Lê Đình Khẩn
Lê Đình Khẩn sinh năm 1942 tại Hà Tĩnh. Tiến sĩ Ngôn ngữ hoc. Từng giảng dạy tại Khoa Đông phương học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM. Ông đã nghỉ hưu và đang sống tại TP HCM. Sau đây là 3 truyện ngắn của ông trích từ tập "Nơi làng quê heo hút":
Tàn Dư Tư Bản
“Oan tui lắm tòa ơi!”
Gia đình vẻ vang
[1] Tàn Dư Tư Bản
Sau sự kiện Tháng Tư, 1975, tôi rời đất Bắc vào kiếm sống ở miền Nam ( Sài Gòn, Vĩnh Long).
Ở vùng đất mới này, có thời gian, tôi giống như một người nội trợ.
Đôi khi, tôi cảm thấy thú vị từ công việc chợ búa, mua bán này. Vì ở môi trường ấy, tôi biết thêm được nhiều thứ, về một xã hội tư bản cách đó chưa lâu , mà tôi chỉ biết qua sách báo xã hội chủ nghĩa miền Bắc từng mô tả..
Cái “văn hóa mua bán” của người miền Nam, khác người miền Bắc rất xa .
Sau năm 1975, ở miền Nam, tuy xã hội chủ nghĩa đã thay thế , nhưng “tàn dư chủ nghĩa tư bản”* vẫn còn “rơi rớt lại” rất nhiều. Câu nói: “Thuận mua vừa bán”, luôn thể hiện rất rõ . Người bán không nói thách quá, hay hét giá , để rồi người mua phải cò kè bớt một thêm hai .
Hồi đầu, lúc mua cái gì đó ở chợ, ở tiệm, tôi cũng thường bắt chước người miền Bắc, mặc cả (trả giá). Nhưng đều được người bán nhẹ nhàng trả lời : “Giá nhứt định”.Có người còn giải thích thêm là, giá mua vào bao nhiêu, chỉ lời được bao nhiêu, và mong khách hàng hiểu cho. Nghe rất sòng phẳng, thỏa đáng, dễ chấp nhận. Những tiểu thương buôn bán ở chợ, không hề trương lên những khẩu hiệu như là : “Vui lòng khách đến , vừa lòng khách đi”; hoặc: “Khách hàng là thượng đế” như trong các cửa hàng mậu dịch quốc doanh của nhà nước sau này.
Nhưng họ luôn tìm cách làm hài lòng người mua. Họ có vẻ rất hiểu về nguyên lý “cộng sinh” của vạn vật trên thế giới này. Nghĩa là “dựa vào nhau mà sống, đôi bên đều có lợi”.
Tôi còn nhớ, chỉ mới vài lần ra chợ mua đồ ăn thức uống, rau củ quả, mà những lần sau, tôi vừa xuất hiện, thì người bán hàng đã vồn vã, như là quen biết từ lâu rồi.
Những câu chào hỏi kiểu như là:
- “Hôm nay ‘cưng’ lấy mấy kí ( kilogam , kg, cân)?” Hoặc:
- “Lấy một chục như hôm qua hen ?” Hoặc:
- “ Cân loại chiên (rán) rồi , đặng về khỏi chiên nghe ! v.v..
Miệng họ vừa nói, tai vừa nghe , tay thì thoăn thoắt chọn lựa, cân, đong, đếm , bỏ vào bịch (túi) ni lông, buộc lại gọn gàng, đưa cho người mua , rồi tính tiền. ( khách đi rồi, còn dặn với theo : Hôm sau nhớ ghé ủng hộ nghe !)
Đôi khi người bán tự ý cho người mua, thêm một thứ gì đó , làm cho người mua cảm thấy vui. Chẳng hạn, mua bó rau thì cho thêm trái ớt , hay cọng hành, cọng ngò v.v..
Chính những câu hỏi , những hành vi ấy của người bán hàng đã giúp kéo người mua lại gần, tạo tinh thần hợp tác. Đồng thời ngầm ý khẳng định cuộc giao dịch, mua bán, nhất định phải được xảy ra !
Đấy là chưa kể đến cách phục vụ tận tình, và lời nói thân thiện của họ.
Tôi nghĩ, thì ra xã hội theo “cơ chế thị trường của tư bản” không phải mọi thứ đều xấu, như tôi từng được giáo dục trước đó.(mà dường như trái ngược).
Khi sống ở miền Bắc, vào những năm đầu thập niên bảy mươi, hàng tháng tôi phải đến các cửa hàng quốc doanh của nhà nước, xếp hàng mua lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, dầu hỏa v.v..
Việc mua bán, vào thời kỳ mà người ta quen gọi là “quan liêu bao cấp” ấy, diễn ra thật đáng khiếp sợ:
Cảnh chen lấn, tranh giành, chửi bới, xảy ra thường xuyên.
Khách hàng giống như một đám ăn mày đói khát, chầu chực để được phát chẩn bần, hoặc được bố thí..
Mua thịt nhưng người bán đưa cho da hoăc xương, mua gạo nhưng đưa cho ngô ( bắp) hoặc sắn (khoai mì) cũng phải chịu, nếu như không “móc ngoặc”* được với nhân viên bán hàng.
Những người “mậu dịch viên” ấy mới thật sự là thượng đế. Họ muốn quát mắng ai cũng được. Dù khách hàng là những người đáng tuổi cha mẹ ông bà của họ!
Vì miếng ăn mà phải nhẫn nhịn cho qua. Người mua không hề có lựa chọn.. Những nơi như thế là đất sống của “giai cấp” lưu manh, bọn móc túi, bọn “phe phẩy” *
Vì thế , thời kỳ đầu mới sống ở miền Nam, tôi thấy mọi thứ đều lạ lẫm. Không riêng tôi, mà bất kỳ ai đã từng sống ở miền Bắc XHCN, rồi vào Nam thì đều có cảm giác như vậy
Kể cả những trí thức từng du học ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu về cũng thế...
Có mấy em sinh viên lớp ngữ văn Đại học Cần Thơ, đã kể lại cho tôi nghe, câu chuyện về một “giáo sư thỉnh giảng” từ Hà Nội vào, nghe thật thương cảm .
Câu chuyện thế này: Thầy Nguyễn Xuân Khu, vốn là người từng du học Liên Xô, trở về làm giáo sư ngôn ngữ học, ở một trường đại học danh tiếng Hà Nội.
Sau năm 1975, chưa lâu, có lần thầy Khu được thỉnh giảng chuyên đề “phương pháp dạy ngôn ngữ” ở khoa ngữ văn Đại học Cần Thơ.
Thầy được bố trí ở trong một căn phòng, khu tập thể giảng viên. Suốt hơn một tháng trời, ngoài giờ giảng bài trên lớp, thầy chỉ đóng cửa lại ngồi trong phòng, không đi đâu cả.
Nhiều hôm sinh viên đến mời thầy đi uống cà phê , giao lưu cho khuây khỏa, vì sợ thầy xa gia đình nên buồn. Nhưng thầy đều từ chối. Sinh viên nghĩ rằng, các thầy ngoài Bắc vào hay giữ thể diện, ngại tiếp xúc với sinh viên, nên mới như thế!
Không ngờ, những ngày cuối, sắp kết thúc chuyên đề của thầy, các cô cậu sinh viên miền Nam mới hiểu được sự tình, khá bất ngờ.
Thì ra, thầy chỉ có một bộ quần áo mặc khi lên lớp, hoặc đi ra ngoài. Cho nên, hôm nào nghỉ ở nhà , thì cởi ra giặt, chờ nó khô, vì vậy không thể đi đâu được. Thầy nói ở ngoài đó (miền Bắc), giáo sư như thầy, được cấp phiếu mua năm mét vải, để mặc trong một năm.
Cho nên, các thầy cô giáo ngoài miền Bắc mặc quần áo vá lên lớp, là chuyện bình thường! ( Đợt này thầy không đem theo mấy bộ quần áo vá mà thầy thường mặc, vì sợ “mang tiếng” !)
Thầy còn kể, khi biết thầy sắp đi giảng trong miền Nam, vợ thầy dặn , lúc về nhớ mua vài cân (kg) đường, vài ba hộp sữa cho con. Vì nghe nói, trong Nam giá đường sữa rẻ, và hiện bán tự do , không cần tem phiếu.
Một hôm thầy ghé chợ Cần Thơ, đảo qua các hàng bán đường sữa, và thực phẩm chế biến, xem thử. Thầy đã bị choáng, trước cảnh tượng buôn bán tấp nập, và “hoành tráng” ở đấy.
Chỉ mới nhìn hàng mẫu thôi , thầy Khu đã thấy ngây ngất.! Cửa hàng mậu dịch quốc doanh của nhà nước ở ngoài Bắc, cũng chẳng được như thế. Có đến hàng mấy chục loại đường khác nhau. Mỗi loại đựng trong một cái thau bự chảng, đổ vun đầy lên, thành hình ngọn núi, trên “đỉnh núi” cắm một bảng tên loại và giá cả, để khách hàng tiện lựa chọn. Sữa hộp cũng đủ các loại, được chồng lên thành những “tòa tháp”, giá cả rõ ràng, khách hàng tùy ý chọn mua. Lần đó thầy lúng túng chẳng biết mua gì.
Chuyện đi chợ mua quà bất thành ấy của thầy, không biết sao, đã lọt vào mắt đám sinh viên mấy lớp thầy đang dạy. Nên họ đã bảo nhau nhanh chóng tổ chức liên hoan trước thời hạn để tiễn thầy.
Hôm ấy, lớp trưởng và một số bạn đại diện, khệ nệ mang quà đến, chất đầy cả bàn viết trong phòng thầy. Mươi ký đường cát trắng, dăm ký đường thốt nốt( Một đặc sản của người Khmer Nam Bộ, lấy từ tinh chất của hoa cây thốt nốt); mươi hộp sữa; một giỏ trái măng cụt (loại trái cây đắt tiền ,chỉ có ở miền Nam ) . một túi ni lông đựng sáu xấp vải, đủ may ba bộ đồ tây; cùng với một số cà vạt, và dây nịt ( thắt lưng) v.v..
Lớp trưởng và các thành viên khoanh tay, đứng phía bên này bàn, đối diện thầy, kính cẩn nói lời cảm ơn công lao giảng dạy của thầy trong thời gian qua..
Rồi thuyết minh giới thiệu những món quà “của ít lòng nhiều”, mong được thầy nhận cho.
Thầy cũng đứng dậy đáp lễ, vẻ đầy xúc động. Có vài âm thanh nhỏ, đứt đoạn, từ trong cổ họng thầy thốt ra :
- “Tôi….tôi….tôi…”
Rồi không nghe thầy nói gì nữa !
Mắt thầy rơm rớm !.
Có thể, đây là lần đầu tiên trong cuộc đời làm giáo chức của mình, thầy cảm nhận được lòng quý trọng, và sự quan tâm rất cụ thể. Cũng rất có thể , thầy bỗng nhớ đến những đứa học trò thân yêu của thầy ở ngoài Bắc, mà lòng thấy xót xa ! Chúng còn đói rách, thiếu thốn hơn thầy nhiều, nên dù muốn có chút quà để bày tỏ lòng thành kính đối với thầy, thì cũng không thể làm được !
Câu chuyện về giáo sư Khu, làm tôi nhớ đến một người rất nổi tiếng, cũng gặp tình huống tương tự. Đó là tác giả bài quốc ca Việt Nam và nhiều nhạc phẩm trữ tình bất hủ khác.
Bạn tôi kể lại, về nhạc sĩ Văn Cao, lần đó, thế này:
Vì nổi tiếng, cho nên sau năm 1975, có lần ông được người phụ trách câu lạc bộ một nhà văn hóa ở Sài Gòn, mời đến giao lưu, nhân dịp ông vào thăm người bà con .
Cụ thế là ông đến an tọa trên sân khấu, để người ta mua vé, vào chiêm ngưỡng cái dung nhan vô cùng khắc khổ của ông.
Thỉnh thoảng, ông cũng phải trả lời những câu hỏi của những người tò mò. Đại loại như:
- “Thưa bác, bác đã sáng tác bài ‘Tiến Quân Ca’ lúc bác bao nhiêu tuổi ạ ?” Hoặc:
-” Trong bài hát có câu ‘ Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước’. Máu đó, là bác muốn nói đến máu của ai ạ ? v.v..
Nghe nói , chẳng những Văn Cao có công lớn , làm ra bài quốc ca, mà ông còn trực tiếp cầm súng lục đi ám sát, thủ tiêu kẻ bị nghi là Việt gian phản bội, trong đội ngũ cách mạng, theo lệnh của lãnh đạo cộng sản nữa.
Tuy có công lớn; nhưng rồi ông bị xem như đã từng dính líu đến vụ án “Nhân văn-Giai phẩm chống đảng”, nên dường như không bao giờ được tiếp xúc với công chúng.
Lần này, cuối buổi giao lưu, cả hội trường đứng dậy, vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Các cô gái mặc áo dài, ôm hoa đến tặng. Người tổ chức nói lời cảm ơn chân thành, và gửi ông chiếc phong bì đựng tiền thù lao.
Ông đã sững người ra, và ... khóc!
Có lẽ đây là lần đầu tiên, người nhạc sĩ tài ba, đã cảm nhận được sự tôn vinh thật lòng, và cụ thể của đám đông công chúng !
Thì ra, “tàn dư tư bản” còn hàm nghĩa tốt, chứ không phải chỉ là nghĩa xấu, như tôi từng được học trong các giờ chính trị !
P/S:
-”Móc ngoặc” : Cách giao dịch lén lút , vụng trộm, đi đêm với nhau của kẻ có quyền thời đó.
- “Phe phẩy”: buôn gian bán lậu, cách kiếm sống của đám người thất nghiệp ở thành thị ,rất đông đúc thời ấy.
- “Tàn dư tư bản": những thứ xấu xa do xã hội tư bản để lại (cách nói của người cs cầm quyền).
***
[2] “Oan tui lắm tòa ơi!”
Khán là con gái một của ông Cựu Khê. Nhà Khán ở cạnh nhà thờ Thịnh Lạc Trung, gần sát trường học. Năm lớp hai tôi học chung lớp với Khán.
Thỉnh thoảng sau giờ dạy, anh rể tôi cũng là thầy dạy tôi, anh Giáo Ngụ hay ghé vào nhà Khán uống nước chè xanh, hút thuốc lào và nói chuyện với bố Khán. Những lần như thế, tôi cũng đi theo anh. Khán rất vui mừng đón tiếp. Có nhiều hôm Khán bưng lạc luộc hoặc mít chín ra mời anh em tôi.
Tôi gọi bố Khán là chú (họ xa). Mỗi lần gặp tôi, chú ít khi quên quan tâm hỏi han tôi, có lẽ vì tôi là cục cưng của bà Cửu Trinh, một người được chú luôn nể trọng. Nơi ở của gia đình chú sạch sẽ thoáng mát, gồm một ngôi nhà gỗ ba gian, vách phên nứa ngâm, lợp lá tro (lá cọ), một căn bếp nhỏ ghép thành hình thước thợ.
Nền nhà cao, xung quanh vườn có rất nhiều cây mít cổ thụ bám đầy quả. Tài sản không thấy có gì đáng giá. Cũng không thấy có người giúp việc (đứa ở). Hình như chú có một vài con trâu, người nhà tự trông coi.
Chú hiền lành, sống tao nhã, ngoan đạo, hay lui tới nhà xứ tiếp xúc với các cha, đặc biệt là cha xứ Phêrô Kiều. Chú thường đi guốc mộc làm bằng gỗ xốp thân cây dầu, hoặc dép ca rếp lê không có quai hậu, nghe tiếng “lẹp kẹp”. Chú có thói quen là hay hít mũi tạo thành tiếng gió “xịt xịt”.
Cải cách ruộng đất, nhiều người trong làng tôi bị bắt trói đem đi giam giữ, đánh đập, tra tấn, đấu tố rồi bắn chết, trong đó có chú Khê. Chú bị giết một cách rất thê thảm. Cái chết của chú đã tạo ấn tượng khủng khiếp khó phai mờ trong lòng người dân làng quê tôi trong suốt mấy chục năm qua.
Trong những ngày đáng khiếp sợ ấy, bọn trẻ chúng tôi không phải đến trường đi học, nhưng thường xuyên phải làm những việc do một đám người lớn sai khiến. Tối tối tập trung trước hội quán làng. Đốt đuốc, gõ mõ, cầm cờ, hô khẩu hiệu. Gọi là “đi cổ động”, “tuần hành” từ đầu làng đến cuối làng.
Chúng tôi chỉ việc gào theo người lớn ba từ ngữ: muôn năm, vùng lên, đả đảo. Muôn năm thì dành cho Hồ Chủ tịch, Mao Chủ tịch, Đảng Lao động Việt Nam; vùng lên thì dành cho nông dân; còn đả đảo thì dành cho địa chủ.
Cuối mỗi buổi, đứa nào gào to sẽ được nêu tên khen ngợi, gọi là “biểu dương”, trái lại đứa nào “thiếu nhiệt tình” thì sẽ bị phê bình. Vì thế, chúng tôi luôn phải theo dõi lẫn nhau, khá căng thẳng vì sợ bị đứa bên cạnh mách lẻo với người phụ trách.
Những đứa trẻ mười một mười hai tuổi có cha mẹ, chú bác là địa chủ như con Khán và tôi bị đặt vào tình thế thật bi đát.
Phải hô vang “muôn năm” những kẻ cầm đầu đã gieo rắc đau thương chết chóc và phá tan hạnh phúc gia đình mình và bao gia đình khác; rồi gào to lên “đả đảo” đấng sinh thành đã từng hết lòng thương yêu nuôi nấng dạy dỗ mình.
Nhưng sự giằng xé ấy cũng chưa thấm tháp gì so với việc phải ngồi tê hết cả chân suốt mấy tiếng đồng hồ liền để chứng kiến cảnh cha mẹ và người ruột thịt của mình chịu đánh đập, hành hạ, chửi bới, vu oan giá họa, làm nhục, thậm chí bị giết chết một cách tàn nhẫn!
Đêm nào đấu tố ai thì hô đích danh người đó lên mà “đả đảo”. Vì thế những người già cả ốm yếu nằm ở nhà cũng biết được đêm nay ngoài bãi đang đấu tố ai, nhờ nghe tiếng hô; và ai bị bắn chết nhờ nghe tiếng súng nổ từ lũy tre phía bờ sông vọng lại.
Bãi “xử án” là một bãi đất rộng, vốn trước đây là bãi trồng ngô (đượng ngô), gần bờ sông và cũng gần con đường cái. Mặt đường cái cao hơn mặt ruộng hai gang, nên người ta dùng mặt đường làm “sân khấu”, nối hai cái bàn lại để làm bàn “chủ tịch đoàn”.
Phía sau để bốn cái tréo (ghế tựa), trước bàn chủ tịch che một tấm lá cót dài đan bằng cật nứa, cao ngang mặt bàn. Trên mặt lá cót có một dòng chữ viết bằng vôi trắng, nét chữ xiêu vẹo: “Tòa án nhân dân đặc biệt xã Hiệp Phố”.
Cách bàn chủ tịch hai mét, đắp một mô đất cao khoảng nửa mét, bề mặt mô đất hình chữ nhật chiều dài một mét rưỡi song song với bàn chủ tịch, bề rộng khoảng nửa mét, đủ cho một người quỳ, một người đứng.
Đó là nơi các “khổ chủ ” thể hiện lòng căm thù giai cấp sâu sắc của mình. Cũng có thể xem đấy như cái sân khấu để diễn vở kịch đầy đau thương và thù hận mà đám người ngồi trên bàn “chủ tịch” là đạo diễn, những người còn lại vừa là diễn viên vừa là khán giả..
Bọn trẻ chúng tôi sau khi “đi cổ động” hết một vòng quanh làng, thì được xếp ngồi thành vòng cung phía trước mô đất, cách mô đất khoảng hai mét. Có đứa dùng luôn cái mõ làm bằng ống tre để làm ghế ngồi. Sau lưng chúng tôi là các “khổ chủ”. Mỗi lần chạy lên đấu tố, họ đều bước qua mặt bọn trẻ, hấp tấp, có khi giẫm đạp lên chúng tôi. Phía sau họ là đám người lố nhố kẻ đứng kẻ ngồi.
Khán vẫn ngồi cạnh tôi. Nó ngồi bệt xuống đất, co hai chân lên, hai tay ôm lấy đầu gối, rồi gục đầu lên đó. Mệt mỏi, rũ rời chờ đợi điều khủng khiếp sắp xẩy ra. Mặt hơi nghiêng về phía tôi, da tái mét, mắt đỏ ngầu, răng cắn chặt môi. Nó đang kìm nén cảm xúc để khỏi bật khóc thành tiếng. Thỉnh thoảng nó lại chạm bàn tay yếu ớt của nó vào tôi, và kêu vài tiếng như sắp đứt hơi:
- Eeng…ơi…!
Nó cầu cứu tôi. Thương đứa em họ bé bỏng quá nhưng chẳng biết làm sao để chia sẻ. Tôi rất hiểu tâm trạng của nó lúc này. Vì tôi đã từng phải ngồi chứng kiến bọn lâu la đấu tố bêu rếu mẹ tôi ngay ở cái mô đất này.
Cái chỗ mà tối hôm qua bố Khán bị trói hai tay giật cánh khuỷu ra sau, rồi quỳ xuống cho chúng tát vào má, chúng nhui vào trán, và nghe chúng xỉ vả. Hễ bị tát hoặc bị nhui ngã lăn xuống dưới mô đất, chúng lại túm dây thừng kéo lên chẳng khác gì kéo một con vật để giết thịt.
Đêm nay là đêm thứ hai cũng là đêm cuối chúng đưa bố Khán ra tiếp tục bêu rếu làm nhục trước khi bắn chết.
Từ bàn “chủ tịch đoàn” một người đàn ông to khỏe, khoảng hơn bốn chục tuổi, có khuôn mặt bặm trợn, đứng dậy. Đó là Đặng Hồng Tú, người chủ trì điều khiển các đêm đấu tố, cũng là thành viên quan trọng của “chủ tịch đoàn”.
Tú cầm cái ống loa gò bằng sắt tây dài chừng bốn gang tay người lớn, đưa cao lên, ghé đầu nhỏ vào sát miệng, còn đầu lớn thì chĩa về phía đám đông trên “bãi xử án”. Tú cố sức gào thật to:
-A lô a lô, đồng bào chú ý, đồng bào chú ý. Tòa án nhân dân đặc biệt xã Hiệp Phố tuyên bố: Buổi xét xử tội ác tên địa chủ phản động Phạm Kim Khê bắt đầu.
Rồi Tú quay sang ra lệnh áp giải chú Khê vào.
Khoảng mươi du kích dẫn chú Cựu Khê. Chú vẫn bị trói lật cánh gà hai tay về phía sau. Hai người hai bên xốc nách lôi chú đi, một người đi sau cầm đầu kia của sợi dây trói. Còn lại dăm người mang súng trường đi theo sau. Chú Khê bước rất khó khăn, vẻ đau đớn, đầu hơi gục xuống, mặt sưng lên bầm tím và biến dạng.
Khán vừa nhìn thấy cha mình trong tình cảnh ấy, theo phản xạ tự nhiên nó la lên một tiếng thật lớn và thảm thiết: “Thầy ơi…!”. Nhưng rồi kịp nhận ra sự nguy hiểm, nó lập tức đưa bàn tay lên bịt miệng lại, im bặt.
Nó úp mặt xuống đầu gối, đầu tóc xỏa ra phủ kín, toàn thân run cầm cập, nó phải dựa người vào tôi cho khỏi ngã xuống.
Tôi thấy trong lòng thật đau xót, cả sợ hãi nữa. Nhưng rồi một chút chí khí nam nhi trong người cậu bé thiếu niên đã giúp tôi phần nào trấn tĩnh lại được.
Chúng đẩy chú Khê lên mô đất rồi bắt quỳ xuống. Nhưng chú không còn quỳ thẳng người được nữa mà chỉ có thể ngồi lên trên hai gót chân. Một “khổ chủ” nhảy chồm lên mô đất, vẻ hung hăng, đứng trước mặt nạn nhân, chỉ tay vào ngực mình ngạo nghễ hỏi:
- Mi biết tau là ai khôông?
Không nghe tiếng trả lời, nó liền nhắc lại câu hỏi một lần nữa. Cũng không có tiếng trả lời. Thế là một cái tát như trời đánh vào mặt. Chú Khê “ự” một tiếng rồi ngã lăn xuống bên dưới mô đất.
Có lẽ vì đã kiệt sức nên chú Khê chỉ nằm chèo queo bất động không có phản ứng gì. Hai du kích xốc nách chú Khê dậy, đặt lên mô đất theo tư thế cũ. Nhưng bây giờ thì chú Khê không thể ngồi được nữa nếu không có hai người giữ hai bên. Một ít máu đỏ chảy ra từ mũi và miệng, đầu cử động một cách yếu ớt.
Trong buổi đấu tố tối hôm qua, tuy là người bị đấu nhưng chú Khê thường tích cực trả lời những câu hỏi thực ra không cần trả lời, tranh cãi những thứ mà chú bị đặt điều vu oan.
Ví dụ: “Mi biết tau là ai khôông?”. Đó là câu hỏi mà đứa nào lên đấu cũng nói như vậy cả. Quan thầy chúng dạy chúng như vậy. Chú lại nhanh nhảu trả lời: “Biết. Tui biết ôông là thằng Vạn Coòng đi ở dự tru (chăn trâu) cho nhà bà Cựu Cầm…”. Nó liền đánh tới tấp vào mặt chú.
Vì thế hôm nay có lẽ chú “rút kinh nghiệm” không trả lời nữa. Chúng càng hành hạ tàn nhẫn hơn. Những người bị đấu tố chỉ có quyền nghe những lời bịa đặt, vu vạ, “chặt cơn sốông trồồng cơn chết” (chặt cây sống trồng cây chết) mà đội đã dạy cho đám “khổ chủ”. Chẳng còn lẽ phải nào ở đây nữa cả.
Có lẽ muốn khỏa lấp hành vi dã man và thấp hèn, hoặc là để kích động tinh thần cho đám đông mê muội bị xúi giục, những kẻ ngồi trên bàn “chủ tịch đoàn” đều đứng dậy, vung nắm đấm lên cao và hô to “đả đảo, đả đảo, đả đảo”. Một số người hô theo, một số chỉ nắm tay vung lên một cách uể oải, vì sợ hãi mà không hô gì cả.
Một lúc sau, mấy người ngồi ở bàn “chủ tịch đoàn” ghé tai nói với nhau những điều gì đó, không ai nghe được, không ai biết được, chỉ thấy Đặng Hồng Tú lại cầm cái loa lên, gào rất to, giọng gay gắt sôi sục lòng căm thù. Anh ta nói rất nhiều về “tội” của chú Cựu Khê. Rồi thay mặt “Tòa án đặc biệt tuyên án tử hình”. Tú kéo dài hai chữ “tử… hình…”.
Tú vừa dứt lời thì tốp du kích hồi chiều nhào vô, đẩy chú Khê ngã nhào xuống rồi lôi về phía có một chiếc cọc đóng sẵn cạnh bụi tre. Lúc này người ta mới nghe tiếng kêu rên yếu ớt nhưng thật thảm thiết của chú:
-Oan… tui… lắm… tòa… ơi!…
Du kích trói chú Khê vào cái cọc. Tiếng kêu oan càng thảm thiết hơn. Và rồi, không ai nghe thấy tiếng kêu ấy nữa sau khi có mấy phát súng nổ vang xé trời trong đêm khuya. Đầu chú Khê gục xuống, chân khuỵu, máu đỏ trào ra từ trán, từ ngực, từ bụng…
Đó là một cảnh tượng không có gì man rợ và khủng khiếp hơn. Nhất là trước mắt những đứa trẻ như chúng tôi.
Lần đầu tiên trong đời, bọn trẻ làng tôi được dạy một bài học phi nhân tính bằng những hành vi rất cụ thể.
Khán bị ngất xỉu. Nó nằm xoài xuống bãi đất, toàn thân co giật. Rồi hình như có ai đó đã bấm huyệt hay xoa dầu gió cho nó. Nó tỉnh lại khi những kẻ giết người đã lục tục kéo nhau về hết. Đám đông quần chúng cũng chỉ còn lại một số ít.
Khán bật dậy gào khóc, luôn miệng gọi “Thầy ơi! thầy ơi!”. Rồi nó chạy đến chỗ có cái cọc và mấy sợi dây trói. Nó vật vã bên mô cát vùi xác cha mình, nó vốc nắm cát thấm những giọt máu cha đưa lên trước mặt rồi lại gào khóc.
Nước mắt của đứa con gái quện với máu của người cha trong cát bụi trần gian, nơi cái làng quê heo hút tưởng sẽ được mãi sống thanh bình này.
Nó bỗng nhớ đến người mẹ gầy yếu của mình cũng bị bắt buộc có mặt tại đây để chứng kiến cái chết tức tưởi của chồng bà, nó liền bật dậy, chạy như điên về phía đám đông, miệng gào lên :
-Mẹ… ơi…! Mẹ… ơi…!
Mự Khê, mẹ Khán đang nằm sõng soài trên bãi đất, vài người từ tâm đang xoa dầu cho mự. Khán lao vào ôm chầm lấy mẹ mà gào khóc thảm thiết như không còn ai xung quanh nữa cả.
***
Sau khi chú Khê bị giết, mẹ con Khán bị đuổi ra khỏi nhà, tài sản của chú dùng làm “quả thực” để thưởng công cho những kẻ có công đấu tố, vu oan giá họa, tạo nên cái chết oan nghiệt của chú. Nhưng kể cả bọn đầu trâu mặt ngựa cũng ngại vào ở trong căn nhà của chú Khê.
Cuối cùng một bà già đơn thân từng dạn dày sương gió cuộc đời, chịu chuyển đến ở. Kể từ sau khi chuyển đến ở nơi nhà cao cửa rộng này, dường như không có lúc nào bà thấy yên ổn trong lòng.
Bắt đầu là chuyện cái chậu than đêm đêm bà để dưới chõng để sưởi ấm, hễ bà hơi thiu thiu ngủ là nó nổ vỡ tan cả chậu. Chậu sành vỡ thì đã đành, bà ta thay bằng chậu gang nó cũng nổ tung tóe những hòn than đỏ rực khắp nền nhà.
Nhưng có một hiện tượng khiến bà già và những người sau này không ai dám ở trong ngôi nhà chú Cựu Khê.
Đó là, mỗi buổi tối sau khi đóng cửa chuẩn bị đi ngủ thì cứ nghe tiếng guốc “lẹp kẹp” và tiếng “xịt xịt ” mũi trước hiên nhà và trong gian phòng khách của chú Cựu Khê trước đây. Giống như chú Cựu Khê hiện về vậy.
Ghê sợ nhất là đêm hôm khuya khoắt nghe tiếng kêu ai oán từ trên nóc nhà vọng xuống: “O…a…n t…u…i l…ắ…m t…o…à ơ…i…!”. Đây là điều khó tin, nhưng những người qua trải nghiệm đều không ai trở lại ngôi nhà ấy nữa. Sau này người ta phải dỡ nhà ra đem bán cho người vùng khác.
Đủ biết dư âm tiếng kêu oan có sức vang vọng mạnh mẽ như thế nào, nó có thể vượt không gian, vượt thời gian rồi xuyên thấm vào tim óc và lương tri con người.
Tiếng kêu oan ấy sẽ vẫn mãi cất lên ở những nơi chế độ chính trị độc tài còn ngự trị.
***
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, thời gian tuy không nhiều lắm so với lịch sử phát triển của một dân tộc, nhưng cũng đủ để bọn người bất nhân có thể xóa nhòa đi tội ác do chúng gây ra.
Những người hàm oan đều đã chết, con cháu họ lo mải mê tìm kế sinh nhai nên nguôi ngoai dần, mọi việc rơi vào quên lãng.
Dường như chính tôi cũng đã cố quên đi cảnh tượng đau buồn về chú Cựu Khê và cô em họ đáng thương tên Khán từ lâu rồi. Tôi cũng phải tha phương học hành kiếm sống, phải bon chen để tồn tại.
Nhưng vào mùa hè năm 2012, tôi từ Sài Gòn về thăm quê, tình cờ biết được những chuyện bất ngờ. Người thanh niên trên ba chục tuổi mà lâu nay báo chí ca ngợi là người giàu nhất huyện Hương Khê, có chiếc xe hơi mấy chục tỷ, thuộc loại đắt tiền nhất nước Việt Nam là con trai nhà Khán.
Và cũng rất tình cờ khi đến thăm cha xứ thì gặp người Trưởng ban Hành giáo, trong câu chuyện qua lại ông ta cho biết là đang cùng với cha xứ lo tổ chức xây dựng nhà thờ mới mà con trai ông sẽ đóng góp một tỷ đồng.
Tôi thực sự bất ngờ, và cũng rất vui mừng khi biết người đàn ông đang hăng hái lo việc đạo ấy chính là chồng Khán. Tội nghiệp, nghe nói Khán đã chết lâu rồi, tôi không còn cơ hội gặp lại cô em họ đáng thương thời thơ ấu nữa.
Tôi bỗng suy nghĩ, phải chăng đã đến lúc Chúa nghe thấy tiếng kêu oan thảm thiết của chú Cựu Khê hơn sáu mươi năm trước….
***
[3] Gia đình vẻ vang
Thằng Thủy, nguyên là bạn học lớp năm với tôi (vào khoảng năm 1955-56). Nó bỏ học nửa chừng, vì bị bọn con cái giai cấp bần cố nông trêu chọc và làm nhục. Năm sắp mười tám tuổi, nhân một lần địa phương tuyển quân, nó giấu mẹ, lên ủy ban xin đi bộ đội. Nó muốn thoát khỏi cuộc sống tù túng buồn tẻ, thiếu thốn về mọi mặt. Nó bảo, vào bộ đội thì được ăn no, được phát quần áo, sống tập thể vui vẻ, và quan trọng nhất là mẹ nó sẽ trở thành “mẹ chiến sỹ”.
May cho nó là đúng vào dịp địa phương còn thiếu nhiều chỉ tiêu, nên nó tuy “thấp bé nhẹ cân” gầy còm, lý lịch lại xấu (con “một tên địa chủ gian ác”, bị tử hình trong Cải cách ruộng đất), thiếu tuổi, nhưng cũng vẫn trúng tuyển. Rồi nó được đưa ra vùng núi đá vôi tai mèo, thuộc tỉnh Ninh Bình để luyện tập. Hơn ba tháng sau nó quay về thăm và chào tạm biệt mẹ để “đi B” (tức là vào miền Nam đánh nhau – đó là cách nói để giữ bí mật quân sự, che giấu, tránh né dư luận thế giới sẽ lên án cộng sản Hà Nội vi phạm Hiệp định đình chiến Genève).
Nó mặc đồ bộ đội, vai mang ba lô, cái mặt có vẻ phinh phính, da đen sạm. Bước vào cửa nó liền cất tiếng chào mẹ. Phải mất một lúc sau bà Bộ Phong mới nhận ra con trai mình. Bà sờ nắn khắp người nó. Thủy khoe đã tăng được hơn năm cân (ký lô, theo cách gọi của người miền Bắc, hoặc “lô” theo cách gọi của người Hà Tĩnh). Nó lại còn nói đùa là mình được “vỗ béo” để chuẩn bị “xuất chuồng” (những từ ngữ nông dân chăn nuôi lợn ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa vẫn hay dùng).
Nó đem về cho mẹ một gói bột lương khô nén, một gói bột cá nén, do Trung Quốc cung cấp. Bà Bộ Phong nếm thử một chút lương khô rồi khen lấy khen để. Bà nói, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, lần đầu tiên bà mới được ăn một loại bánh kỳ lạ như vậy. Thằng Thủy kể rằng nó nghe người chỉ huy của nó nói, là khi ở trong rừng nếu lạc đường, không có lương thực, chỉ cần bẻ một mẩu lương khô nhỏ bằng ngón tay mà ăn, rồi múc nước dưới khe suối lên mà uống, là no suốt cả ngày.
Nó còn kể cho mẹ nghe những ngày tháng ở Ninh Bình, nó tập luyện vất vả ra sao. Nó kể, nó phải tập luyện mãi mới đeo nổi cái ba lô nặng ba mươi sáu lô, chống gậy, leo núi, tập hành quân hàng chục cây số mỗi ngày. Vừa đi vừa phải hát bài Chiếc gậy Trường Sơn cho đỡ mệt, và cho có “tinh thần lạc quan cách mạng”. Chính trị viên bảo thế. Hết mười ngày phép, nó chia tay mẹ trở ra đơn vị, để chính thức lên đường vào chiến trường.
Không ai ngờ rằng, đó là lần gặp mặt cuối cùng của hai mẹ con.
Sau khi đứa con trai duy nhất đi bộ đội, bà Bộ Phong một mình sống lầm lũi, cô quạnh trong túp lều tranh, suốt ngày cửa đóng then gài. Thỉnh thoảng bà mới đảo qua chợ Un bán bó chổi reèng reèng, để mua tí mắm muối. Bà gầy rộc đi trông thấy, lưng còng hẳn xuống.
Đã gần hai năm trôi qua, kể từ hôm Thủy về phép lần đầu, bà không hề có tin tức gì về con trai mình. Có lần bà nói với người hàng xóm, là nhiều đêm bà nằm mơ thấy thằng Thủy về, mà áo quần bê bết máu, nó còn nói với bà: “Mẹ ơi con lạnh lắm!”.
Rồi một hôm, người của ủy ban đem đến cho bà một tờ giấy khổ lớn, lồng trong khung giấy bóng cứng, có dòng chữ in đậm Bảng Gia đình Vẻ vang. Họ bảo bà phải treo lên chỗ nào trang trọng nhất trong nhà.
Bà nghĩ, sự “vẻ vang” là do thằng Thủy đem đến, mà thằng Thủy là con bà, do bà mang nặng đẻ đau, dứt ruột ra mà có, cực khổ trăm bề nuôi nó lớn lên, việc gì lại phải treo chỗ trang trọng. Vả lại, túp nhà lá lụp xụp của bà, làm gì có chỗ nào gọi là trang trọng đâu. Vì vậy, bà bỏ cái vật bọc giấy kính ấy xuống dưới chiếu, trên cái chõng bà vẫn nằm. Đêm đêm bà lấy ra, rồi ôm nó vào lòng mà ngủ, như vẫn ôm thằng Thủy thuở ấu thơ.
Sự lặng lẽ và vô tình của thời gian khiến ruột gan bà ngày càng như có muối xát. Lâu lâu bà lại chống gậy đi đến ủy ban, để hỏi thăm tin tức con trai. Lần nào bà cũng nhận được chỉ một câu nhàm chán: “Mẹ cứ về, yên tâm chờ đợi”.
Bà chờ đợi. Cứ chờ đợi mãi. Mỏi mòn theo năm cùng tháng tận. Bà giống như tàu lá chuối vàng úa trên cây chuối ở góc vườn. Chỉ cần vài trận gió lào từ sườn núi Trường Sơn thổi về cùng với nắng rát mùa hạ miền Trung, là khô héo mà gục ngay xuống.
Rồi điều bất hạnh khiến bà ngày đêm lo ậu sợ hãi trong suốt bao năm, cuối cùng cũng đã tới.
Một hôm, có người thương binh cụt cả hai tay, quê ở xã Phúc Đồng, nhờ người nhà dẫn đến gặp bà. Anh ta là đồng đội của Thủy, cùng nhập ngũ một đợt, cùng lên đường một ngày và cùng đơn vị đi B. Anh ta khẳng định chắc chắn rằng, Thủy đã bị thám báo địch bắn chết, ngay trên đường hành quân vào Nam, bỏ xác trong rừng sâu Trường Sơn, không kịp tới nơi. (Bà xót xa nhớ lại, thảo nào nó cứ về kêu “Mẹ ơi, con lạnh lắm!”).
Cái tin sét đánh đó đã khiến người đàn bà già nua, ốm yếu, bất hạnh ấy gục hẳn. Sau tiếng kêu “Trời ơi!” thống thiết, bà thả người xuống cái chõng mà vật vã, tay liên hồi đấm thình thịch vào ngực mình. Bà không khóc được nữa, nỗi đau thương đã chặn ngang cổ họng, chỉ nghe những tiếng rên não nuột, uất ức, thì thào: “Thủy… ơi, Thủy… ơi……!”.
Kể từ giờ phút ấy, không ai có thể giúp được gì cho bà nữa. Bà đã trở thành ngây dại, từ chối tất cả, thoát ly tất cả, đoạn tuyệt với con người và thế giới xung quanh.
Đêm hôm ấy sương mù dày đặc, trời giá lạnh. Về khuya, người ta nghe thấy tiếng con Mực gầy ốm của nhà bà cứ tru lên từng hồi từng hồi, thảm thiết và não nuột. Nghe âm thanh vừa giống tiếng những người thợ rừng hú gọi nhau khi lạc đường trong rừng sâu, giữa đêm khuya; vừa giống như tiếng rú gọi đàn của loài chó sói nơi hoang mạc.
Con Mực gắn bó với bà đến hàng chục năm rồi. Nó với bà như hình với bóng, bà xem nó như người bạn thân, có miếng ăn nào cũng chia sẻ. Bà thường nói chuyện với nó, như tâm sự với người thân. Ban ngày khi bà nằm nghỉ trên chõng thì nó nằm dưới chân, ban đêm dù trời nóng nực hay lạnh giá, nó đều nằm ngay thềm cửa để canh chừng, như một người lính gác đầy trách nhiệm.
Dạo thằng Thủy mới rời nhà vào bộ đội, đêm nào con Mực cũng đi vòng vòng quanh nhà. Nó ngửng mặt lên trời, vừa đi vừa tru lên như muốn gọi ai đó. Đến cả tuần lễ sau, bà Bộ Phong mất bao công sức dỗ dành, mãi nó mới chịu thôi.
(Con Mực vốn là một con chó con tội nghiệp, bị người ta vứt vào bụi cây bên con đường vắng khi mới lọt lòng mẹ, còn chưa mở mắt. Có lẽ mẹ nó sinh nhiều con quá mà nó thì lại èo ọt. May thay, hôm đó hai mẹ con bà Bộ Phong trên đường đi gánh củi về, nghe tiếng kêu rên yếu ớt của nó, họ đã đem về chăm sóc, như chăm một đứa trẻ sơ sinh. Bà cho nó uống nước cơm, có khi bỏ thêm vài giọt mật mía, cho nó dễ nuốt. Mực lớn dần lên, trở thành một thành viên không thể thiếu trong nhà. Ba sinh linh bất hạnh đều bị cuộc đời hắt hủi và xua đuổi, cứ quấn quýt nhau không rời, để tìm chút hơi ấm ở nhau).
Sáng hôm sau, khi chị hàng xóm vừa đến trước nhà, con Mực đã chạy nhanh ra đón. Nó không sủa mà chỉ ự ự trong họng, cái đuôi thì vẫy vẫy, rồi nó cứ cà mình cà cổ vào chân chị hàng xóm. Chốc chốc nó lại chạy trước mấy bước như dẫn đường. Linh tính báo cho chị hàng xóm biết có điều gì đó bất thường đã xảy ra. Chị bước vội, đẩy tấm phên che cửa ra, bước vào trong nhà.
Bếp lửa cạnh cái chõng mà thường ngày bà Bộ Phong vừa dùng để nấu nướng vừa dùng để sưởi ấm, giờ chỉ còn tro lạnh.
Trên chõng, bà nằm còng queo như một con tôm khô, tay ôm cái bảng Gia đình Vẻ vang, đầu và mặt phủ kín mít dưới tấm chăn chiên Nam Định cũ nát, lỗ chỗ nhiều miếng vá. Chị hàng xóm lay gọi nhiều lần, rồi chị giỡ tấm chăn ra. Bà đã bất động. Mặt hốc hác. Mắt vẫn mở. Nhưng bà không nghe, không thấy, không nói gì nữa. Bà đã chết thật rồi.
Bà chết vì quá buồn đau? Vì cảm lạnh? Hay vì chính bà không còn muốn sống nữa? Không ai biết đích xác. Chị hàng xóm đưa tay lên vuốt mắt cho bà.
Người ta nói với nhau là, nên mừng cho bà, vì từ nay bà được giải thoát khỏi gánh nặng trần gian. Gia đình bà sẽ được đoàn tụ ở một thế giới khác. Thực ra, cũng có nhiều người cứ băn khoăn, là không biết ở cái thế giới khác ấy, bà có còn chịu nỗi đau thương cực độ khi mà, chồng thì bị “cách mạng” giết chết một cách nhục nhã trong cuộc Cải cách ruộng đất, con trai thì lại bị kẻ thù của “cách mạng” bắn chết. Tức là cha con họ lại đối nghịch nhau!
Tội nghiệp. Không biết rồi người ta có chôn theo bà cái bảng Gia đình Vẻ vang không. Không biết cái thế giới mới mà bà sắp đến ấy, có chỗ trang trọng nào để cho bà tôn thờ sự vẻ vang mà bà từng được ban thưởng ở cõi trần gian này…
Căn lều tranh trở nên trống vắng, lạnh lẽo, con Mực chịu cảnh mồ côi. Đêm khuya nó lại tru lên những tiếng kêu sầu thảm. Chưa đầy một tuần sau ngày bà chủ qua đời, con Mực cũng nhịn đói nằm chết ở thềm nhà, nơi nó đã quen nằm, để trông nhà và bảo vệ bà chủ suốt nhiều năm.
Khoảng hơn sáu tháng sau ngày tang tóc ấy, các loại dây leo bìm bìm, cỏ dại, mối mọt, mưa gió… đã xóa sổ luôn mọi dấu vết, nơi từng tồn tại một gia đình ở chốn trần gian đầy đau khổ, nơi cái làng quê heo hút ấy của tôi…
(Rút từ tập tự truyện Nơi làng quê heo hút của Lê Đình Khẩn)
No comments:
Post a Comment