nhìn, thiếu phụ cực kỳ diễm lệ. Lòng bồi hồi xúc động, vua Gia Long hỏi:
- Nàng kia! Nàng có phải là Ngọc Hân vợ Nguyễn Huệ không?
Nàng ấy đáp:
- Thưa tôi chính là Ngọc Hân công chúa nhà Lê, vợ Quang Trung Hoàng đế!
Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi:
- Ngọc Hân đã chết năm Kỷ Mùi (1799) có văn tế của Cảnh Thịnh rành rành. Sao ngươi dám mạo nhận Ngọc Hân công chúa.
- Nguyên chồng tôi là Quang Trung Hoàng đế định đến cuối thu năm Nhâm Tý (1792) sẽ đem quân vào Gia Định tiêu diệt Bệ hạ, rồi sẽ cất quân đánh Tàu đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là của nước ta. Chồng tôi có hỏi ý của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Phu tử bảo không có điều bình Nam, Bắc tiến. Đến khi chồng tôi băng hà tôi mới tin điều Phu tử nói là đúng, nên mới giả chết trốn đi. Chẳng ngờ nay lộ ra tông tích, tuỳ Bệ hạ muốn xử thế nào thì xử.
Vua Gia Long nhìn Ngọc Hân hồi lâu rồi bảo:
- Tuy nàng là vợ giặc Huệ tội đáng phải chết, nhưng nàng lại là công chúa nhà Lê, mà các tiên vương của ta trước cũng là tôi của vua Lê. Nghĩ tình ấy ta tha không giết.
Đoạn quay sang võ sĩ vua bảo:
- Truyền giam Ngọc Hân vào ngục, đối xử tử tế chờ xét sau.
Quân đưa Ngọc Hân đi rồi, Nguyễn Văn Thành hỏi:
- Bệ hạ định xử Ngọc Hân thế nào?
Vua Gia Long vui vẻ đáp:
- Ta sẽ tuyển nàng vào hậu cung.
Thành can:
- Bệ hạ là vua một nước thiếu gì cung phi mỹ nữ, cần gì phải lấy vợ thừa của giặc!
Vua Gia Long gạt đi bảo:
- Nước của nó ta còn lấy được, vợ của nó ta lại không lấy được hay sao?
Nói xong vua Gia Long lui về hậu cung rồi truyền đưa Ngọc Hân đến hầu. Đến nơi, biết ý vua Gia Long, Ngọc Hân mắng rằng:
- Ta là công chúa nhà Lê, lại là vợ Quang Trung đại đế. Nay ngươi muốn giết cứ giết, đời nào ta lại để thằng tiểu nhân như ngươi làm nhục hay sao!
Mắng rồi Ngọc Hân lao đầu vào tường mà chết.
Vua Gia Long sửng sốt một hồi, rồi gọi người tín cẩn nhất đến bảo:
- Ngươi mau đem xác Ngọc Hân bí mật chôn ở sau vườn thượng uyển, rồi ra ngoài thành phao câu ca như thế này… Nếu việc lộ ra lập tức mất đầu.
Người tín cẩn y lệnh thi hành.
Hôm sau khắp kinh thành ai nấy đều nghe lắm kẻ hát câu ca rằng:
Gái đâu có gái lạ lùng.
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.
Bá tánh già trẻ bàn tán với nhau:
- Ngọc Hân công chúa nhà Lê đã là Bắc cung Hoàng hậu dưới triều Quang Trung Hoàng đế. Nay dù bị bắt thì nên chết đi mới phải sao lại chịu nhục mà làm thiếp cho vua Gia Long thế. Thật xấu hố thay!
Thương thay Thái hậu Ngọc Hân đã chết thảm còn mang tiếng nhơ oan ức!
Xong việc ấy, Nguyễn Văn Trương lại đến tâu:
- Tướng quân Lê Văn Duyệt sai thần giải Cảnh Thịnh về kinh cho Bệ hạ trị tội và xin lệnh Bệ hạ xét xử các văn thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích sau theo giặc Tây Sơn phải tội như thế nào?
Vua Gia Long nhanh trí cười vui vẻ đáp liền: - Bọn họ trước là tôi thần của nhà Lê, mà ta đây rất quý nhà Lê. Vậy truyền tha tội chỉ đánh mỗi ngươi hai mươi trượng rồi đuổi về dân dã.
Nguyễn Văn Trương vâng lệnh lên đường ra Bắc. Ra ngoài thành, Trương nghe thiên hạ bàn tán rằng:
- Các tôi thần của Tây Sơn đều bị tru di tam tộc. Sao Gia Long lại tha tội chết cho bọn cựu thần nhà Lê là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích?
Kẻ khác lại bảo:
- Ấy là vì công chúa nhà Lê là Ngọc Hân đã về làm thiếp cho Gia Long, vì lấy lòng Lê Ngọc Hân nên vua mới tha chết cho bọn cựu thần nhà Lê đó.
Nói xong họ lại ca rằng:
Gái đâu có gái lạ lùng.
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.
Nguyễn Văn Trương vừa đi vừa nghĩ:
- Lê Ngọc Hân thật chẳng ra gì.
***
Chương 70
Ngô Thì Nhậm chết đòn vì đôi câu đối
Nguyễn Văn Thành bị giết bởi một bài thơ
Nói về Nguyễn Văn Trương đem lệnh của vua Gia Long ra Bắc Hà trao cho Lê Văn Duyệt. Duyệt liền bảo Đặng Trần Thường:
- Ngày mai ông theo lệnh vua bắt bọn tôi thần nhà Lê theo Nhạc, Huệ đánh mỗi người hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã.
Hôm sau Đặng Trần Thường sai quân giải các cựu thần nhà Lê ra nằm trước công đường chịu phạt trượng.
Đặng Trần Thường hỏi Ngô Thì Nhậm:
- Ngô huynh có thấy trời cao có mắt chăng?
Nhậm hỏi lại Thường:
- Thế nào là trời cao có mắt?
Thường đáp:
- Năm xưa cũng tại nơi này Nguyễn Huệ đánh tôi hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Ngày nay vua tôi lại đánh Ngô huynh hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Thế chẳng phải trời cao có mắt hay sao?
Nhậm đang nằm, ngẩng mặt lên bảo Thường:
- Năm xưa Chúa tôi đòi chém Đặng huynh. Nếu tôi không xin cho Đặng huynh thì đã mất đầu chứ đâu phải bị hai mươi roi mà thôi. Ơn không nhớ thời thôi, sao lại đem lòng kết oán?
Thường cười đáp:
- Nào tôi có đem lòng kết oán ông đâu. Nhưng người tài thường hay gặp nạn. Nay ông gặp nạn giống tôi ngày xưa, vậy tài tôi và ông ngang nhau vậy.
Nhậm nghe thế dằn lòng không được buột miệng nói:
- Tôi và Đặng huynh ngang tài nhau, nhưng chỉ có một mình tôi là biết được kế "Phạt thảo kinh xà" của Chúa tôi mà thôi.
Thường cười to hỏi:
- Vậy là ông vẫn tự cho rằng ông tài hơn tôi ư?
Nhậm giật mình đáp:
- Tôi không dám!
Thường nói tiếp:
- Tôi xin ra một vế đối, nếu ông đối được tôi mới phục rằng ông tài hơn tôi.
Nhậm mừng thầm nghĩ: "Nó ra vế đối, ta làm bộ không đối được ắt nó sẽ không cố tình làm tội ta". Nghĩ xong Nhậm nói:
- Xin Đặng huynh ra vế đối.
Thường ung dung đọc:
- Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai!
Nhậm nóng mắt đáp ngay:
- Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu, bởi thời thế, thế thì phải thế!
Nghe xong Thường lẳng lặng đến gần tên võ sĩ bảo:
- Lát nữa ta hạ lệnh đánh bọn này mỗi đứa hai mươi roi. Ngươi lãnh phần đánh Ngô Thì Nhậm, hãy đánh mạnh tay vào, nếu Ngô Thì Nhậm chết thì ngươi có thưởng.
Đến lúc thọ hình tên võ sĩ dùng hết sức mà đánh. Ngô Thì Nhậm đau đớn hét lên rằng:
- Đặng Trần Thường, hãy nhớ lấy lời ta. Ngươi hại ta chết, tất ngươi phải bị chết theo!
Nhậm hét xong thổ huyết mà chết.
Bá tánh thành Thăng Long biết tin ấy bàn với nhau rằng:
- Đã ra lệnh tha thời thôi lại còn bảo ngầm tay chân đánh chết danh sĩ Ngô Thì Nhậm. Vua Gia Long thật là người cố chấp.
Tin ấy bay về đến tai vua Gia Long ở Phú Xuân. Vua gọi Đặng Đức Siêu đến hỏi:
- Đặng Trần Thường vì thù riêng phạm vào thượng lệnh làm mang tiếng đến ta, phải xử thế nào?
Đặng Đức Siêu hỏi lại vua rằng:
- Dân Thăng Long ngỡ đấy là lệnh của Bệ hạ nên mới đem lòng oán Bệ hạ. Vậy muốn an lòng dân xứ Bắc phải làm như thế nào?
Vua Gia Long đáp:
- Phải xử tội Đặng Trần Thường ở Bắc Hà.
Đặng Đức Siêu lại bàn:
- Nhưng Tổng trấn Bắc thành là Lê Văn Duyệt cũng phải có phần trách nhiệm. Bệ hạ nên bố cáo trong dân triệu Lê Văn Duyệt về kinh trị tội và chém đầu Đặng Trần Thường thì mới an được lòng dân xứ Bắc.
Vua Gia Long bảo:
- Lê Văn Duyệt vô tội, lại là bậc khai quốc công thần sao lại vô cớ mà trị tội?
Siêu đáp:
- Ta bố cáo với dân chúng Bắc Hà như thế để an lòng bá tánh chứ nào trị tội Lê Văn Duyệt đâu mà Bệ hạ phải ngại?
Vua Gia Long lại nói:
- Vậy phải làm sao để khỏi gây bất bình cho Lê Văn Duyệt và các công thần?
Siêu đáp:
- Bệ hạ phong Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành, phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành là định yên xã tắc.
Vua Gia Long khen:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn.
Nói xong liền theo kế ấy thi hành.
Nguyễn Văn Thành lãnh lệnh bài ra làm tổng trấn Bắc thành, đem Đặng Trần Thường ra trước dân hành quyết. Lúc đao phủ khai đao, Thường ngửa mặt than rằng:
- Ngô Thì Nhậm thật đáng là bậc thầy của ta vậy!
Than dứt lời đầu lìa khỏi cổ.
Đặng Trần Thường bị chém và Lê Văn Duyệt bị đổi đi, dân Bắc Hà lại bàn với nhau rằng:
- Việc giết Ngô Thì Nhậm là do Đặng Trần Thường trả tư thù, đến nỗi Lê Văn Duyệt phải bị vạ lây. Vua Gia Long thật là công minh chính trực.
Vua Gia Long lại phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành. Các tướng khác đều được phong chức đi trẫm nhậm các phủ. Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình.
° ° °
Hai năm sau, tả hữu tâu với Vua Gia Long rằng:
- Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành được hai năm mà bốn cõi yên vui, vạn nhà no ấm. Ông ấy đi đến đâu nhân dân Bắc Hà đều ra khỏi nhà nghênh đón. Công đức của ông ấy thật là to lớn vậy.
Vua Gia Long liền viết chiếu chỉ sai sứ giả ra Bắc triệu Nguyễn Văn Thành hồi kinh. Về Phú Xuân gặp vua Gia Long, Thành quỳ tâu:
- Thần là Nguyễn Văn Thành, xin về phục mệnh.
Vua Gia Long bảo Nguyễn Văn Thành ngồi rồi bảo:
- Nay đất Bắc đã yên nên trẫm triệu khanh về giữ chức Trung quân tham mưu kề cận bên ta lo việc quốc gia. Khanh có vui lòng chăng?
Thành lạy đáp:
- Thần xin muôn đội hoàng ân!
Nguyễn Văn Thành về đến tư dinh gặp con mình là Nguyễn Văn Thuyên đang sửa soạn bút nghiên, Thành hỏi:
- Con đang làm gì đó?
Thuyên đáp:
- Con có hai người bạn là Nguyễn Đức Thuận và Nguyễn Văn Khuê ở Thanh Hoá, nổi tiếng văn hay. Con định viết một bài thơ đợi khi cha con ta về Bắc Hà đi ngang Thanh Hoá sẽ gửi thơ mời hai người ấy đến chơi.
Nghe Thuyên nói xong, Thành hỏi:
- Gia đình ta không phải về Thăng Long nữa.
Thuyên ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao thế thưa cha?
Thành kể lại sự việc vừa gặp vua xong, Thuyên nói:
- Vua là người đa nghi. Con e vua thấy cha lớn quyền xứ Bắc đâm nghi sợ, nên mới triệu cha về kinh, cha phải cẩn thận mới được.
Thành nạt liền:
- Vua biết ta một dạ trung quân, sao ngươi dám buông lời gièm xiểm? Về sau còn tái phạm ta quyết trị không tha.
Nói xong trong lòng bực bội, Thành bỏ vào phòng riêng. Còn lại một mình, Thuyên liền viết ngay một phong thư và gọi người hầu là Trương Hiệu đến dặn rằng:
- Ngươi hãy mang bức thư này đến Thanh Hoá trao cho hai bạn ta. Đây là bạc lộ phí, hãy kíp đi ngay.
Chẳng dè Hiệu là đứa ham rượu, sẵn bạc của Thuyên đưa làm lộ phí, Hiệu uống rượu say rồi vừa đi vừa lải nhải rằng:
- Ta đi mời nhân tài đến giúp nhau xoay đổi hội cơ này!
Ngờ đâu quân tín cẩn của vua nghe được lời ấy bắt lấy Hiệu, hỏi:
- Ngươi vừa nói lời phản nghịch là ý thế nào?
Hiệu hoảng sợ liền đưa lá thư của Thuyên và thưa:
- Lời tôi nói là ở trong thư này, nào phải tôi tự đặt ra.
Quan quân hỏi:
- Thư này của ai. Nói mau, phải chém.
Hiệu liền đáp:
- Của Nguyễn Văn Thuyên con quan Trung quân tham mưu Nguyễn Văn Thành.
Quân tín cẩn của vua không dám quyết bèn giải cả Hiệu lẫn thư đến gặp vua Gia Long. Vua đọc thư rằng:
Ái Châu nghe nói lắm người hay.
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn có.
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa ngàn dặm.
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.
Sơn tể phen này dù gặp gỡ.
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.
Xem xong, vua Gia Long vỗ án quát:
- Quả nhiên lời nói của loạn thần. Quân bay mau bắt hết cả nhà Nguyễn Văn Thành cho ta.
Quân đưa Thành đến quỳ dưới thềm. Thành lo sợ và ngạc nhiên hỏi:
- Tâu Bệ hạ thần có tội gì?
Vua cười gằn bảo:
- Ngươi toan mưu làm phản, lại còn vờ không biết tội ư?
Thành thất kinh kêu:
- Oan cho thần lắm. Xin Bệ hạ chớ nghe lời sàm tấu mà bắt tội oan cho thần.
Vua Gia Long liền quăng thư của Nguyễn Văn Thuyên ra cho Thành. Đọc xong Thành than:
- Thuyên ơi, con đã hại cha rồi!
Đoạn Thành khóc lạy thưa:
- Thư này là bút tích của con hạ thần tên Nguyễn Văn Thuyên. Nhưng nó chẳng qua là trẻ con nói ngông mà thôi, xin Bệ hạ xét lại mà tha tội cho thần một phen.
Vua Gia Long bảo:
- Tội hay không phải giao cho viện pháp ty xét xử.
Nói xong vua truyền bãi triều. Nguyễn Văn Thành chạy theo níu áo vua khóc lớn rằng:
- Thần theo Bệ hạ từ thuở nhỏ, lúc còn đang long đong dựng nghiệp. Nay thần vô tội Bệ hạ không xét giùm mà giao cho pháp ty xử thì thần tránh sao khỏi tội. Bệ hạ nỡ lòng nào thấy thần chết mà không cứu!
Vua Gia Long mặc Thành kêu khóc, cương quyết dứt áo mà đi. Các quan trong pháp ty thấy vậy bàn với nhau rằng:
- Ta nên xét tội Nguyễn Văn Thành thế nào?
- Vua giao cho bọn ta xét, tất muốn Thành phải chết. Vậy ta còn dám không tuân sao?
Luận tội xong, quan pháp ty dâng bản án lên vua. Vua Gia Long bảo:
- Pháp ty luận tội cha con Nguyễn Văn Thành phải chém. Nhưng ta nghĩ Thành là khai quốc công thần, vậy cho được tự xử.
Nói xong vua sai người vào ngục dâng cho Thành một giải lụa, một thanh gươm và một chén thuốc độc. Thành trông thấy ngửa mặt than:
- Thỏ non đã hết, chó săn phải chết. Thương thay Lê Văn Quân. Thương thay Lê Văn Quân!
Dứt lời, Thành bưng chén thuốc độc uống vào thổ huyết chết ngay.
Hay tin ấy Lê Chất than rằng:
- Đến Nguyễn Văn Thành mà còn như thế. Một tướng cũ Tây Sơn như ta nào có đáng gì, phải liệu mà giữ mình. Đối đãi với công thần thật không ai bằng vua Quang Trung vậy.
o o o
Từ ấy về sau đất nước thống nhất, bốn phương thiên hạ thái bình, không còn cảnh binh đao khói lửa. Việc thành bại là ở lòng trời. Kẻ có công, người có tội, ai anh hùng, ai tiểu nhân xin để người đời sau bình luận vậy!
Đời sau có người tên Nguyễn Trọng Trì quê ở Vân Sơn, An Nhơn, Bình Định hoài cảm giai đoạn lịch sử này có viết bài thơ rằng:
Loạn thế anh hùng sản xuất đa.
Bắc Nam dược mã dự huy qua.
Thập niên huyết chiến thành hà sự.
Không thính ngư tiều tuý tửu ca!.
Tạm dịch:
Loạn đời sinh lắm anh hùng.
Thanh gươm yên ngựa vẫy vùng Bắc Nam.
Mười năm máu đổ mây tuôn.
Người câu, hái củi ca buồn giọng say!.
Lê Đình Danh
Quy Nhơn, ngày 1-1-2003
No comments:
Post a Comment