Sunday, 24 October 2021

Tây Sơn Bi Hùng Truyện (2)

Lê Đình Danh
Tây Sơn bi hùng truyện (2003)


[1] Nguyễn Huệ đại thắng quân Tiêm La (Xiêm)

[2] Quang Trung đại thắng quân Thanh

[3] Quang Trung mất, Gia Long trả thù


 

Chương 48

Nói về vua Lê Chiêu Thống bỏ thành Thăng Long chạy về Kinh Bắc rồi trốn lên vùng rừng núi Lạng Sơn. Vua Chiêu Thống sai bọn thị thần Lê Quýnh và Trần Danh Án sang cầu viện vua Càn Long nhà Thanh.
Lê Quýnh và Trần Danh Án ra mắt Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị. Lê Quýnh tâu:
- Nhà Lê của hạ thần làm vua ở nước An Nam đã ba trăm năm nay. Vua nào lên trị vì cũng đều sai sứ sang thiên quốc xin phong. Nay vua của hạ thần bị giặc Tây Sơn đánh đuổi phải trốn lên chốn rừng sâu nước độc, nếm mật nằm gai. Vua sai bọn hạ thần lội suối băng rừng tìm đến thiên quốc dập đầu dưới trướng cầu xin thiên quốc đem binh sang giúp đuổi giặc Tây Sơn đưa vua hạ thần về nước thì ơn ấy tạc dạ ghi lòng ngàn năm giữ phận con dân, trọn đời triều cống. Xin đại quan đoái thương tâu lên cùng Thiên tử.
Nói xong Quýnh và Án cùng dập đầu gào khóc.

Tôn Sĩ Nghị mân mê tóc đuôi sam bảo với sứ vua Lê:
- Hai ngươi hãy ra nghỉ ngoài công quán, ta sẽ cố sức tâu xin, thế nào Hoàng thượng cũng chuẩn y.
Lê Quýnh và Trần Công Án cả mừng lạy tạ lui ra. Còn lại một mình, Tôn Sĩ Nghị hất mạnh đuôi tóc ra sau lưng nói lớn:
- Ta mượn cớ giúp vua Lê tâu xin Hoàng thượng đem quân chiếm nước An Nam là lập nên đại công vậy.
Đoạn Tôn Sĩ Nghị viết biểu sai người về kinh dâng lên vua Càn Long. Vua Thanh bèn phong Tôn Sĩ Nghị làm Tiết Chế điều binh bốn tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Đông và Quảng Tây tổng cộng được ba mươi vạn quân sang đánh nước An Nam.
Tôn Sĩ Nghị hớn hở bảo các tướng:
- Nay ta tuân lệnh vua đem đại binh ba mươi vạn sang đánh An Nam. Các ngươi hãy cùng ta cố sức lập công lớn trả ơn vua lưu danh hậu thế.
Các tướng đồng thanh thưa:
- Xin Tiết Chế xuống lệnh, chúng tôi thề cố sức lập công.
Tôn Sĩ Nghị truyền:
- Ô Đại Kinh đem sáu vạn quân theo đường Tuyên Quang tiến xuống, Sầm Nghi Đống đem sáu vạn quân theo đường Cao Bằng tiến sang, ta sẽ đem mười tám vạn quân đi đường Lạng Sơn. Cả ba đạo cùng tiến sang làm cỏ nước Nam, hẹn gặp tại Thăng Long kinh đô của chúng.
Ô Đại Kinh và Sầm Nghi Đống bước ra lãnh lệnh. Tôn Sĩ Nghị lại truyền:
- Nay ta phong Trương Triều Long làm tiên phong đem năm vạn quân đi trước mở đường. Ta cùng Tả dực phó tướng Thượng Duy Thăng cùng đại binh đi sau tiếp ứng. Truyền lệnh ta, quân các đạo lập tức xuất binh.
Tháng 10 năm Mậu Thân (1788) quân Thanh chia làm ba mũi, tiến vào An Nam.


***
Chương 49

Ngô Thì Nhậm khuyên tướng lui quân
Phan Văn Lân một mình chặn giặc

Tin quân Thanh kéo quân đến ải Nam Quan bay về tới Thăng Long. Ngô Thì Nhậm hay tin ấy nhủ thầm: Trước khi về Phú Xuân, Chúa công có trao cho ta một lá thư và dặn rằng khi nào quân Thanh sang đánh mới được mở ra xem, sẽ có kế chống giặc. Vậy ta mau xem thử trong thư ấy nói gì.

Nghĩ xong làm liền. Thư viết rằng:
Khi quân Thanh sang đánh, khanh nên khuyên Ngô Văn Sở bỏ Bắc Hà rút bộ binh về giữ ải Tam Điệp, đem thủy binh đóng tại cửa biển Biện Sơn, làm kế "không thành" trên toàn cõi Bắc Hà rồi ta sẽ có cách vây đánh chúng. Còn việc thuyết cho Ngô Văn Sở nghe theo, ta nghĩ rằng khanh thừa sức để làm việc đó!
Đọc thư xong Ngô Thì Nhậm lại nghĩ thầm:
- Sao Chúa công không lệnh cho Ngô Văn Sở làm theo kế ấy mà phải bảo ta thuyết Ngô Văn Sở. Ấy là Chúa công muốn ta lập công với Văn Sở, Văn Lân, Văn Tuyết đây mà. Chúa công thật là chu đáo, ta dù phơi gan trải mật cũng quyết đáp đền ơn tri ngộ của Chúa công.
Nghĩ xong ngoảnh về Nam lạy ba lạy. Bỗng quân vào báo:
- Đại tư mã Ngô Văn Sở mời tiên sinh sang trướng phủ bàn việc quốc gia.
Ngô Thì Nhậm liền vội vã đi ngay. Đông đủ văn thần võ tướng, Ngô Văn Sở lo lắng nói:
- Chúa công giao cho bọn ta được trọn quyền điều xử mọi việc ở Bắc Hà. Nay quân Thanh mượn cớ phò vua Lê xua binh ba mươi vạn sang xâm lược nước ta. Vậy theo ý các ông ta nên tiến thủ thế nào?
Nguyễn Văn Tuyết bàn:
- Bọn ta là võ tướng hễ giặc đến thì đánh. Nay chúng kéo binh bằng ba đường xâm lược nước ta. Vậy ta phải chia quân làm ba đạo lên biên cương ngăn giặc.
Ngô Văn Sở lắc đầu bảo:
- Đánh giặc tất là phải đánh, nhưng chia quân làm ba đạo là việc không nên.
Tuyết vểnh râu hỏi:
- Vì sao không nên.
Văn Sở đáp:
- Quân ta ở Bắc Hà chỉ non hai vạn, nếu đem ra biên cương sao ngăn được ba mươi vạn quân địch.
Tuyết lại hỏi:
- Theo ý ông ta phải đánh thế nào?
Sở đáp:
- Giặc chia quân làm ba đạo tiến theo đường Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Nhưng ba đường này đều gặp nhau ở bờ Bắc sông Như Nguyệt mới đến được Thăng Long. Từ ngàn xưa đến nay ông cha ta đều dựa vào sông Như Nguyệt này làm hào chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Bài thơ do Lý Thường Kiệt làm ra giả là của thần để kích động tinh thần chiến đấu của quân sĩ rằng:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
cũng ở sông Như Nguyệt này đấy. Vậy ta nên lệnh toàn quân các trấn lui về cố thủ ở bờ Nam sông Như Nguyệt rồi cấp báo cho Chúa công đem đại binh ra đánh, đó mới là thượng sách.
Ngô Thì Nhậm khen Ngô Văn Sở:
- Ngô tướng quân đã có tài thao lược, thông kinh sử rành văn thơ thật là văn võ toàn tài. Nhưng theo tôi kế của tướng quân chưa phải là thượng sách.
Ngô Văn Sở nghi ngại hỏi:
- Theo Ngô mưu sĩ thế nào mới là thượng sách.
Ngô Thì Nhậm đáp:
- Ta nên bảo toàn lực lượng rút toàn quân về núi Tam Điệp, thủy binh về đóng tại cửa biển Biện Sơn, bỏ Bắc Hà và thành Thăng Long cho giặc. Đó mới là thượng sách.
Phan Văn Lân nãy giờ chưa bàn định gì, nghe Ngô Thì Nhậm nói xong Lân xen vào hỏi:
- Giặc đến chưa đánh đã lui, ngộ nhỡ Chúa công bắt tội bỏ đất cho giặc thì biết ăn nói thế nào. Tôi tuy bất tài cũng xin lãnh binh đến bờ Nam sông Như Nguyệt chặn giặc. Xin Ngô huynh thuận cho.
Văn Sở bảo:
- Văn Lân đừng nóng nảy, cứ để Ngô mưu sĩ nói hết ý xem sao.
Ngô Thì Nhậm giở bản đồ ra nói:
- Trong binh pháp giặc đến thì đánh, đánh không được thì giữ. Nay giặc đông ta ít, vả lại người Bắc Hà lắm kẻ còn trung quân mù quáng vẫn tin rằng nhà Thanh đem quân sang giúp Lê Chiêu Thống. Bởi vậy nên bấy lâu quân sĩ ta có người nào đơn độc đi vào đồng nội rừng hoang đều bị bọn người này giết chết. Quân ít, lòng dân không theo, đánh tất phải thua. Đánh không được còn giữ thì thế nào? Sông Như Nguyệt tuy sâu nhưng thành Thăng Long trống trải. Nếu ta đem quân chặn giặc ở bờ Nam sông Như Nguyệt ngộ nhỡ quân Thanh đem thủy binh vào cửa Lục Đầu hoặc cửa Đại An theo sông Nhị Hà đánh chiếm Thăng Long thì quân ta ở sông Như Nguyệt tiến thoái lưỡng nan phải làm thế nào.

Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Nguyễn Văn Tuyết chưa biết trả lời sao, Ngô Thì Nhậm liền nói tiếp:
- Chúa công còn ở tận Phú Xuân đường xa hàng vạn dặm mà quân Thanh ngấp nghé ải Nam Quan. Nước xa không cứu được lửa gần, đánh không được mà giữ cũng không xong, chi bằng ta rút binh lui về ải Tam Điệp. Đây là đường độc đạo muốn ra Bắc vào Nam đều phải qua ải này. Ta dựa vào thế núi hiểm trở chống giặc dù chúng có thiên binh vạn mã cũng chẳng hề chi. Trong có thể khích được lòng quân sĩ, ngoài có thể khiến giặc kiêu căng mà không phòng bị, đợi Chúa công kéo đại binh ra ta sẽ đuổi chúng đi. Ấy là kế "không thành" trên toàn cõi Bắc Hà, xem như ta cho chúng ngủ trọ một đêm nào có hại gì. Nếu Chúa công bắt tội, Ngô Thì Nhậm tôi xin chịu, các vị chớ lo.
Ngô Văn Sở trầm ngâm nói:
- Chúa công bắt tội cả bọn ta cùng chịu sao đổ lỗi một mình ông. Nhưng cách này mới là thượng sách. Vậy phiền Ngô mưu sĩ mau thảo một lá thư giảng hòa, tôi sai người tâm phúc đem dâng Tôn Sĩ Nghị làm kế hoãn binh để ta có đủ thời gian gọi quân các trấn lui về hội tại Thăng Long.
Ngô Thì Nhậm nghe lời lập tức thảo thư. Ngô Văn Sở lại gọi quân đến bảo:
- Hãy đem lệnh bài của ta đến gọi các quan trấn thủ phải kíp lui binh về Thăng Long. Trên đường rút có dừng quân nấu ăn rồi phải xóa ngay mọi dấu vết và vãi gạo sống đầy đường. Ai sai lệnh chém đầu.
Phan Văn Lân đứng lên nói:
- Tôi xin đem một ngàn tinh binh đến sông Như Nguyệt chặn giặc.
Nguyễn Văn Tuyết vội can Lân:
- Đại tư mã vừa hạ lệnh rút binh, ai sai lệnh chém đầu. Sao Văn Lân còn xin đi đánh giặc.
Lân đáp:
- Ấy là tôi làm theo lệnh rút quân của Đại tư mã Ngô Văn Sở đó chứ.
Tuyết ngạc nhiên hỏi:
- Văn Lân nói vậy là ý thế nào.
Lân đáp:
- Quân các trấn ở Bắc Hà muốn rút về Nam đều phải về hội tại Thăng Long. Nếu ta không ngăn giặc ở bờ Nam sông Như Nguyệt để quân Thanh tiến đến Thăng Long ắt quân ta ở các trấn không còn đường rút. Nay tôi xin đem quân chặn giặc cho quân ta ở các trấn kịp lui về . Ấy chẳng phải là làm theo lệnh của Đại tư mã Ngô Văn Sở ư.
Ngô Văn Sở nói:
- Phan đệ muốn đánh giặc Thanh và đã tìm được một lý do rất là chính đáng. Nhưng chỉ xin ngàn quân sao ngăn được giặc?
Lân đáp:
- Quân cốt giỏi chớ chẳng cốt nhiều. Nếu quân Thanh đến được Thăng Long trước quân các trấn của ta rút binh về, Văn Lân tôi xin chịu mất đầu theo tướng lệnh.
Văn Sở bảo:
- Vậy Phan đệ hãy đi đi. Khi có tin báo quân ta đã lui kịp thì phải lập tức rút ngay.
Phan Văn Lân mừng rỡ lãnh lệnh mà đi.


° ° °

Nói về Tôn Sĩ Nghị đem đại binh đến ải Nam Quan gặp lúc tối trời liền dừng quân đóng trại. Chợt quân vào báo có sứ giả Tây Sơn đến xin ra mắt. Tôn Sĩ Nghị liền cho vào hỏi:
- Nguyễn Huệ sai ngươi đến đây có việc gì?
Sứ giả đáp:
- Chúa công tôi xin Đại tướng quân hãy rút binh về tránh cho hai nước khỏi nạn can qua. Chúa tôi xin lui quân về đất Tây Sơn, trả nước cho vua Lê. Đây là thư Chúa tôi viết, trình đại tướng quân duyệt lãm.
Tôn Sĩ Nghị cầm thư đắc ý cười lớn:
- Ta nghe người nước Nam ca tụng Nguyễn Huệ dùng binh như thần. Sao mới nghe tiếng ta đã mất mật xin giảng hòa. Phen này ta quyết bắt anh em thằng buôn trầu Nhạc - Huệ trị tội dám dấy loạn giết chúa đuổi vua thì cần gì phải xem thư Nguyễn Huệ.
Nói xong Nghị xé toạc thư quăng xuống đất rồi thét võ sĩ lôi sứ Tây Sơn ra chém tức thì. Lê Quýnh và Trần Danh Án là hai sứ thần của vua Lê Chiêu Thống thấy vậy quỳ tâu:
- Đại tướng quân thật là uy vũ anh minh.
Bỗng quân vào báo rằng:
- Thưa đại tướng quân, vua An Nam là Lê Chiêu Thống xin vào ra mắt.
Tôn Sĩ Nghị liền mời vào. Chiêu Thống vào đến, Lê Quýnh và Trần Danh Án cùng quỳ thi lễ rồi vua tôi ôm nhau ứa lệ. Vua Chiêu Thống nói:
- Nhờ hai khanh lội suối trèo đèo sang thiên quốc cầu viện nên đại tướng quân mới đem binh sang giúp. Phen này ắt là đuổi được giặc mạnh Tây Sơn phục hồi nước cũ của Tiên đế.
Chiêu Thống nói xong, Tôn Sĩ Nghị cười lớn mấy hồi. Chiêu Thống ngạc nhiên hỏi:
- Đại tướng quân cười gì mãi thế.
Tôn Sĩ Nghị vừa cười vừa nói:
- Vua tôi các ngươi thật là bất tài nên mới cho Nguyễn Huệ là anh hùng, quân Tây Sơn là giặc mạnh. Đối với ta, chúng chỉ là loài chim chuột mà thôi. Vừa nghe quân ta tới ải Nam Quan, Nguyễn Huệ đã vội sai sứ đến cầu hòa. Ta vừa chém đầu sứ giả của Nguyễn Huệ đó!
Đoạn Nghị quay lại bảo quân:
- Truyền lệnh ta lập tức xuất binh đưa Tân vương về nơi cố quốc.

Quân Thanh tiến liền một mạch đến bờ Bắc sông Như Nguyệt. Nhìn sang bờ Nam thấy đồn lũy quân Tây Sơn canh phòng cẩn mật, Tôn Sĩ Nghị cười bảo:
- Từ ải Nam Quan đến đây, quân Tây Sơn sợ chạy vắt giò lên cổ không dám dừng quân nấu ăn. Chúng lợi dụng sông Như Nguyệt vừa rộng vừa sâu lại là cửa ngõ của thành Thăng Long nên đóng quân ngăn binh thiên triều. Vậy ta hãy tạm nghỉ ngơi chờ hai đạo quân của Sầm Nghi Đống và Ô Đại Kinh đến rồi cùng tiến đánh Thăng Long.
Lê Chiêu Thống ngạc nhiên hỏi:
- Quân Tây Sơn nghe tiếng thiên binh đến đã sợ mà chạy về đây. Nhưng từ biên giới đến đây hết năm, bảy ngày đường chẳng lẽ chúng nhịn đói hay sao mà đại tướng quân bảo chúng không dám dừng quân nấu ăn.
Tôn Sĩ Nghị cười đáp:
- Bệ hạ còn nhỏ không rành binh pháp nên không biết đấy thôi. Trên đường tiến quân ta không thấy bếp lò của giặc mà chỉ thấy gạo rơi vãi đầy đường. Ấy là chúng không dám dừng quân nấu ăn, phải nhai gạo sống mà chạy đó.
Chiêu Thống vỡ lẽ tấm tắc khen:
- Đại tướng quân liệu việc như thần. Quân Tây Sơn quả nhiên sợ uy danh đại tướng quân như sợ cọp. Không biết Sầm Nghi Đống và Ô Đại Kinh có biết việc này mà tiến binh cho nhanh chăng?


° ° °

Nói về Sầm Nghi Đống dẫn quân theo đường Cao Bằng tiến sang nước Nam mà không gặp một sự kháng cự nào. Sầm Nghi Đống bảo quân:
- Chúng bay dò xem trên đường rút chạy, giặc dừng quân nấu nướng ở đâu rồi báo cho ta hay.
Quân đi một hồi quay lại báo:
- Thưa tướng quân, chúng tôi chia quân lùng sục khắp nơi mà không thấy bếp lò nấu ăn của giặc.
Sầm Nghi Đống vừa ôm bụng vừa ngửa mặt lên trời cười lớn mấy hồi. Tả hữu ngạc nhiên hỏi :
- Tướng quân cười gì mãi thế ?
Đống nín cười đáp:
- Trên đường tiến quân ta thấy giặc Tây Sơn để gạo rơi vãi đầy đường, giờ nghe báo không thấy bếp lò nấu ăn của giặc. Ta cười vì nghe quân ta đến đây, giặc Tây Sơn sợ đến nỗi không dám dừng quân nấu ăn phải nhai gạo sống mà chạy. Thật xưa nay chưa từng thấy oai nào lớn như vậy.
Đoạn Sầm Nghi Đống truyền quân thẳng tiến. Đến bờ Bắc sông Như Nguyệt gặp quân Tôn Sĩ Nghị. Nghị họp các tướng nói:
- Nếu ngày nay quân Ô Đại Kinh chưa đến kịp, ngày mai quân ta vẫn tiến đánh Thăng Long.

° ° °

Nói về Ô Đại Kinh dẫn quân theo đường Tuyên Quang tiến vào nước Nam. Trên đường tiến quân thấy gạo rơi vãi khắp nơi, Ô Đại Kinh nghĩ thầm rằng:
- Xưa nay người Nam nước nhỏ ít quân nên giỏi đánh phục binh. Trên đường tiến quân không thấy quân Tây Sơn dừng quân nấu ăn, chỉ thấy gạo rơi vãi đầy đường. Chẳng lẽ chúng nhai gạo sống mà chạy ư? Hay chúng dụ ta khinh thường đem quân vào sâu rồi phục binh đổ ra đánh. Ta phải đề phòng mới được.
Đoạn Ô Đại Kinh bảo quân:
- Mau dừng quân đóng trại canh phòng cẩn mật, cho quân thám mã đi trước dò la tin tức, có gì nghi hoặc phải lập tức phi báo.
Tả hữu hỏi:
- Quân Tây Sơn sợ ta đã bỏ trốn cả, sao tướng quân không gấp tiến vào Thăng Long trước để lập công đầu.
Ô Đại Kinh gạt đi bảo:
- Các ngươi biết gì mà bàn, cứ y lệnh mà làm, quân từ từ mà tiến đề phòng giặc mai phục.

° ° °

Nhắc lại tướng Tây Sơn là Phan Văn Lân đem một ngàn tinh binh đến đóng ở bờ Nam sông Như Nguyệt. Nhìn sang bờ Bắc thấy quân Thanh đông như kiến cỏ, tinh kỳ rợp đất, gươm giáo ngời ngời, Phan Văn Lân bảo quân:
- Các ngươi tuần phòng dọc sông cho nghiêm ngặt, nếu thấy giặc vượt sông lập tức báo ta hay.
Bờ Bắc sông Như Nguyệt Tôn Sĩ Nghị và các tướng ra khỏi doanh trại đi thị sát địa hình. Vua Chiêu Thống lo lắng hỏi:
- Giặc Tây Sơn rút chạy đã phá cầu và thuyền bè, làm cách nào quân ta vượt sông?
Không trả lời vua Chiêu Thống, Sĩ Nghị bảo quân:
- Truyền lệnh ta lập tức bắc cầu phao.
Quân Thanh chặt cây đóng cọc, kết tre làm ván hối hả bắc cầu. Quân Tây Sơn vào báo với Phan Văn Lân:
- Thưa tướng, quân giặc Thanh đang bắc cầu qua sông.
Lân ra ngoài xem xét thấy quân Thanh đã bắc cầu vào tầm đạn đại bác, Lân liền hạ lệnh:
- Mau tập trung súng bắn vào cầu ấy cho ta.

Súng Tây Sơn ầm ầm nhả đạn, cầu quân Thanh lọt vào tầm súng đều đổ vỡ cả. Quân Thanh liền chạy về báo cùng Tôn Sĩ Nghị. Nghị hạ lệnh:
- Thượng Duy Thăng đem một vạn quân chặt tre, chuối làm bè rồi làm hình nộm đặt lên bè, chờ đêm đến thả bè thuận gió bấc trôi sang trại địch.
Thượng Duy Thăng bước ra lãnh lệnh. Nghị lại bảo:
- Trương Triều Long đem năm ngàn quân lên thượng nguồn sông Như Nguyệt tìm chỗ nước cạn vượt sông rồi đánh vào sau lưng địch.
Trương Triều Long bước ra lãnh lệnh. Nghị hăm hở nói:
- Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống đốc thúc toàn quân kết thật nhiều bè chờ Trương Triều Long phá địch ở bờ Nam xong, lập tức sang sông tiến đánh Thăng Long.
Các tướng đồng thanh thưa:
- Đại tướng quân liệu việc hơn người, chúng thần xin tuân mệnh.
Nói rồi ai vào việc nấy.
Bờ Nam sông Như Nguyệt, Phan Văn Lân đốc thúc quân tuần phòng dọc sông thật cẩn mật. Tả hữu hỏi Văn Lân:
- Quân ta chỉ có một ngàn, địch đông hơn hai mươi vạn. Nếu địch lên thượng nguồn đánh vào sau lưng ta thì sao, chi bằng ta rút về Thăng Long cùng Đại tư mã Ngô Văn Sở lui binh vào Tam Điệp là hơn.
Phan Văn Lân bảo:
- Ta nhận lệnh đến đây ngăn giặc cho đại binh ta rút lui. Chưa có lệnh của Ngô huynh ta lui binh sao được.
Xảy quân do thám vào báo rằng:
- Thưa tướng quân, quân Thanh cho chặt rất nhiều tre và chuối, lại ra đồng lấy rơm rạ rất nhiều, chẳng biết định làm gì. Xin tướng quân định liệu.
Phan Văn Lân cười ngất nói:
- Tre, chuối làm bè, rơm rạ làm hình nộm, mẹo vặt này sao lừa ta được. Đêm nay ta tương kế tựu kế đánh chúng một trận mới được.

Nói rồi, Phan Văn Lân sai quân bố trận…
Canh ba đêm ấy Thượng Duy Thăng sai quân cột dây vào bè đẩy ra sông rồi bảo:
- Bao giờ quân Tây Sơn bắn đại bác ra thì cầm dây kéo bè về. Quân Tây Sơn thôi bắn lại thả dây cho bè trôi về địch.
Thượng Duy Thăng quay lại thi lễ rồi thưa với Tôn Sĩ Nghị:
- Tháng mười một đang là mùa gió bấc, bè nghi binh của ta thuận gió thẳng tiến về địch. Phan Văn Lân phen này trúng kế. Chờ Trương Triều Long đánh tập hậu giặc tất phải tan, đại tướng quân thật là thần cơ diệu toán.
Tôn Sĩ Nghị đắc ý bảo:
- Ta đã từng học sách binh thư của tiền nhân nước ta như Tôn Võ binh pháp, Ngô Khởi binh pháp, Khổng Minh binh pháp thì kế mọn này nào đáng kể gì.
Đoạn Tôn Sĩ Nghị hỏi quân:
- Bè nghi binh của ta đã vào tầm đạn của giặc chưa?
Quân đáp:
- Thưa đã vào rồi.
Nghị giật mình nghĩ thầm, bè nghi binh đã vào tầm đạn, sao Phan Văn Lân không bắn. Không có lẽ kế của ta đã lộ rồi sao. Nghĩ xong, Nghị hạ lệnh:
- Thượng Duy Thăng mau đem năm ngàn quân lên thượng nguồn sông Như Nguyệt tiếp ứng cho Trương Triều Long, không được chậm trễ.
Thượng Duy Thăng lãnh quân đi ngay.
Nhắc lại Trương Triều Long đến phía sau doanh trại Tây Sơn thấy cờ quạt chỉnh tề, quân canh súng ống đều hướng xuống sông thì mừng rỡ nói:
- Quân Tây Sơn quả nhiên không phòng bị mặt sau. Ba quân tiến lên.

Quân Thanh hò hét xông thẳng vào. Đến nơi mới hay quân sĩ Tây Sơn toàn là hình nộm, còn súng ống toàn bằng cây gỗ. Trương Triều Long thất kinh than:
- Thôi ta đã trúng kế của quân Tây Sơn rồi. Mau rút quân!
Vừa dứt lời đã nghe một phát pháo lệnh nổ vang. Tên đạn quân Tây Sơn từ ba bên bắn vào như mưa. Quân Thanh năm ngàn hao hết một nửa. Trương Triều Long cầm khiên che tên liều mình dẫn quân theo đường cũ mà rút, bỗng thấy một viên tướng dáng dấp thư sinh, tay cầm trường thương, ngồi trên lưng bạch mã lướt đến chặn đường. Hai bên giáp chiến đánh nhau dữ đội, tiếng hò reo vỡ màn đêm tĩnh mịch. Quân Tây Sơn dũng mãnh, quân Thanh mỗi lúc một lùi. Trương Triều Long nghĩ thầm: Thằng học trò này đánh hăng quá, nếu không liều chết biết chạy đi đâu. Nghĩ rồi liền vung đao bảo quân:
- Giặc Tây Sơn chỉ có ngàn tên, các ngươi chớ sợ. Nay ta đã bị dồn vào mé sông, nếu không quyết đánh đành chịu chết hay sao?
Quân Thanh lại hò hét xông lên, hết lớp này đến lớp khác vẫn không sao mở được đường máu thoát thân. Trong cơn nguy khốn bỗng thấy phía sau quân Tây Sơn hàng ngũ rối loạn. Trương Triều Long mừng rỡ nói lớn:
- Quân ta có viện binh. Mau tiến lên.
Thượng Duy Thăng từ phía sau đánh tới, quân Thanh hai mặt giáp công. Quân Tây Sơn dần dần núng thế. Phan Văn Lân thét quân:
- Mau quay lại phá vây mà rút.

Nói rồi vung trường thương cầm đầu ba quân tả xung hữu đột. Đánh một hồi ngàn quân Tây Sơn dần dần chết cả. Phan Văn Lân đơn thân độc mã thúc ngựa nhắm hướng Nam mà đi, gặp tướng đánh tướng, gặp quân giết quân. Trường thương Văn Lân khi đâm tới xỏ lòi hai ba tên địch, lúc hoành thương lia ngang vỡ đầu đứt cổ năm bảy thằng quân, vung lên rồi bỏ xuống, gặp đao đỡ đao nhằm tên gạt tên vẫn bình tĩnh như đi vào chỗ không người. Quân Thanh sợ hãi không dám xáp lại gần. Thượng Duy Thăng thấy vậy giận lắm bèn vác đao ra chặn Văn Lân mà đánh. Văn Lân đâm lia đâm lịa làm Thượng Duy Thăng đỡ gạt liên hồi vã mồ hôi hột. Văn Lân không ham đánh liền đâm giả một thương rồi thúc ngựa phi ra khỏi trận. Thượng Duy Thăng hô quân đuổi theo. Chạy được vài dặm vừa ra khỏi một cây cầu nhỏ, Lân liền quay lại đứng chặn giữa cầu tay hờm sẵn cung tên. Duy Thăng vừa dẫn quân đuổi đến liền bị Văn Lân bắn một phát, mũi tên nhằm giữa miếng kính tâm, Thăng giật mình gò ngựa bên kia cầu hỏi quân:
- Thằng học trò thua quân còn lại một mình sao không chạy nữa mà chặn ta ở đây?
Tả hữu nghi hoặc đáp:
- Ngươi đâu mà to gan thế. Chúng có mẹo gì chăng. E rằng có mai phục.
Vừa dứt lời nhìn sang thấy một tên quân Tây Sơn phi ngựa từ hướng Nam về phía Văn Lân. Thượng Duy Thăng bảo quân:
- Quả nhiên là chúng có mẹo thật. Bọn bay mau đóng trại canh phòng chờ đại binh đến rồi đánh cũng chẳng muộn gì.
Bên kia cầu tên quân Tây Sơn nhảy xuống ngựa hỏi Phan Văn Lân:
- Quân ta đâu mà tướng quân chỉ có một mình?
Lân đăm đăm ngó sang phía quân Thanh, đáp:
- Ngàn quân ta bị vạn quân địch giết chết cả rồi. Ta thoát được về đây đứng chặn giặc ở cầu này.
Tên quân lại hỏi:
- Một mình sao địch nổi giặc. Sao tướng quân không chạy về Thăng Long.
Lân đáp:
- Ta nhận lệnh ngăn giặc ở bờ Nam sông Như Nguyệt cho quân ta từ các trấn về hội tại Thăng Long. Nếu ta bỏ chạy, giặc tiến chiếm Thăng Long, quân các trấn ta tất không còn đường rút.
Tên quân bái lạy Văn Lân rồi nói:
- Lòng trung dũng của tướng quân thật đáng cho người đời khâm phục. Quân các trấn đã kịp rút lui, đại tư mã Ngô Văn Sở sai tôi đến gọi tướng quân lập tức về ngay.
Phan Văn Lân liền quày ngựa theo tên quân chạy về Thăng Long rồi theo đại binh rút về Tam Điệp.

Quân Thanh vượt sông Như Nguyệt vào thành Thăng Long như chỗ không người. Tôn Sĩ Nghị họp các tướng bàn việc quân, Thượng Duy Thăng nói:
- Ta kéo binh đến đâu quân Tây Sơn chỉ lui mà không đánh. Tôi e Nguyễn Huệ dùng kế "không thành". Xin Đại tướng quân suy xét.
Sĩ Nghị cười bảo:
- Kế "không thành" là phục binh bốn phía chờ địch vào thành rồi đổ ra vây đánh. Nay giặc nghe oai thiên binh bỏ chạy một mạch vào ải Tam Điệp, bỏ toàn cõi Bắc Hà cho ta, thì quân nào đổ ra vây đánh mà bảo là kế "không thành".
Trương Triều Long thưa:
- Trận Như Nguyệt, Phan Văn Lân tuy thua còn một mình một ngựa chạy về. Quân Tây Sơn chết chỉ một ngàn, còn quân ta hao mất mấy ngàn. Vậy chứng tỏ quân Tây Sơn không phải là không dũng mãnh. Nay chúng bỗng dưng chưa đánh đã rút đại binh về ắt không phải là vô cớ, xin đại tướng quân minh xét.
Tôn Sĩ Nghị hỏi:
- Nếu không phải chúng sợ ta mà chạy, vậy theo ngươi Nguyễn Huệ có kế gì?
Các tướng đều đưa mắt nhìn nhau không ai đoán ra là Nguyễn Huệ có kế gì. Sĩ Nghị nói tiếp:
- Ngô Văn Sở ít quân bỏ Bắc Hà Thăng Long chạy về trấn giữ Tam Điệp, Biện Sơn là nơi hiểm yếu. Đạo làm tướng ai không làm như Ngô Văn Sở, có gì mà các ngươi phải ngại. Nay ta đã sai Lê Chiêu Thống xuống hịch cần vương hiệu triệu dân chúng lập thành quân đội đi trước đánh nhau với quân Tây Sơn. Ấy là không nhọc sức mà lập công to vậy, kế này là kế "dĩ Việt trị Việt" mà tiền nhân nước ta sang đô hộ An Nam vẫn thường làm đó.
Nghe xong các tướng đều khen:
- Đại tướng quân liệu việc sâu sắc chúng tôi không sánh kịp.
Sĩ Nghị đắc ý bảo:
- Ngô Văn Sở nghe oai ta đã bỏ chạy vào Tam Điệp. Từ Tam Điệp đến Thăng Long đường bằng đồng trống không núi non hiểm trở, vậy ta phải lập đồn lũy canh phòng giặc tiến công. Nay ta lệnh cho Trương Triều Long đem ba vạn quân vào làng Hà Hồi cách thành Thăng Long năm mươi dặm đóng đồn lập trại. Thượng Duy Thăng đem năm vạn quân vào làng Ngọc Hồi cách thành Thăng Long hai mươi dặm đóng đồn hạ trại. Hai đồn này làm thế ỷ giốc tiếp ứng cho nhau phòng giữ mặt Nam. Ta nghe quân Tây Sơn là giống người mọi giỏi đánh đường núi, vậy Sầm Nghi Đống hãy đem ba vạn quân đến làng Khương Thượng cách phía Tây thành Thăng Long mười dặm đóng đồn hạ trại. Ta đóng đại binh ở Thăng Long sẽ tùy cơ tiếp ứng. Chờ quân Ô Đại Kinh đến đây ăn tết Nguyên đán xong, ta sẽ xua binh vào Phú Xuân bắt Nguyễn Huệ.
Các tướng cùng bước ra lãnh lệnh, ai vào việc nấy.


***
Chương 50

Bắc Bình Vương lên ngôi Hoàng Đế
Vua Quang Trung thỉnh cầu Phu tử

Nói về Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết rút toàn quân lui về ải Tam Điệp cách thành Thăng Long ba trăm dặm đóng quân. Ngô Văn Sở nói:
- Theo kế Ngô mưu sĩ, binh ta rút an toàn về đây, vậy Nguyễn Văn Tuyết hãy mau về Phú Xuân cấp báo cho Chúa công được biết.
Nguyễn Văn Tuyết vểnh râu lắc đầu nói:
- Về Phú Xuân cấp báo thì thiếu chi người sao lại sai tôi. Vả lại giặc đông ta ít nếu giặc đem quân đánh tới chỉ có hai ông chống đỡ, tôi không an tâm đi đâu.
Văn Sở an ủi Văn Tuyết:
- Ải Tam Điệp hiểm trở, quân Thanh dù thiên binh vạn mã cũng không thể đánh được ta. Tướng quân hãy an tâm mà đi đi. Vả lại ông có ngựa Xích kỳ ngày chạy ngàn dặm không biết mệt mới mau cấp báo cho Chúa ta đem quân ra đánh giặc cứu dân.
Vỡ lẽ Nguyễn Văn Tuyết nói:
- Nếu vậy tôi xin đi.
Tuyết tạm biệt Sở và Lân, Nhậm rồi lên lưng ngựa Xích kỳ nói lớn:
- Ngựa Xích kỳ! Ngựa Xích kỳ! Hãy phi mau về báo cho Chúa ta được rõ, rằng quân Thanh đã đem binh xâm lược nước ta.
Ngựa Xích kỳ lồng lên nhằm hướng Nam phi mau như gió. Đến Phú Xuân gặp Nguyễn Huệ, Tuyết hổn hển quỳ thưa:
- Tâu Chúa công, vua Càn Long nhà Thanh sai Đại tướng Tôn Sĩ Nghị đem ba mươi vạn đại binh sang xâm lược nước ta!
Nghe Tuyết nói xong, các quan văn võ đều hết thảy giật mình. Nguyễn Huệ điềm nhiên nói:
- Nguyễn Phúc Ánh giết Phạm Văn Tham lấy đất Gia Định mà ta vẫn không đem quân vào đánh, ấy là còn lo việc đánh quân Tàu. Nay chúng sang đây cũng không ngoài dự liệu của ta, cớ sao mới nghe qua các khanh lại lo sợ như thế? Nguyễn Văn Tuyết bình tĩnh mà nghe ta hỏi: Chúng đem quân sang, ở Bắc Hà các ngươi đối phó thế nào?
Nguyễn Văn Tuyết đáp:
- Tôn Sĩ Nghị đem ba mươi vạn quân mượn cớ phò vua Lê Chiêu Thống về nước, chúng chia quân làm ba đạo, theo ba đường Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang sang đánh nước ta. Ngô Văn Sở lệnh toàn quân lui về ải Tam Điệp. Phan Văn Lân đem ngàn tinh binh ra chặn giặc ở bờ Nam sông Như Nguyệt làm đoạn hậu cho đại binh rút lui. Vì ít quân bị giặc vây đánh, ngàn quân ta đều chết cả, Phan Văn Lân một mình một ngựa chạy về. Hiện toàn quân ta đã lui về Tam Điệp được an toàn. Thần vội vã về phi báo, xin Chúa công định liệu.

Nguyễn Huệ cười hỏi:
- Kế bảo toàn lực lượng lui về Tam Điệp có phải của Ngô Thì Nhậm chăng?
Tuyết đáp:
- Ấy chính Ià do Ngô Thì Nhậm bày ra.
Nguyễn Huệ lại hỏi:
- Còn kế xóa bếp lò, vãi gạo ra đường cho giặc khinh thường tưởng quân ta phải nhai gạo sống mà chạy có phải của Ngô Văn Sở chăng?
Tuyết đáp:
- Kế ấy là do Ngô Văn Sở bày ra.
Nguyễn Huệ cười lớn nói:
- Hai họ Ngô ở Bắc Hà làm rất tốt. Tôn Sĩ Nghị đã trúng kế "không thành" của ta. Bọn chúng sang xâm lược nước ta lần này chỉ chuốc lấy cái chết mà thôi.
Trần Quang Diệu hỏi:
- Dụ địch vào thành rồi bốn mặt đổ ra vây đánh mới là kế "không thành". Còn bây giờ ta đã rút quân vào Tam Điệp bỏ Bắc Hà cho giặc chiếm đóng sao Chúa công bảo là kế "không thành"?
Các tướng đồng thanh:
- Lời Trần Quang Diệu rất phải. Xin Chúa công giảng giải.

Nguyễn Huệ ôn tồn đáp:
- Binh pháp xưa nay dụng kế "không thành" như Trần Quang Diệu nói là ta đánh địch khi địch còn trên mình ngựa mặc giáp mang gươm, dù ta có thắng địch nhưng tổn thất không phải là nhỏ. Kế "không thành" của ta là chờ cho giặc cởi giáp bỏ gươm, xuống ngựa nghỉ ngơi rồi mới đánh. Đánh như thế nào tiêu diệt được quân địch còn bên ta vẫn bình yên vô sự, ấy mới là phương châm đánh giặc của ta.
Đặng Văn Long hỏi:
- Ngô Văn Sở đã lui quân về Tam Điệp, còn đại sư huynh đang ở tại Phú Xuân, vậy quân nào phục binh bốn phía đánh địch như kế "không thành"?
Nguyễn Huệ đáp:
- Ấy chính là yếu tố bất ngờ để cho giặc xuống ngựa nghỉ ngơi, quăng gươm cởi giáp. Kế sách đánh giặc ta đã tính toán hết cả rồi, đợi đem đại binh ra Tam Điệp hợp cùng Ngô Văn Sở ta sẽ phân nhiệm sau. Truyền lệnh ta các tướng về kiểm điểm binh mã, ngày mai lập tức xuất quân.

Mưu sĩ Trần Văn Kỷ quỳ tâu:
- Xin Chúa công chớ vội xuất quân.
Nguyễn Huệ ngạc nhiên hỏi:
- Quân Thanh xâm lược nước ta tàn hại đồng bào mỗi một ngày có biết bao người chết. Ta muốn ngay lập tức tiêu diệt lũ giặc bạo tàn kia. Sao Trần trung thư lại bảo ta chớ vội xuất binh?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Nước Nam ta ngoài thì Lê Chiêu Thống rước giặc Thanh về giày xéo non sông đã rõ là một ông vua bán nước, trong thì vua Thái Đức nhu nhược cầu an khiến lòng người ly tán, nên nhân dân bốn cõi đều trông mong vào tài định quốc an dân của Chúa công. Vậy xin Chúa công hãy lên ngôi Hoàng đế cho an lòng trăm họ rồi cất quân đuổi giặc ngoại xâm cũng chẳng muộn gì.

Các quan văn võ cùng quỳ xuống đồng thanh nói:
- Lời Trần tiên sinh rất phải, xin Chúa công hãy lên ngôi Hoàng đế cho an lòng trăm họ mới mong đánh thắng được giặc dữ.
Nguyễn Huệ xua tay nói :
- Việc này thật không nên.
Các quan cùng hỏi:
- Vì sao không nên?
Huệ đáp:
- Ta vốn không có chí làm vua, chẳng qua do thời loạn nên mới giúp Hoàng huynh đánh Nam dẹp Bắc mong đem thái bình về cho trăm họ rồi sẽ mặc áo tơi mang giày cỏ mà ngao du khắp bốn cõi non sông. Nay nhà Tây Sơn đã có Hoàng huynh là vua Thái Đức, ta lại lên làm vua nữa hóa ra ta là kẻ háo danh và nước ta lại có hai vua là việc xưa nay chưa từng có. Vì vậy ta không thể nào lên ngôi được!
Trần Văn Kỷ thưa:
- Vua Thái Đức đã chia lãnh thổ cho Chúa công được quyền cai quản, việc binh bị, việc chính trị đều khác hẳn nhau thì không thể gọi là một nước. Vả lại Chúa công lên làm vua rồi đem quân ra đuổi quân Thanh lấy đất Bắc Hà là lấy ngôi vua Lê không can dự đến vua Thái Đức. Xin Chúa công chớ ngại.
Nguyễn Huệ lo lắng hỏi:
- Ta mấy phen cất quân ra Bắc diệt Trịnh trừ Chỉnh đều lấy tiếng phò Lê. Nay lại dứt Lê e mang tiếng là lừa dân chăng? .
Trần Văn Kỷ chưa kịp đáp bỗng nghe giọng đàn bà nói lớn rằng: .
- Chúa công lên ngôi vua không có gì là lừa dân cả!
Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra chính là Ngọc Hân công chúa, Nguyễn Huệ liền hỏi:
- Nàng đang ở hậu cung sao đến đây?
Ngọc Hân quỳ vừa khóc vừa thưa:
- Thiếp vừa hay tin cháu thiếp là vua Lê Chiêu Thống rước giặc Thanh về tàn hại non sông nên mới đến đây hỏi Chúa công việc đánh giặc thế nào. Tình cờ nghe Chúa công phụ lòng trăm họ chẳng chịu lên ngôi nên có lời mạo phạm, xin Chúa công tha tội.
Nguyễn Huệ hỏi:
- Nàng cũng cho rằng ta lên ngôi là phải lẽ hay sao?
Ngọc Hân đáp:
- Chúa công ra Bắc một dạ tôn phò, trừ loạn thần trả nước cho nhà Lê. Bởi Lê Chiêu Thống bất tài nhu nhược, chẳng biết lo điều chính sự nên trong triều rối ren, ngoài bá tánh loạn lạc. Nay lại rước giặc ngoài về tàn hại dân ta, khiến trăm họ đều ngoảnh mặt trông về Chúa công. Nhà Lê nay không đáng làm vua nữa thì Chúa công lên ngôi cho thỏa lòng mong đợi của trăm họ sao gọi là lừa dân!
Các quan đồng thanh nói thêm vào:
- Lời phu nhân rất phải, xin Chúa công hãy lên ngôi Hoàng đế.
Nguyễn Huệ hỏi Ngọc Hân:
- Nàng khuyên ta lên ngôi là phải lẽ, vậy cớ sao nàng lại khóc?
Ngọc Hân lau nước mắt đáp:
- Thiếp khóc là vì xấu hổ bởi có đứa cháu là phường bán nước buôn dân, và vì thương tiếc cơ nghiệp của tổ tiên. Còn khuyên Chúa công lên ngôi là vì quốc gia dân tộc. Chỉ e rằng Chúa công lên ngôi là mắc tội với vua anh mà thôi!
Nguyễn Huệ đứng lên nói:
- Nàng còn dám vì nghĩa nước mà gạt bỏ tình nhà. Ta lại không sánh bằng một người nữ nhi hay sao!
Bá quan cùng quỳ xuống tung hô:
- Hoàng thượng vạn tuế! Hoàng thượng vạn tuế!


Ngày 25 tháng 11 năm Mậu thân (1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy đế hiệu là Quang Trung.
Vua Quang Trung phong Bùi phu nhân làm Chánh cung Hoàng hậu, phong công chúa Ngọc Hân làm Bắc cung Hoàng hậu, phong con của Chánh cung Hoàng hậu là Quang Toản làm Thái tử.


° ° °

Đêm ấy vua Quang Trung vào từ biệt Bắc cung Hoàng hậu để ngày mai ra trận. Hoàng hậu Ngọc Hân nói:
- Hoàng thượng ra Bắc lần này, nghe thế giặc mạnh thiếp lấy làm lo lắm.
Vua Quang Trung cười lớn bảo:
- Chẳng qua chỉ nội mười ngày là ta sẽ quét sạch ba mươi vạn quân Mãn Thanh mà thôi. Nàng chớ lo gì.
Hoàng hậu Ngọc Hân gọi tỳ nữ bưng một cái mâm đồng dâng lên tràng kỷ. Hoàng hậu thưa:
- Ngày mai tiễn Hoàng thượng lên đường giết giặc, trong dịp tết Nguyên đán này phu thê kẻ Nam người Bắc, thiếp tự tay gói bánh chưng dâng lên Hoàng thượng gọi là để vợ chồng ăn tết trước.
Vua Quang Trung nhìn đăm đăm vào chiếc bánh chưng đặt trong mâm đồng rồi suy tư hỏi:
- Bánh chưng này thay cơm dùng được năm ngày trong dịp tết, có phải chăng?
Lê Hoàng hậu đáp:
- Thưa phải!
Vua Quang Trung cầm cái bánh chưng hình vuông mân mê trong tay rồi bóp tròn lại vừa vặn tay cầm. Lê Hoàng hậu ngạc nhiên hỏi:
- Bánh này thiếp tự tay nấu cho Hoàng thượng dùng. Sao Hoàng thượng lại bóp nát đi?
Vua Quang Trung bảo:
- Ta vừa nói trong mười ngày là quét sạch quân Mãn Thanh ra ngoài bờ cõi vì còn phải dừng quân để nấu cơm ăn. Nay ta nấu sẵn bánh chưng này thành hình trụ cho vừa tay cầm để quân sĩ vừa hành quân vừa ăn uống không phải nghỉ để nấu cơm thì ta phá giặc chỉ nội năm ngày và ít phải hy sinh anh em nghĩa sĩ.
Lê Hoàng hậu khóc nói:
- Lúc đang ăn còn nghĩ đến việc quân. Tấm lòng vì dân vì nước của Hoàng thượng thật đáng động đến trời. Cầu trời cao phù hộ cho Hoàng thượng mau phá xong giặc dữ.
Vua Quang Trung tạm biệt Hoàng hậu Ngọc Hân. Người nói:
- Ấy chính là nhờ lòng chung thủy của nàng đã giúp ta nghĩ ra được mưu sâu phá giặc.
Hôm sau vua Quang Trung để Thượng Đạo tướng quân Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và Vũ Văn Dũng trấn thủ Phú Xuân, rồi đem Võ Đình Tú, Đặng Văn Long, Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong, Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc kéo tám vạn quân theo vai đường thủy bộ nhằm hướng Bắc trực chỉ.


° ° °

Quân đi đến thành Nghệ An, vua Quang Trung cho dừng quân nghỉ ngơi. Vua bảo Trần Văn Kỷ:
- Ta từ lúc Tây Sơn dấy nghĩa đến nay, lúc nào cũng một lòng chiêu hiền đãi sĩ, đã ba lần cầu La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp ra giúp nước. Nhưng cả ba lần Nguyễn Thiếp đều đưa thư thoái thác. Nay ta muốn nhờ khanh mang thư ta đến vời phu tử một lần nữa xem sao.
Trần Văn Kỷ bàn:
- Nguyễn Thiếp đã mười lăm năm ẩn dật, nghiên cứu Phật học, mắt không nhìn công danh, bỏ tai ngoài thế sự. Chí người đã muốn tu tiên, Hoàng thượng còn mời mọc làm chi.
Vua Quang Trung bảo:
- Nguyễn Thiếp trau dồi đức hạnh đang tu tiên chớ chưa phải là người tiên, bỏ tai ngoài thế sự mà trong lòng mong tế độ chúng sinh. Nếu không như thế sao Nguyễn Thiếp lại thi ân bố đức, nên bá tánh quanh vùng mới gọi là La Sơn Phu tử. Nay ta viết thư gồm mười bốn chữ, tin chắc đọc xong mười bốn chữ này phu tử phải ra. Khanh hãy cảm phiền giúp trẫm một phen nữa!
Trần Văn Kỷ quỳ tâu:
- Hoàng thượng đã xuống lệnh hạ thần nào dám không tuân. Cảm tấm lòng khẩn khoản cầu hiền của Hoàng thượng, Trần Văn Kỷ thần xin hứa hết lòng.

Nói xong Kỷ lãnh thư của vua Quang Trung đi đến Lục Niên Thành mời La Sơn Phu tử.
Đến Lục Niên Thành, Trần Văn Kỷ thấy non xanh nước biếc, đầy hoa thơm cỏ lạ. Trong cảnh bồng lai ấy hiện ra một ngôi nhà nhỏ, trước cổng đề ba chữ: "Hạnh am cốc". Gặp một tiểu đồng Trần Văn Kỷ hỏi:
- Xin hỏi đây có phải là cư xá của La Sơn Phu tử.
Tiểu đồng hỏi lại Kỷ:
- Quý khách hỏi có việc gì.
Văn Kỷ đáp:
- Tôi xin được diện kiến Phu tử.
Tiểu đồng bảo:
- Xin quý khách cảm phiền chờ ngoài cổng. Thầy tôi đang tham thiền nhập định. Để tôi vào bẩm báo, bao giờ được phép sẽ mở cửa cho quý khách vào.
Tiểu đồng vừa dứt lời cửa nhà trong liền bật mở, một cụ già cốt cách tiên phong, bạc phơ râu tóc bước đến thi lễ cùng Trần Văn Kỷ, rồi vừa quỳ vừa nói:
- Hạ dân Nguyễn Thiếp xin tiếp chiếu chỉ của Hoàng thượng.
Trần Văn Kỷ liền đỡ Nguyễn Thiếp dậy hỏi:
- Tôi vận y phục dân thường sao Phu tử lại biết là sứ giả của vua?
Nguyễn Thiếp chắp tay đáp:
- Tôi mười lăm năm ở ẩn tuy không xuất gia nhưng thành tâm đầu Phật, học phép tham thiền biết quá khứ vị lai, nên mới rõ Hoàng thượng sai Trần Trung thư đến đây trao thư gọi hạ dân ra diện kiến.
Nghe Thiếp nói xong, Trần Văn Kỷ liền trao thư và nói:
- Nay quân Mãn Thanh xua binh ba mươi vạn sang xâm lược nước ta. Vua mới sai tôi trao thư kính cẩn mời Phu tử ra bày kế phá giặc cứu dân.
Nguyễn Thiếp tiếp thư rồi đặt lên tràng kỷ, bảo Trần Văn Kỷ:
- Xin quan Trung Thư Lệnh hãy ngồi nghỉ, tôi vào trong thu xếp rồi sẽ cùng ngài đến diện kiến Hoàng thượng.
Trần Văn Kỷ ngạc nhiên hỏi:
- Sao Phu tử không xem thư của Hoàng thượng.
Thiếp cười đáp:
- Tôi không đọc cũng biết thư vua viết chỉ vỏn vẹn mười bốn chữ:
Quốc gia đã đến lúc hưng vong,
Xin Phu tử bày cho diệu kế.
Trần Văn Kỷ thất kinh nói:
- Vua bảo tôi: Đọc mười bốn chữ này Phu tử phải ra. Hoàng thượng liệu việc như thần. Còn Phu tử quả là bậc thánh vậy.
Nguyễn Thiếp quay vào trong, tiểu đồng hỏi Thiếp:
- Bắc Bình Vương trước đã ba lần đưa thư mời, thầy đều không đến. Nay cớ gì ông ấy mới lên làm vua đưa thư mời, thầy vội vã đi ngay.
Nguyễn Thiếp đáp:
- Ta ba lần chối từ không ra giúp Tây Sơn vì đã không màng thế sự, xem nhẹ công đanh. Nhưng nay nhân dân cả nước đang sục sôi khí thế chống giặc ngoại xâm. Ta đã từng dạy cho thiên hạ là: "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Vậy vua vời ta ra hỏi kế phá giặc, ta không đến hóa ra lại không bằng kẻ thất phu sao?
Tiểu đồng khóc hỏi:
- Phen này thầy theo giúp vua bao giờ mới về?
Nguyễn Thiếp cười đáp:
- Ta đến để khỏi mang tiếng với thiên hạ là kẻ thất phu rồi sẽ về ngay, con chớ lo.

Đoạn Thiếp ra xe theo Trần Văn Kỷ đến yết kiến vua Quang Trung. Vua Quang Trung trông thấy Nguyễn Thiếp liền quỳ trước xe thi lễ nói:
- Trẫm hằng trông Phu tử như trời hạn trông mưa. Nay Phu tử chịu ra thật là hồng phúc của muôn dân vậy.
Nguyễn Thiếp thất kinh vội vã xuống xe quỳ lạy vua Quang Trung và nói:
- Thần tuổi đã cao nên đã ba lần chối từ không ra giúp Hoàng thượng, để Hoàng thượng phải nhọc lòng tội thật đáng muôn chết.
Vua Quang Trung đỡ Nguyễn Thiếp dậy mời vào trong, vua chỉ vào áo Nguyễn Thiếp đang mặc rồi nói:
- Phu tử tuổi già sức yếu, nay tháng chạp là mùa Đông gió Bấc, Phu tử mặc cái áo cũ đã ngả màu này chắc là lạnh lắm.
Đoạn vua quay sang bảo quân:
- Mau mang áo mới đến đây cho Phu tử mặc.
Quân đem áo đến, vua Quang Trung tự tay mặc cho Nguyễn Thiếp. Mặc xong vua Quang Trung hỏi:
- Nay quân Tàu lại sang xâm lược nước ta, trẫm thân đem đại binh ra đánh. Xin Phu tử bày cho diệu kế phá giặc cứu dân.
Nguyễn Thiếp đáp:
- Kế phá giặc Hoàng thượng đã sắp đặt cả rồi, chẳng qua chỉ nội năm ngày là Hoàng thượng sẽ quét sạch ngoại xâm ra ngoài bờ cõi mà thôi!
Vua Quang Trung giật mình hỏi:
- Phu tử có biết quân số của giặc là bao nhiêu? Quân số của ta là bao nhiêu chăng?
Thiếp đáp:
- Thần không được biết.

Vua Quang Trung hỏi tiếp:
- Phu tử có biết Tôn Sĩ Nghị là người như thế nào chăng? Quân Thanh đóng binh ở nơi nào chăng?
Thiếp đáp:
- Hoàng thượng có quân thám mã nên biết được địch tình, còn thần ở ẩn chòi tranh nên không được rõ.
Vua Quang Trung lại hỏi:
- Phu tử không biết gì về thực lực hai bên, sao dám quyết rằng quân ta chỉ trong năm ngày là quét sạch quân Mãn Thanh?
Nguyễn Thiếp ôn tồn đáp:
- Thần chỉ dùng phép tham thiền của nhà Phật mà biết được quá khứ vị lai. Không cần tìm hiểu quân tình.
Vua Quang Trung ngạc nhiên nói:
- Nếu không tận mắt trông thấp sao trẫm dám tin Phu tử là thánh nhân như lời đồn được. Vậy xin Phu tử lưu lại trong trướng cùng trẫm bàn kế phá giặc.
Nguyễn Thiếp vòng tay nói:
- Thần chỉ biết mà không làm được. Còn Hoàng thượng là người làm mà biết trước ngày đại thắng ấy mới là bậc thánh. Kế phá giặc Hoàng thượng đã sắp đặt cả rồi, thần không còn gì để bàn nữa cả. Xin Hoàng thượng cho thần lui về tệ xá, ngày sau thay đổi quốc tự thần nhất định sẽ ra.
Vua Quang Trung thất kinh bảo:
- Phu tử thật là thánh nhân vậy!
Đoạn vua đứng lên tiễn Nguyễn Thiếp ra xe. Thiếp tâu :
- Thần xin trả áo lại cho Hoàng thượng.
Nói xong Thiếp toan cởi áo. Vua ngăn lại nói:
- Sá gì một cái áo mà Phu tử khách sáo thế.
Thiếp đáp:
- Không phải thần khách sáo mà do thần nay tuổi già sức yếu, lưng còng mỗi khi đi đều phải chống gậy. Do lưng của thần còng xuống nên vạt áo trước thấp xuống, vướng vào chân không đi được.
Vua Quang Trung liền nói:
- Phu tử cứ cầm gậy mà đi, trẫm xin đỡ vạt áo tiễn Phu tử ra xe.
Nói rồi vua Quang Trung nâng vạt áo trước đưa Nguyễn Thiếp ra tận xe. Tiễn Thiếp đi xong, vua Quang Trung lại dẫn quân Bắc tiến.


***
Chương 51

Trần Danh Bính đốt tay đi sứ
Võ Đình Tú mượn ngựa diệt thù

Ngày kia ở ải Tam Điệp, Ngô Văn Sở nghe quân vào báo có vua Quang Trung đem đại binh đến gần ải. Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Ngô Thì Nhậm cùng chắp hai tay ra sau lưng, Sở bảo quân:
- Ngươi mau dùng dây trói bọn ta lại rồi giắt kiếm vào lưng để bọn ta ra chịu tội cùng vua.
Quân nghe lệnh lập tức thi hành. Ra ngoài cửa ải gặp vua Quang Trung đến, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Ngô Thì Nhậm cùng quỳ xuống đồng thanh thưa:
- Thua binh chém tướng, xin Hoàng thượng trị tội!
Vua Quang Trung ngồi trên bành voi bảo quân:
- Mau cởi trói cho ba quan tướng cùng vào đại bản doanh, tội công sẽ luận.

Vào đại bản doanh, vua Quang Trung ngồi nơi hổ tướng, mưu thần, võ tướng đều đứng hầu hai bên, Sở, Lân và Nhậm vẫn quỳ mọp chịu tội. Vua Quang Trung bảo:
- Nay quân Mãn Thanh mượn tiếng phò Lê sang xâm lược nước ta. Quân địch đông mạnh, khí thế đang hăng, Văn Sở, Văn Lân ở Bắc Hà quân ít đánh tất phải thua. Các khanh biết bảo toàn lực lượng lui về giữ nơi hiểm yếu, trong thì khích lòng tướng sĩ, ngoài khiến giặc kiêu căng. Ấy là công sao bảo là tội. Mới nghe qua ta đã biết là kế của Ngô Thì Nhậm, kịp hỏi Văn Tuyết thật quả không sai. Ngô Thì Nhậm là một quan văn nhưng bày thượng sách đánh giặc không ai có thể cao hơn được nữa.
Nói xong vua tự tay rót ngự tửu ban cho Ngô Thì Nhậm. Nhậm lạy tạ đón nhận, khóc nói:
- Ơn tái tạo của Hoàng thượng, Nhậm tôi dù phơi gan trải mật cũng không đền đáp được.
Đoạn Ngô Thì Nhậm quay sang Sở và Lân nói:
- Bọn ta đã thề rút về Tam Điệp có công cùng hưởng có tội cùng chia. Nay vua ban ngự tửu xin mời nhị vị tướng quân dùng trước.
Sở và Lân chưa kịp phản ứng, vua Quang Trung cười bảo:
- Nếu vậy Ngô Thì Nhậm hãy giữ chung rượu ấy chờ ta ban thưởng cho Văn Sở, Văn Lân xong, ba người cùng uống càng vui vẻ chớ sao.
Đoạn vua bảo Ngô Văn Sở:
- Khanh biết nghe lời nói phải, lui quân về Tam Điệp, lập kế xóa bếp lò vãi gạo ra đường khiến Tôn Sĩ Nghị kiêu căng khinh địch, rồi đây quân ta sẽ dễ dàng thủ thắng. Chung rượu này ban thưởng cho khanh.
Ngô Văn Sở đứng lên cầm lấy chung rượu. Vua Quang Trung rót chung thứ ba, Phan Văn Lân vẫn quỳ thưa:
- Hoàng thượng không bắt tội là may mắn lắm rồi, hạ thần sao dám nhận ngự tửu vua ban.
Vua Quang Trung hỏi:
- Sao Văn Lân lại nói thế ?
Lân đáp:
- Hạ thần phụng mệnh đem ngàn quân chặn giặc ở bờ Nam sông Như Nguyệt. Thua binh ngàn quân đều chết cả. Tội không kể thì thôi, công gì mà thưởng.
Vua Quang Trung ôn tồn nói:
- Thắng bại là lẽ thường của binh gia, huống hồ Văn Lân chỉ có ngàn quân mà ngăn được hai mươi vạn quân địch, dù còn lại một mình vẫn trên cầu chặn giặc cho các đạo quân ta lui về Tam Điệp được an toàn. Lòng trung nghĩa can trường của Văn Lân không đáng để khen thưởng hay sao?
Phan Văn Lân khóc nói:
- Quân ta kể từ khi Tây Sơn dấy nghĩa đến nay lấy ít địch nhiều, bách chiến bách thắng. Nay thua binh để ngàn anh em nghĩa sĩ phải hy sinh, Văn Lân tôi đau đớn hổ thẹn trong lòng, thật tình không dám nhận thưởng.
Vua Quang Trung bước xuống đỡ Văn Lân dậy rồi an ủi:
- Quân Tây Sơn ta từ trước đến nay một chỉ địch được hai, ba. Nay Văn Lân đánh với giặc đông hơn hai trăm lần dù thua binh có gì mà phải hổ thẹn. Nay ta đem mười vạn đại binh đến đây nhất định tiêu diệt ba mươi vạn quân Mãn Thanh, bắt sống Tôn Sĩ Nghị báo thù cho ngàn anh em nghĩa sĩ của ta. Nhưng chiến công sau này là do các khanh ở Bắc Hà khéo sắp đặt trước, trong đó lại chẳng có công của Văn Lân ư? Hãy mau cầm chung rượu thưởng, chớ phụ lòng ta.
Phan Văn Lân thấy chối từ không tiện bèn đón lấy chung ngự tửu rồi cùng Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm nâng lên uống cạn. Mọi người an tọạ xong vua Quang Trung giở bản đồ ra nói:
- Tôn Sĩ Nghị chia quân đóng đồn Ngọc Hồi, Hà Hồi ở mặt Nam thành Thăng Long, và đồn Khương Thượng ở mặt Tây thành Thăng Long. Đồng thời lại cho bọn cựu thần nhà Lê mộ quân đi trước gần ải Tam Điệp, Nghị cho quân do thám gần doanh trại của ta. Vậy chứng tỏ Nghị chưa phải đã tuyệt đối khinh địch. Nay ta muốn dùng khổ nhục kế khiến quân Thanh xếp giáp cất gươm ăn nghỉ no say mà không phòng bị. Khi ấy ta tiến đánh ắt dễ dàng tiêu diệt giặc và quân ta ít phải tổn thất. Ngặt vì không ai có thể lãnh mạng thi hành kế độc.
Các tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Võ Đình Tú, Đặng Văn Long, Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết cùng đứng lên đồng thanh nói:
- Hạ thần xin vâng lệnh thi hành khổ nhục kế!
Vua Quang Trung xua tay bảo:
- Không được. Các khanh đều là đại tướng, nay mai đánh quân Thanh các khanh đều đã được phân sắp đâu đó cả rồi. Không thể làm việc này được!
Vua Quang Trung vừa dứt lời, bỗng nghe tiếng nói lớn:
- Khổ nhục kế thế nào, hạ thần xin lãnh mạng sang đầu Tôn Sĩ Nghị.
Mọi người giật mình nhìn lại thấy một viên thư lại mặt trắng môi son dáng dấp thanh tao. Vua Quang Trung hỏi:
- Người này là ai?
Trần Văn Kỷ bước ra nói:
- Người này là cháu thần tên Trần Danh Bính, tuổi còn trẻ nhưng trung nghĩa thanh liêm. Thần biết vậy mới cho theo phụ việc văn thư.
Vua Quang Trung hỏi Trần Văn Kỷ:
- Việc này vô cùng quan trọng cho kế hoạch đánh quân Thanh của ta, nên không thể đường đột chọn người. Theo Trần trung thư thì Trần Danh Bính có đáng tin cậy mà giao trọng trách chăng?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Trần Danh Bính lòng trung kiên như Bắc Đẩu không dời, tính can trường tựa thái sơn không nhụt. Thần xin đem tánh mạng ra bảo đảm cho Trần Danh Bính.

Trần Danh Bính cởi áo giơ lưng ra nói:
- Xin hoàng thượng hãy sai người đánh thần để làm khổ nhục kế.
Vua Quang Trung bảo:
- Khổ nhục kế này không phải như kế xưa nay thiên hạ vẫn dùng. Kế khổ nhục này không phải ta đánh người của ta rồi sai người ấy mang thương tích trá hàng làm nội ứng, mà ngươi sẽ làm sứ giả mang thư trá hàng của ta đến dâng Tôn Sĩ Nghị. Nghị sẽ tra khảo ngươi để hỏi động tĩnh của ta ở Phú Xuân, ngươi cứ một mực khai rằng ta đang run rẩy ở Phú Xuân, sai ngươi đến xin hàng. Lần này chắc chắn Tôn Sĩ Nghị khinh địch mà xếp giáo cất gươm, ăn ngủ no say. Binh ta đến đánh chúng tất trở tay không kịp. Trọng trách nặng nề như thế ngươi có đảm đương nổi hay chăng? Nếu ngươi bị đau khai thật thì Tôn Sĩ Nghị biết ta đã đến Tam Điệp tất càng đề phòng hơn nữa, hóa ra là ta tự làm hỏng kế của ta. Việc quan trọng như thế nên ta phải dè đặt chọn người.
Trần Danh Bính đáp:
- Kẻ hạ thần có một cách khiến cho Hoàng thượng tin vào lòng can đảm của thần.
Nói xong Trần Danh Bính đốt một cây đèn bạch lạp rồi giơ ngón tay út của mình lên ngọn lửa của cây đèn bạch lạp ấy. Ngón tay bị đốt của Bính phồng dần lên đổi màu vàng và bay mùi khét. Trần Danh Bính mắt mở trừng trừng mồ hôi vã ra như tấm vẫn không hề kêu lên một tiếng. Đốt một hồi Bính lấy tay ra khỏi ngọn lửa thì ngón tay út đã cháy đen như một que củi. Người chứng kiến đều lè lưỡi lắc đầu. Có kẻ khen rằng:
- Gạn dạ như Trần Danh Bính dù Quan Vân Trường đời Hán cũng không sánh kịp.
Trần Danh Bính lấy vạt áo lau mồ hôi nói:
- Dù lóc thịt chặt xương cũng không thể đau đớn hơn thế được. Xin Hoàng thượng mau thi hành diệu kế!
Vua Quang Trung mừng rỡ bảo:
- Khanh thật là người trời sai xuống để giúp quân ta đó. Vậy khanh hãy mang thư ta đến gặp Tôn Sĩ Nghị. Nghị sẽ tra khảo khanh, khanh hãy gắng chịu đau mà nói thế này… thế này… tất Tôn Si Nghị sẽ xếp giáo cất gươm ăn no ngủ say cho quân ta đến đánh. Ấy là khổ nhục kế của ta vậy.
Trần Danh Bính tuân lệnh bèn tạm biệt lên đường.


Đến Thăng Long gặp Tôn Sĩ Nghị, Nghị hỏi Bính:
- Nguyễn Huệ sai ngươi đến đây có việc gì?
Bính đáp:
- Chúa công của kẻ hạ thần khiếp đảm oai trời trong lòng sợ hãi nên sai hạ thần dâng thư xin hàng. Mong Đại tướng quân dung nạp.
Đón thư đọc xong, Nghị cười lớn hỏi:
- Nguyễn Huệ xin ta đến hết Tết Nguyên Đán là ngày mùng sáu sẽ tự thân trói mình ra Thăng Long chịu tội. Vậy ta hỏi ngươi Nguyễn Huệ đang ở đâu. Nghe quân ta đến đây hắn phản ứng thế nào.
Bính vờ sợ hãi đáp:
- Chúa công của hạ thần ở Phú Xuân ngày quên ăn, đêm bỏ ngủ. Nghe Đại tướng quân đến đây người vội sai thần đem thư xin hàng. Đại tướng quân vừa đọc thư xong sao còn hỏi?
Nghị vỗ án quát:
- Láo xược! Ta nghe người nước Nam đồn rằng Nguyễn Huệ anh hùng lão luyện vào Nam ra Bắc xuất quỷ nhập thần. Sao nay lại dễ dàng quy hàng như thế? Ngươi mau khai thật, nếu không sẽ sai quân dùng cực hình tra khảo.
Trần Danh Bính run rẩy đáp:
- Anh hùng ở An Nam cũng không sánh bằng thất phu ở đất Bắc. Huống hồ Đại tướng quân là nhân tài kiệt hiệt, Chúa công của hạ thần dám đâu chống lại oai trời.
Tôn Sĩ Nghị bảo:
- Lời ngươi nói ta vẫn chưa tin. Võ sĩ mau chặt ngón tay của nó cho ta.
Quân võ sĩ nọc Bính ra chặt đứt một ngón tay. Bính đau đớn rên la cầu xin tha tội. Nghị quát hỏi:
- Nguyễn Huệ ở Phú Xuân động tĩnh thế nào. Mau khai ra?
Bính dập đầu thưa:
- Sự thật hạ thần đã nói rồi. Xin tướng quân tha cho!
Nghị vỗ án quát:
- Chặt tay nữa cho ta.
Võ sĩ chặt đứt chín ngón tay của Bính, Bính vẫn một mực khai như thế. Tôn Sĩ Nghị bảo quân:
- Mau lôi ra ngoài chém!
Bính hỏi:
- Hai nước đánh nhau không nên chém sứ, huống hồ Chúa của hạ thần đã xin hàng sao lại chém thần.
Nghị không đáp phất tay bảo quân:
- Mau đem ra chém!
Võ sĩ lôi Bính đi, Bính ngoảnh lại mắng:
- Tôn Sĩ Nghị! Mày là phường man di mọi rợ. Không ngờ Chúa ta lại chịu hàng một thằng mọi rợ như mày.
Quân đem đầu Trần Danh Bính vào dâng trước án. Nghị hỏi:
- Trước khi bị chém Bính có nói gì chăng.
Quân đáp :
- Hắn có nói rằng: Ta bị chết thảm cũng do ta phò Chúa nhu nhược ươn hèn.
Nghị vỗ tay cười lớn bảo:
- Nguyễn Huệ quả nhiên sợ ta như cọp không dám động binh. Truyền lệnh ta cho quân ăn chơi thỏa thích trong dịp Tết Nguyên Đán, đợi đến mùng sáu tháng giêng năm Kỷ Dậu sẽ cất quân vào Phú Xuân bắt Nguyễn Huệ.


Nói về vua Quang Trung trong đại bản doanh ở ải Tam Điệp nghe quân do thám về báo:
- Tôn Sĩ Nghị chém đầu quan Chánh Sứ Trần Danh Bính. Nghị lại cho quân ăn chơi thỏa thích trong dịp Tết Nguyên Đán. Nghe quân Thanh đồn rằng mùng sáu sẽ cất quân vào Phú Xuân bắt Bệ hạ.
Vua Quang Trung vỗ tay bảo:
- Tôn Sĩ Nghị quả nhiên trúng kế. Nhưng ta không ngờ nước Tàu tự xưng là văn hóa xem bốn bên là Bắc rợ, Nam man, Tây di lại đi chém sứ của ta. Thương thay Trần Danh Bính! Phen này phải bắt Tôn Sĩ Nghị báo thù Trần Danh Bính!
Đặng Văn Long hỏi:
- Vậy Bệ hạ còn chờ gì mà chưa xuống lệnh xuất quân?
Vua Quang Trung đáp:
- Chưa được!
- Vì sao chưa được?
- Hiện có năm mươi tên quân Thanh do thám ở cách ải Tam Điệp hai mươi dặm, nếu ta tiến binh bọn do thám này chạy về báo tin cho Trương Triều Long ở Hạ Hồi thì quân cơ bại lộ, và Trần Danh Bính phải chết vô ích. Vậy phải tiêu diệt bọn quân do thám này thì trong ngoài kín mít như bưng. Ta đến nơi mà Tôn Sĩ Nghị không hề hay biết.
Phan Văn Lân bước ra thưa:
- Thần xin đem hai trăm quân đi giết hết bọn do thám này.
Vua Quang Trung xua tay nói:
- Không được. Quân Thanh cưỡi giống ngựa phương Bắc cao lớn chạy nhanh, ngựa của ta không thể nào đuổi kịp. Nếu Văn Lân tiến đánh thế, nhất định cũng có tên thoát được.
Võ Đình Tú bước ra tâu:
- Xin Bệ hạ cho thần mượn một vật. Thần sẽ đơn thân độc mã ra bắt năm mươi tên quân do thám ấy.
Vua Quang Trung hỏi:
- Đình Tú muốn mượn vật gì?
Tú đáp:
- Thần xin mượn ngựa Xích kỳ của Nguyễn Văn Tuyết!
Vua Quang Trung lại hỏi :
- Nếu khanh để quân do thám này có một tên thoát được làm lộ quân cơ của ta thì thế nào?
Tú đáp:
- Thần xin chịu mất đầu theo tướng lệnh.
Vua Quang Trung cả mừng nói:
- Phiền Văn Tuyết hãy cho Đình Tú mượn ngựa Xích Kỳ.

Nói xong rót rượu tiễn Võ Đình Tú. Tú cưỡi ngựa Xích Kỳ nhằm hướng Bắc trực chỉ. Gặp toán quân Thanh do thám, Tú chẳng nói chẳng rằng vung côn đồng xông vào đánh giết. Quân Thanh hò nhau vây Đình Tú vào giữa, Tú tả xung hữu đột côn lia đến đâu địch quân phọt óc vỡ đầu. Đánh một hồi quân Thanh chết hơn phân nửa, còn lại hai mươi tên hò nhau bỏ chạy. Ngựa Xích kỳ phi mau quá, quân Thanh hốt hoảng bỏ chạy tứ tán. Đình Tú nhanh tay lẹ mắt, gần thì vung côn đánh chết, xa thì trương cung xạ tiễn, năm mươi tên quân Thanh do thám đều tử trận dưới tay Tú. Tú liền nhảy xuống ngựa cắt năm mươi cái đuôi tóc của bọn quân Thanh rồi lên ngựa phi về báo với vua Quang Trung rằng:
- Tâu Hoàng thượng, thần đã giết xong năm mươi tên quân Thanh do thám.
Vua Quang Trung hỏi:
- Lấy gì làm chắc rằng khanh đã giết hết năm mươi tên quân Thanh do thám đó.
Đình Tú liền gọi quân mang vào bó tóc đuôi sam rồi nói:
- Đủ năm mươi cái không thiếu cái nào. Xin Hoàng thượng xem xét.
Vua Quang Trung mừng rỡ khen:
- Vũ dũng như Đình Tú thật là hiếm có. Khanh đã lập được công đầu trong cuộc đại phá quân Thanh rồi vậy. Các tướng hãy sẵn sàng nghe lệnh.
Mọi người đồng thanh nói:
- Chúng thần đang chờ lệnh giết giặc cứu dân.
Vua Quang Trung bảo:
- Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết đem trăm đại thuyền và một vạn quân theo đường bể ra Bắc vào sông Lục Đầu. Đến nơi hai tướng chia quân làm hai cánh, Nguyễn Văn Tuyết dùng thủy binh đánh chiếm đất Hải Dương ở phía Đông thành Thăng Long, phô trương thanh thế làm kế nghi binh, khiến Tôn Sĩ Nghị sợ không dám theo đường biển chạy về nước. Nguyễn Văn Lộc đem quân bộ đi gấp lên Kinh Bắc đến làng Phương Nhãn chiếm núi Yên Thế rồi án binh bất động chờ Tôn Sĩ Nghị chạy về thì đổ ra đánh bắt cho được Tôn Sĩ Nghị.
Lộc và Tuyết bước ra lãnh lệnh. Vua Quang Trung dặn :
- Văn Lộc đến phục ở núi Yên Thế vào đêm mùng bốn tết. Nếu chậm hơn, chém!
Lộc sợ hãi quỳ tâu:
- Hoàng thượng muốn giết, thần xin được chết ở đây chứ hạ thần không dám lãnh trọng trách này.
Vua Quang Trung cười hỏi:
- Ta lựa người vũ dũng chặn đường về bắt Tôn Sĩ Nghị. Năm xưa Lộc bị Đông Sơn Đỗ Thành Nhân vây ở ấp Hòa Hưng một đánh hai mà lui được giặc, sao nay lại lo sợ thế?
Đoạn vua than rằng:
- Thế mới biết cái oai của nước Tàu thật là to lớn vậy!
Văn Lộc tức tối nói:
- Nước Tàu đã từng bị cha ông ta đánh ôm đầu chạy về nước thì có gì thần phải sợ chúng. Nhưng thần e rằng trong bốn ngày không thể đến được Yên Thế mà thôi.
Vua Quang Trung hỏi:
- Vì sao trong bốn ngày không đến được Yên Thế.
Lộc đáp:
- Thần và Nguyễn Văn Tuyết là hai tướng thủy binh nên rất rõ việc này. Nay đang là tháng chạp mưa phùn gió bấc, từ đây đến cửa Lục Đầu vào Yên Thế đường xa diệu vợi, ngược hướng gió không thể trong bốn ngày mà đến nơi cho được.
Vua Quang Trung hỏi:
- Nếu trong ngày mùng bốn có gió Đông nam thổi mạnh thì đến đêm có thể đến được Yên Thế được chăng.
Nguyễn Văn Lộc đáp:
- Nếu vậy chắc chắn là đến kịp để bày trận mai phục.
Vua Quang Trung hạ lệnh:
- Tuyết và Lộc hãy lãnh binh phù lập tức xuất quân. Gió Bấc nhẹ thì sai quân dùng chèo mà đi, gió Bấc mạnh thì dong buồm theo hình chữ chi mà tiến. Đầu giờ Ngọ ngày mùng ba tết sẽ có gió Đông nam thổi mạnh đến giờ Ngọ ngày mùng bốn tết. Nếu không đến nơi kịp chặn đường về của Tôn Sĩ Nghị lệnh chém đầu.
Nguyễn Văn Tuyết vểnh râu hỏi:
- Xin hỏi Hoàng thượng mùa này mưa phùn gió Bấc hơi lạnh cắt da thì lấy đâu ra gió Đông nam. Và nếu không có gió Đông nam thì thế nào?
Vua Quang Trung cười đáp:
- Nếu đến ngày ấy mà không có gió Đông nam hai tướng cứ kéo quân về. Ta lấy lý gì mà bắt tội hai tướng được.
Nguyễn Văn Lộc xen vào hỏi:
- Nếu đúng vậy thần sẽ chặn đường về của Tôn Sĩ Nghị trong đêm mùng bốn. Vậy Hoàng thượng nghĩ rằng chỉ trong năm ngày ta đuổi quân Thanh ra khỏi Thăng Long sao? Trong lúc quân chúng đông gấp ba lần quân ta.
Không trả lời Văn Lộc, vua Quang Trung hỏi:
- Nếu trong năm ngày ta đuổi Tôn Sĩ Nghị ra khỏi Thăng Long chạy về Yên Thế mà Văn Lộc không bắt được Tôn Sĩ Nghị thì thế nào?
Lộc đáp:
- Nếu Hoàng thượng làm được điều kỳ diệu thế, mà Lộc tôi không bắt được Tôn Sĩ Nghị, xin chịu tội theo quân pháp.
Vua Quang Trung trao binh phù cho Văn Lộc xong, quay sang Văn Long vua bảo:
- Đặng Văn Long và Đặng Xuân Phong đem ba vạn quân theo đường núi ở phía Tây đường đại lộ, đến làng Nhân Mục đánh vào đồn Khương Thượng ở phía Tây nam thành Thăng Long. Chiếm được Khương Thượng rồi Long và Phong phải thừa thắng đánh Thăng Long, đuổi Tôn Sĩ Nghị. Mất Thăng Long, quân của Thượng Duy Thăng ở Ngọc Hồi và Trương Triều Long ở Hà Hồi tất không còn đường rút. Phen này ta quyết tiêu diệt quân xâm lược Mãn Thanh báo thù cho dân ta mới hả dạ. Đánh trận này là nhờ vào trọng trách của hai ngươi, phải tốc chiến tốc thắng. Nếu đến ngày mùng năm tết Kỷ Dậu không chiếm được thành Thăng Long, chém!
Đặng Văn Long nói mát rằng:
- Xét theo lẽ quân thần, hạ thần và Hoàng thượng là nghĩa vua tôi. Xét theo tình riêng, thần với đại sư huynh là huynh đệ đồng sư môn thọ giáo thầy Trương Văn Hiến thuở còn để chỏm. Nếu Đại sư huynh bảo chết, Văn Long tôi xin chết, cần gì phải mượn quân pháp để giết hạ thần.
Vua Quang Trung cười hỏi:
- Sao Văn Long lại bảo là ta muốn giết khanh?
Long đáp:
- Đường đến làng Nhân Mục là đường núi quanh co khúc khuỷu xa đến bốn trăm dặm thì làm sao đi trong bốn ngày mà đến nơi cho được. Chẳng phải là Đại sư huynh muốn giết Long tôi sao?
Vua Quang Trung lại hỏi:
- Đường đến Phương Nhãn, Yên Thế còn xa hơn Khương Thượng rất nhiều mà Nguyễn Văn Lộc dám lãnh mạng đi trong bốn ngày, sao đến Khương Thượng Văn Long lại không dám?
Đặng Văn Long cãi:
- Đường đến Yên Thế tuy xa nhưng đi bằng đường thủy có thể vừa ăn vừa tiến. Còn bộ binh phải dừng quân để nấu ăn, do vậy trong bốn ngày không thể đến nơi được.

Vua Quang Trung gọi quân mang vào một cái bánh, ngoài gói lá chuối đặt lên án rồi nói:
- Việc này ta đã liệu trước nên mới sai người nấu bánh chưng thành hình ống vừa vặn tay cầm gọi là bánh tét. Văn Long cứ việc hành quân, dùng bánh tét thay cơm không cần nghỉ ngơi để nấu ăn. Vậy trong bốn ngày có thể đến Khương Thượng được chưa?
Đặng Xuân Phong xen vào nói:
- Đành rằng bốn ngày có thể tới nơi, nhưng quân ta đi suốt ngày đêm tướng sĩ mỏi mệt sao đánh thắng quân Thanh đang nghỉ ngơi khỏe khoắn được. Binh pháp có câu không lấy quân mệt mà đánh quân khỏe. Xin Hoàng thượng xét lại.
Vua Quang Trung cười bảo:
- Binh thư là cái ai cũng có thể học được. Đánh giặc ngoài binh thư mới bất ngờ chắc thắng. Việc này ta đã tính trước nên mới sai người làm thật nhiều võng. Nay ta cấp cho đạo quân của ngươi, cứ ba người một cái võng; hai người khiêng một người nằm ngủ, thay phiên nhau mà đi. Một ngày gồm mười hai canh giờ, vậy một người vẫn ngủ được bốn canh giờ mà hành quân ngày đêm không nghỉ. Quân ta đến nơi đúng thời gian quy định mà tướng sĩ vẫn mạnh khoẻ như thường.
Đặng Văn Long và Đặng Xuân Phong đồng thanh nói:
- Hoàng thượng liệu việc như thần. Danh tướng từ cổ chí kim không ai sánh kịp.
Nói rồi liền bước ra lãnh lấy binh phù.
Vua Quang Trung vỗ án đứng lên chỉ về phương Bắc cao giọng rằng:
- Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân lãnh ấn tiên phong đánh hai thành Hà Hồi và Ngọc Hồi. Ta và Võ Đình Tú, Đặng Xuân Bảo cầm trung quân tùy cơ tiếp ứng. Hẹn ngày mùng năm tết cùng vào đến Thăng Long. Truyền lệnh ta quân các đạo lập tức xuất binh.
Quân Tây Sơn đúng giờ giao thừa năm Mậu Thân - Kỷ Dậu (1789) ngựa cất lạt, người ngậm tăm âm thầm mà tiến.


***
Chương 52

Sầm Nghi Đống treo cổ gò Cây Đa
Tôn Sĩ Nghị chật cầu phao sông Nhị Hà

Vua Quang Trung đem quân đến đồn Hạ Hồi vào lúc nửa đêm. Nhìn vào đồn thấy quân kỳ xiêu vẹo, điếm canh trống trải, trong ngoài im ắng, bốn bên phẳng lặng như tờ. Vua Quang Trung bảo Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân:
- Phan Văn Lân đem một cánh quân ra vây mặt Bắc, Ngô Văn Sở đem một cánh quân đến vậy mặt Đông, khi nào nghe loa của ta gọi hàng thì bảo quân đồng loạt dạ rân.
Sở và Lân tuân lệnh lập tức thi hành.
Nói về tướng tiên phong của quân Thanh là Trương Triều Long đem năm vạn quân đông ở đồn Hạ Hồi. Nhân dịp tết Nguyên đán, Trương Triều Long cùng các thuộc hạ ăn uống no say. Tả hữu can rằng:
- Đành rằng này là tết Nguyên đán ai cũng chào đón ăn mừng, nhưng xin tướng quân hay khá đề phòng quân Tây Sơn bất ngờ đánh tới.
Trương Triều Long cả cười nói:
- Ngươi quá lo xa đó thôi. Quân Tây Sơn nào dám đến đánh? Khi quân ta kéo đến ải Nam Quan, Ngô Văn Sở vắt giò lên cổ, không dám dừng quân nấu ăn, phải nhai gạo sống mà chạy một mạch về Tam Điệp. Nguyễn Huệ nghe Tôn Đại tướng quân định mùng sáu tết Kỷ Dậu sẽ cất quân vào bắt tội, sợ đã mất mật nên mới sai Trần Danh Bính làm sứ giả đến xin Tôn Đại tướng quân rằng: "Mùng sáu tết sẽ tự trói ra hàng". Tôn đại tướng quân thị uy chém đầu Trần Danh Bính, ta e rằng hiện Nguyễn Huệ đang lo sợ mà sinh bệnh đừng nói gì đến việc đánh ta. Vả lại ta đã sai năm mươi quân do thám dò xét địch tình ở Tam Điệp, thấy quân Tây Sơn vẫn án binh bất động, vậy các ngươi cứ cùng ta ăn uống no say chớ ngại gì cả.
Trương Triều Long vừa dứt lời bỗng nghe ngoài đồn có tiếng rền vang như sấm. Trương Triều Long thất kinh hỏi:
- Ngoài kia có chuyện gì thế?
Quân canh hớt hải chạy vào báo rằng:
- Thưa tướng quân, giặc Tây Sơn đã bao vây tứ phía, bắc loa gọi hàng, tiếng quân giặc dạ ran như sấm. Quân ta đang say ngủ giật mình thức giấc sợ hãi rối loạn cả lên.
Trương Triều Long tỉnh rượu bàng hoàng than:
- Thôi chết. Ta đã trúng kế của Nguyễn Huệ rồi. Nhưng còn quân do thám của ta đâu, sao không thấy về báo tin?
Than rồi liền nai nịt cầm đao lên ngựa bảo quân:
- Chúng bay không được náo động, theo ta phá vây, chạy về Ngọc Hồi cùng Tả dực Thượng Duy Thăng.

Quân Thanh theo Trương Triều Long liều mình sống ra cửa Bắc, gặp tên, đạn quân Tây Sơn bắn vào chết thôi như rạ. Trương Triều Long cầm khiên đỡ tên đạn cùng quân tin cẩn cố phá vòng vây mà chạy. Bỗng nghe tiếng hét lớn:
- Trương Triều Long chạy đâu cho thoát!
Trương Triệu Long giật mình nhìn kỹ hoá ra là Phan Văn Lân lướt ngựa đến chặn đường. Trương Triều Long mắng Văn Lân rằng:
- Ta dù thất thế lại không giết được một thằng học trò như ngươi sao?
Phan Văn Lân cười lớn nói:
- Hôm trước ở bờ sông Như Nguyệt ta ít quân nên bại trận chạy về. Hôm nay ta sẽ cho ngươi biết học trò nước Nam dùng võ như thế nào!
Nói xong hai đàng kẻ vung đao, người khua thương xáp chiến. Mời vài hiệp Trương Triều Long bị Phan Văn Lân đâm một thương nhằm ngày yết hầu ngã ngựa chết tươi. Quân Thanh thấy chủ tướng chết liền vứt giáo xin hàng. Chiếm thành Hạ Hồi xong, vua Quang Trung lệnh quân thừa thắng tiến đánh Ngọc Hồi.
Tướng Thanh là Tả dực Thượng Duy Thăng đem năm vạn quân trấn giữ Ngọc Hồi. Sáng mùng ba tết Kỷ Dậu quân thám mã về báo cùng Thượng Duy Thăng:
- Thưa tướng quân, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy nửa đâm vây đánh Hạ Hồi, quân ta đang ngủ bị bất ngờ trở tay không kịp. Tướng quân Trương Triều Long tự trận, quân sĩ lớp chết, lớp hàng, không một ai chạy thoát. Hiện quân Tây Sơn đang tiến đến cách thành chừng vài dặm. Xin tướng quân định liệu.
Thượng Duy Thăng giật mình bảo tả hữu:
- Mau sai người về Thăng Long báo tin cùng Tôn Đại tướng quân và xin binh tiếp viện. Ba quân mau chỉnh đốn hàng ngũ phòng thủ kỹ càng.
Nói rồi Thượng Duy Thăng thân lên dài quan sát, thấy quân Tây Sơn đã tiến đến ngoài đồn.
Thượng Duy Thăng cầm cờ lệnh phất lên, súng lớn súng nhỏ quân Thanh nhất tề nhả đạn. Quân Tây Sơn không tiến lên được liền đặt đại bác bắn trả, súng nổ rầm trời, khắp chiến địa mịt mù khỏi lửa. Vua Quang Trung cưỡi voi đứng trên gõ cao quan sát nói với tả hữu rằng:
- Quân Thanh súng lớn bắn xa, hoả lực rất mạnh. Ta nên thu quân tìm kế khác đánh thành mới được.
Nói rồi truyền quân đánh trống thu binh lui năm dặm hạ trại. Vua Quang Trung bảo:
- Ngô Văn Sở mau kén lấy 600 tinh binh đảm lược, võ nghệ hơn người lập thành quân cảm tử sẵn sàng đợi lệnh.
Ngô Văn Sở tuân mệnh đi ngay. Vua lại truyền:
- Phan Văn Lân mau sai quân dùng ván gỗ đóng ghép lại thành từng tấm cao 5 thước, rộng 20 thước phải làm cho đủ 50 tấm, lại lấy rơm ướt che phủ mặt ngoài, xong việc đến đây nhận lệnh.
Phan Văn Lân lãnh lệnh đi ngay. Hồi lâu Ngô Văn Sở về báo:
- Tâu Hoàng thượng, quân cảm tử đã chọn xong đang chờ lệnh.
Phan Văn Lân về báo:
- Tâu Hoàng thượng, ván đã ghép xong, xin xuất lệnh xuất quân.
Vua Quang Trung bảo:
- Các ngươi cứ án binh bất động, dụng cụ chuẩn ở sẵn sàng, chờ có gió Nồm rồi mới đánh.
Phan Văn Lân nóng lòng hỏi:
- Quân bộ ta giáp chiến, mạnh được yếu thua, sa lại chờ gió Nồm?
Vua Quang Trung cười đáp:
- Quân ta đánh tất phải thắng. Nhưng ta muốn đánh thế nào khiến quân địch không còn đường rút và bị tiêu diệt hoàn toàn. Đánh như thế nào cho sau lần thua trận quân giặc sẽ kính hồn bạt vía, không còn dám lăm le dòm ngó nước ta. muốn vậy phải chờ có gió Nồm rồi mới đánh.
Võ Đình Tú hỏi:
- Vì sao có gió Nồm ta lại tiêu diệt hoàn toàn quân địch?
Vua Quang Trung chỉ tay ra hướng Đông đáp:
- Thuỷ binh Tuyết và Lộc đang chờ gió Nồm xuôi thuyền ra Bắc vào cửa Lục Đầu. Tuyết dùng quân thuỷ chặn mặt Đông, Lộc đem quân bộ mai phục tại núi Yên Thế. Các ngươi đã biết vì sao ta chờ gió Nồm rồi mới đánh hay chưa?
Đặng Xuân Bảo nghi ngờ hỏi:
- Nếu không có gió Nồm thì sao?
Bảo vừa dứt lời, quân cận vệ la lên:
- Đã có gió Nồm! Đã có gió Nồm!
Mọi người nhìn theo hướng chỉ tay của bọn quân sĩ. Lá cờ đỏ mặt trời vàng đã phấp phới trỏ ra hướng Bắc.
Ngô Văn Sở Phan Văn Lân, Võ Đình Tú, Đặng Xuân Báo đồng thanh tâu:
- Hoàng thượng thật là thánh sống, du Hưng Đạo Đại vương có sống lại cũng không thể nào bì kịp. Xin Hoàng thượng xuống lệnh tấn công!
Vua Quang Trung lại xua tay bảo:
- Chưa được!
Các tướng ngạc nhiên đưa mắt nhìn nhau. Vua Quang Trung nói:
- Tôn Sĩ Nghị không thể ngờ ta đoán biết gió Nồm điều thuỷ binh ra Bắc và hắn lại càng không thể ngờ trong bốn ngày quân ta có thể đến nơi đánh thành Khương Thượng. Nghị tất sẽ điều binh vào cứu viện Ngọc Hồi, bỏ trống thành Thăng Long cho Văn Long từ Khương Thượng đánh xuống. Hãy chờ thêm chờ thuỷ binh của Lộc và Tuyết đến nơi và Đặng Văn Long đánh Khương Thượng rồi ta sẽ tiến đánh Ngọc Hồi.
Các tướng lại đồng thanh bảo:
- Hoàng thượng dụng binh không mảy may sai lệch. Chúng thần xin bái phục!


° ° °

Nói về đạo quân Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Lộc đem thuỷ binh theo đường biển ngược sông gió chậm chạp tiến quân. Lộc bảo Tuyết:
- Nếu chèo mãi thế này biết bao giờ mới đến được Yên Thế chặn đường Tôn Sĩ Nghị?
Tuyết đáp:
- Hoàng thượng bảo ngày hôm nay sẽ có gió Nồm ta tất đến nơi đúng giờ quy định.
Tuyết vừa dứt lời, gió Bấc đang thổi mạnh bỗng giảm dần rồi ngừng hắn. Trời quang mây tạnh nắng ấm chói chang, gió Nồm từ đâu thổi đến lồng lộng. Nguyễn Văn Lộc phấn khích bảo:
- Hoàng thượng của ta đúng là tiên giáng thế. Quân bay lập tức càng buồm. Tôn Sĩ Nghị phen này ắt không còn đường thoát vậy!
Thuyền Tây Sơn thuận gió Nồm ào ào rẽ sóng tiến về hướng Bắc.

° ° °

Nói về đạo quân Tây Sơn do đại Đô đốc Đặng Văn Long và đô đốc Đặng Xuân Phong theo đường núi mà tiến đến làng Nhân Mục. Quân Tây Sơn cứ ba người một cái vòng thay phiên nhau hai người khiêng một người nghỉ, hành quân đêm ngày không nghỉ, khi đói lột bánh tét mà ăn. Quân Tây Sơn vừa đi vừa bảo nhau rằng:
- Hành quân không dừng lại để ăn, ngủ mà vẫn được ăn, ngủ. Hoàng thượng thật là thần cơ diệu toán.
Đến gần đón Khương Thượng, Đặng Văn Long bảo quân:
- Mau đẹp bỏ võng, bí mật tiến đánh Khương Thượng.
Tướng Thanh giữ đón Khương Thượng là Sầm Nghi Đống đang ngủ bỗng giật mình thức giấc vì tiếng súng nổ ầm ầm, đạn bay đã vỡ. Quân hớt hải vào báo:
- Thưa tướng quân, giặc Tây Sơn từ đâu đổ ra đánh phá dữ đôi. Xin tướng quân định liệu.
Sầm Nghi Đống kinh hồn bạt vía nói:
- Ngày 30 tết chúng án binh bất động ở Tam Điệp, nay mới mùng bốn tết sao chúng đến đây được. Tướng của chúng từ trên trời rơi xuống, quần của chứng từ dưới đất chui lên hay sao mà mau thế. Truyền quân mau theo ta ra ngoài nghênh chiến.

Quân Tây Sơn ùa vào thành như thác đổ, tung hoả hổ mà đốt, lửa cháy rực trời, tiếng trống rền vang, tướng quân reo tở mở. Quân Thanh đương không nổi bị giết rất nhiều, quăng gươm tháo chạy. Sầm Nghi Đống liệu thế không xong bên bờ đồn đem tàn quân chạy về Thăng Long. Đặng Văn Long xua quân đuổi theo truy sát. Thương thay sáu vạn quân Thanh ở Khương Thượng chết thôi như ra, người nó gọi người kia, thây chất thành đống, máu chạy thành khe, sát khí ngất trời, mùi tanh hôi vạn dặm.

Sầm Nghi Đống dẫn quân chạy được năm dặm, bỗng thấy một đạo quân Tây Sơn kéo ra chặn mất đường về, đi đầu là một viên dũng tướng mặc chiến bào đen, mặt đen như nhọ, cầm côn sắt đen, cưỡi ngựa đen. Tướng ấy quát lên như sấm:
- Sầm Nghi Đống chạy đâu cho thoát! Mau xuống ngựa quy hàng, có ta là đô đốc Đặng Xuân Phong chờ ngươi đã lâu.
Sầm Nghi Đống kinh hoàng than:
- Quả nhiên tướng Tây Sơn người mọi đến như than nên chúng đi đường núi mau quá chặn mất đường về, vậy phải liều diệt mà đánh mới được!
Đặng Xuân Phong cười ha hả nói:
- Ngươi bảo ta là mọi, vậy Uất Trì Cung hiệu Kính Đức tướng nhà Đường bên Tàu của ngươi cũng là mọi rợ hay sao?
(Vì câu nói ấy và thấy Đặng Xuân Phong bề ngoài giống Uất Trì Cung nên từ ấy trong quân thường gọi Đặng Xuân Phong là "Trại Kính Đức").
Nói đoạn, Đặng Xuân Phong xua quân đánh giết, phía sau lưng Đặng Văn Long đuổi tràn tời.

Quân Tây Sơn thẳng tay tàn sát, quân Thanh không đường chống đỡ kêu khóc vang trời. Có tên quân bảo Sầm Nghi Đống rằng:
- Thưa tướng quân, ở bên đường có một cái gò đất trên gò ấy có cây đa cổ thụ mọc ùm tùm, người quanh vùng gọi là gò Cây Đa. Xin tướng quân mau chạy đến chỗ gò Cây Đa cố thủ chờ viện binh.
Sầm Nghi Đống liền té ngựa chạy về gò Cây Đa, chạy theo còn chừng ngàn quân tin cẩn. Đặng Văn Long trông thấy bảo Đặng Xuân Phong:
- Đệ đuổi theo vây bắt Sầm Nghi Đống, ta thừa thắng tiến đánh Thăng Long.
Nói đoạn anh em họ Đặng chia nhau mà đánh. Đặng Xuân Phong đem quân vậy Cây Đa, hô quân tiến lên giáp chiến. Sầm Nghi Đống liệu bề không thoát được bên bảo quân rằng:
- Phận ta làm tướng của nhà Đại Thanh thua binh chịu chết đã đành, còn các ngươi, sau khi ta chết đi ba quân hãy đầu hàng quân Tây Sơn may ra tìm được con đường sống.
Vài trăm quân hộ vệ quỳ lạy Sầm Nghi Đống, khóc rằng:
- Bọn chúng tôi mang nặng ơn sâu của tướng quân, sống theo tướng quân mà chết cùng theo tướng quân vậy.

Khi Đặng Xuân Phong dẫn quân đến nơi thì thấy Sầm Nghi Đống đã treo cổ trên cành đa mà tự tử, còn vài trăm quân cận vệ đều đâm cổ chết theo chủ tướng.
Đặng Xuân Phong cảm kích nói:
- Cuộc chiến nào cũng có kẻ tà người chính, kết cuộc phải có bên bại bên thắng. Nhưng tấm lòng trung dũng của tướng sĩ họ Sâm thật đáng phục thay!

Khi quân Nam đuổi được quân Thanh về nước, bọn trẻ chăn trâu ra gò Cây Đa thường hát rằng: "Ông Đống treo cổ cây đa!". Vì câu hát ấy, về sau quen miệng nên người nước Nam mới đặt tên gò ấy là gò Đống Đa. Về sau, người khách trú ở Thăng Long lập đền thờ ở ngõ Sầm Công sau Hàng Buồm.

Người đời sau là nữ sĩ Hồ Xuân Hương khi đi ngang qua đến thờ Sầm Nghi Đống bên viết bài thơ vịnh rằng:

Ghé mắt trông qua thấy bảng treo.
Kìa đền thái thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được.
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu!

Ấy là việc của đời sau!


° ° °

Nhắc lại Tôn Sĩ Nghị đang vui đón tết ở Thăng Long. Trên bàn tiệc cao lương mỹ vị ê hề, trong trướng phủ mỹ nữ xiêm y lộng lẫy. Bỗng quân ở đồn Ngọc Hồi về cấp báo:
- Thưa Đại tướng quân, Nguyễn Huệ dẫn quân nửa đêm tiến lên vậy đồn Hạ Hồi không một ai hay biết. Tướng quân tiên phong Trương Triều Long tử trận. Nguyễn Huệ lại kéo quân đến đánh Ngọc Hồi, tướng quân Thượng Duy Thăng xin Đại tướng quân điều binh cầu viện.
Tôn Sĩ Nghị nghe qua như sét đánh ngang mày, giật mình nói:
- Trần Danh Bính bị tra khảo đến chết vẫn một mực khai rằng Nguyễn Huệ con run rẩy ở Phú Xuân chờ mùng sáu tết sẽ ra hàng. Sao nay Nguyễn Huệ lại tiến binh đánh ta? Nếu Huệ dùng khổ nhục kế để gạt ta thì kế khổ nhục này thật là kế lạ. Hứa Thế Hanh mau đem năm vạn quân cầu viện Ngọc Hồi.
Hứa Thế Hanh đi rồi quân thám mã mặt Đông về báo:
- Thưa Đại tướng quân, tướng Tây Sơn là đô đốc Nguyễn Văn Tuyết đem quân theo đường thuỷ chiếm lấy Hải Dương, hiện đang vào uy hiếp mặt Đông thành Thăng Long.
Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ ra lệnh:
- Tuỳ tướng Tôn Đường Bảo mau đem hai vạn quân ra phía Đông thành tìm chỗ hiểm yếu chặn giặc.
Tôn Đường Bảo chưa kịp nhận lấy binh phù, bỗng nghe phía Tây súng nổ ầm ầm, nhìn ra phía ấy thấy lửa cháy rực trời, quan hò reo inh ỏi. Một viên tiểu tướng hổn hển chạy vào bảo rằng:
- Thưa Đại tướng quân, tướng giặc Tây Sơn là đại Đô đốc Đặng Văn Long đem quân theo đường núi đánh úp đồn Khương Thượng. Tướng quân Sầm Nghi Đống đương không nổi phải treo cổ tự vẫn. Hiện quân Tây Sơn đã vào cửa Tây thành đánh giết lung tung, quân ta không còn tinh thần chiến đấu, hoảng loạn mà chạy. Xin Đại tướng quân định liệu.

Tôn Sĩ Nghị lực ấy không còn hồn vía nào nữa, bủn rủn chân tay, kinh tâm tán đởm, nhanh tay chụp lấy cái tráp đựng văn thư ấn tín rồi chạy ra ngoài nhảy lên mình ngựa cầm cương toan ra roi. Tôn Dương Bảo chạy theo hỏi:
- Sao Đại tướng quân không mặc giáp trụ?
Nghị đáp:
- Nước đã đến trôn mà còn mặc giáp trụ nỗi gì! Mau đem quân hộ vệ ta chạy về nước kéo không còn tính mạng.
Nói rồi nhằm cửa Bắc thành Thăng Long mà chạy, Tôn Đường Bảo không biết làm thế nào đành đem mấy trăm quân cận vệ chạy theo chủ tướng. Quân Thanh thấy chủ tướng bỏ quân mà chạy thì tán loạn chạy theo. quân Tây Sơn ùa vào thành tha hồ chém giết.
Đặng Văn Long bảo quân hô lớn rằng:
- Bắt sống Tôn Sĩ Nghị báo thù Trần Danh Bính.
Tôn Sĩ Nghị nghe vậy càng hoảng sợ, cắm cổ quất ngựa chạy dài. Ra khỏi thành rồi qua cầu phao bắc ngang sông Nhị Hà, Tôn Sĩ Nghị bảo Tồn Đường Bảo rằng:
- Sống Nhị Hà vừa rộng vừa sâu, ngươi hãy mà chặt dứt cầu này ắt quân Tây Sơn không thể truy đuổi kịp ta được.
Tôn Đường Bảo hỏi:
- Quân ta vừa qua cầu được chừng hơn một vạn nếu chặt đứt cầu còn tính mạng mười vạn quân ta bên ấy đành giao cho giặc Tây Sơn hay sao?
Nghị đáp:
- Quân Tây Sơn hành bình thần tốc, nếu không chặt cầu, chúng đuổi theo thì ta và ngươi phải chết kể gì quân sĩ. Mau theo lệnh ta quay lại chặt cầu.
Tôn Đường Bảo vâng lời quay lại chặt đứt cầu phao sông Nhị.
Thương thay hàng mấy vạn quân Thanh rớt xuống sông chết đuối nhiều đến nỗi sông Nhị Hà rộng đến mấy dặm mà bị nghẽn nước không chảy được.



***
Chương 53

Thượng Duy Thăng vùi thây đầm Mực
Tôn Sĩ Nghị bỏ ấn giữ thân

Vua Quang Trung đóng quân tại phía Nam thành Ngọc Hồi. Ngày mùng bốn tết Kỷ Dậu (1789) quân do thám vào đại bản doanh báo rằng:
- Tâu Hoàng thượng, đại đô đốc Đặng Văn Long đã chiếm đón Khương Thượng, tướng giặc Sầm Nghi Đống treo cổ tự vẫn. Hiện đại đô đốc Văn Long đang tiến đánh Thăng Long.
Vua Quang Trung vỗ tay bảo:
- Mất Khương Thượng tất Tôn Sĩ Nghị phải bỏ Thăng Long mà chạy. Năm vạn quân của Thượng Duy Thăng ở Ngọc Hồi sẽ không còn đường rút. Thượng là cao, Thăng là bay, hắn muốn bay lên cao, ta sẽ vùi thây hắn tại đầm Mực cho người Tàu biết nước Nam ta đánh giặc như thế nào!
Đoạn vua gọi:
- Võ Đình Tú!
Tú đứng lên đáp:
- Có!
Vua hạ lệnh:
- Khanh hãy đem hai ngàn quân tinh nhuệ, dùng thuyền nhỏ theo sông Tô Lịch đến huyện Quỳnh Đô ở phía Bắc Ngọc Hồi rồi án binh bất động. Khi Thượng Duy Thăng thua trận chạy về thì khua chiêng nổi trống làm kế nghi binh, Thượng Duy Thăng tất theo đường đê Yên Duyên chạy vào đầm Mực. Khi thấy giặc chạy vào đến Yên Duyên rồi, Tú lập tức đem quân ra Bắc đánh quân tiếp viện của Hứa Thế Hanh.
Võ Đình Tú bước ra lãnh lấy binh phù. Vua Quang Trung gọi:
- Đặng Xuân Bảo!
Bảo bước ra đáp:
- Có!
Vua hạ lệnh:
- Khanh mau đem một ngàn quân và một trăm thớt voi theo đường núi Sơn Minh đến làng Đại Áng sau đó ra phục quân bên đầm Mực. Khi thấy Thượng Duy Thăng dẫn quân lội băng qua đầm Mực, lập tức lừa voi xuống dìm chúng trong đầm Mực cho ta.
Đặng Xuân Bảo lãnh lấy binh phù đi ngay.

Đoạn vua tuốt gươm đứng lên nói lớn:
- Truyền lệnh ta lập tức xuất binh đánh Ngọc Hồi. Phan Văn Lân và Ngô Văn Sở cứ ý lời ta dặn mà làm.
Phan Văn Lân dùng một ngàn tinh binh, chia nhau cứ hai mươi người khiêng một tấm ván phủ rơm dàn hàng ngang đi trước. Ngô Văn Sở đem một vạn quân khom mình nắp sau tấm vẫn ấy tiến vào đồn Ngọc Hồi. Tướng Thanh là Thượng Duy Thăng thấy quân Tây Sơn cứ lừ lừ mà tiến, liền bảo quân:
- Chờ chúng đến gần tầm đạn rồi nhất tề nổ súng.

Quân Thanh bắn tên đạn ra như cát vãi. Quân Tây Sơn không hề nao núng cứ thế tiến lên. Thấy vậy Thượng Duy Thăng bảo quân rằng:
- Mau bắn tên lửa ra, ván gặp lửa tất phải bị cháy.
Quân Thanh lại dùng tên lửa nhằm quân Tây Sơn mà bắn. Tên lửa gặp rậm ướt phụ ngoài tấm ván liền tắt ngấm. Hai bên giáp trận, Phan Văn Lân hạ lệnh:
- Mau liệng ván giáp chiến.
Quân Tây Sơn xô ván, nhất loạt rút vũ khí tràn vào tựa nước vỡ bờ, thế như mãnh hổ. Quân Thanh rối loạn hàng ngũ, mạnh ai nấy chạy. Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân thúc quân đuổi tràn theo, Thượng Duy Thăng đương không nổi bèn bỏ chạy về phương Bắc. Chạy đến sông Tô Lịch, tiền quân đến bảo:
- Thưa tướng quân, quân Tây Sơn chặn đường về thành Thăng Long, xin tướng quân định liệu.
Thượng Duy Thăng thất kinh than:
- Nay hai đều đều thọ địch, ta phải liệu làm sao.
Tả hữu hiến kế:
- Thưa tướng quân, theo thượng nguồn sông Tô Lịch có đê Yên Duyên dẫn đến đầm Mực. Đầm này nước không quá cổ, vậy ta nên theo đê Yên Duyên mà chạy rồi vượt quá đầm Mực tất thoát được về Thăng Long.
Thượng Duy Thăng liền bảo quân chạy về phía ấy. Thấy quân Thanh chạy về để Yên Duyên, Võ Đình Tú nói thầm rằng:
- Hoàng thượng liệu việc như thần. Quân Thanh quả nhiên chạy vào đầm Mực.
Tướng Tây Sơn là Đặng Xuân Bảo đem một trăm con voi phục dưới chân núi quanh đầm Mực. Thấy Thượng Duy Thăng dẫn tàn quân toan vượt đầm, Đặng Xuân Bảo nói:
- Hoàng thượng liệu việc như thần. Tượng binh lập tức xung trận.
Đặng Xuân Bảo lựa một trăm thớt voi tràn xuống đầm Mực. Voi gầm thét xông lên, dùng chân mà dày, dùng vòi mà quật, dùng ngà mà húc. Quân Tây Sơn ngồi trên bành voi thấy quân Thanh ở xa thì trương cung xạ tiễn. Thương thay hàng vạn quân Thanh bị dìm trong đầm mà chết. Nước đầm Mực vốn đen nay đỏ lên như máu.
Thượng Duy Thăng thực ngựa mà chạy, Đặng Xuân Bảo thúc voi đuổi theo. Con ngựa của Thượng Duy Thăng chạy cả ngày đã đuối sức, voi Xuân Bảo đuổi mỗi lúc một gần. Liệu bề không thoát, Thượng Duy Thăng ngửa mặt khóc than rằng:
- Cha mẹ đặt ta tên Thượng Duy Thăng nghĩa là bay lên cao. Không ngờ Thượng Duy Thăng ta phải chết trong bùn lầy ao tù ở nước An Nam.
Than xong liền đâm cổ tự vẫn.

Bây giờ tướng Thanh là Hứa Thế Hanh vâng lệnh Tôn Sĩ Nghị đem ba vạn quân tiếp cứu cho Thượng Duy Thăng ở Ngọc Hồi. Vừa đem quân ra khỏi cổng Nam thành được vài dặm bỗng nghe ở Thăng Long súng nổ rền vang, lửa cháy rực trời, quân reo tở mở, Hứa Thế Hanh con đang lưỡng lự chưa biết nên tiến thoái thế nào. Bỗng vài tên quân từ hướng Bắc phi ngựa đến bảo:
- Thưa tướng quân, sau khi tướng quân dẫn binh đi rồi, tướng Tây Sơn là Đặng Văn Long bất ngờ đánh úp đồn Khương Thượng, tướng quân Sầm Nghi Đống treo cổ tự vẫn. Quân Tây Sơn thừa thắng đánh vào cửa Tây thành Thăng Long, Tôn Đại tướng quân bất ngờ trở tay không kịp đã thua chạy về nước. Chúng tôi là quân giữ cửa Nam thành chạy ra không kịp nên mới chạy vào theo báo cho tướng quân được rõ.
Hứa Thế Hanh thất kinh nói:
- Thành Thăng Long mất, ắt ta chẳng còn đường rút, vậy phải vào hợp bình cùng Thượng Duy Thăng trấn thủ Ngọc Hồi chờ quân cầu viện.
Hanh vừa dứt lại, quân mặt Nam chạy về phi báo:
- Thưa tướng quân, Nguyễn Huệ đã chiếm Ngọc Hồi, tướng quân Thượng Duy Thăng tử trận. Hiện quân Tây Sơn đang đuổi đến nơi, xin tướng quân định liệu.
Hứa Thế Hành đang ngồi trên mình ngựa, thả cương vừa lấy tay vỗ đùi, thúc chân vào bụng ngựa vừa than:
- Ta đã thua mưu Nguyễn Huệ rồi!
Chẳng dè con ngựa được nới đây cương lại bị thúc vào hỏng ngỡ chủ bảo chạy, liền chồm lên phi nước đại. Hứa Thế Hanh bất ngờ mất đà té nhào xuống đất. Vừa lúc ấy tướng Tây Sơn là Võ Đình Tú lướt ngựa đến đập một côn, Hứa Thế Hành bể sọ vọt óc chết tươi. Quân Thanh thấy chủ tướng chết, đều vứt giáo xin hàng.

Nhắc lại đại Đô đốc Đặng Văn Long chiếm được thành Thăng Long rồi, nghe quân vào báo:
- Thưa tướng quân, Hoàng thượng đã tiêu diệt mười vạn quân Thanh ở Hạ Hồi và Ngọc Hồi. Hiện Hoàng thượng đang tiến quân về thành Thăng Long.
Đặng Văn Long bảo quân:
- Mau mở cổng Nam thành đón vua.
Nhân dân trong thành ngoài nội kéo ra chật hai bên đường, đồng thanh hỏi:
- Hoàng thượng đâu? Hoàng thượng đâu?
Tên quân đi trước lên chỉ vào vua đáp:
- Hoàng thượng đang ngồi trên lưng voi kia kìa. Các ngươi sao không tung hô con hỏi gì nữa.
Dân lại hỏi:
- Vua phải mặc hoàng bào chứ, người này mặc áo đen ắt không phải là Hoàng thượng.
Tên quân đáp:
- Hoàng thượng mặc hoàng bào ngự giá thân chinh ra trước trận tiền nên hoàng bào dạ nhuộm đen màu thuốc súng đó thôi.
Vừa lúc ấy Đặng Văn Long ra đón. Gặp vua, Long xuống ngựa quỳ tâu:
- Hoàng thượng vạn tuế!
Bá tánh trông thấy liền quỳ xuống hô vang rằng:
- Hoàng thượng vạn tuế! Đại đế muôn năm!
Vào thành rồi vua Quang Trung hạ lệnh:
- Đặng Xuân Phong và Đặng Xuân Bảo đem một vạn quân truy kích Tôn Sĩ Nghị. Đến Yên Thế gặp Nguyễn Văn Lộc chặn đường về của giặc thì hai mặt giáp công.
Phong và Bảo lãnh lệnh đi ngay.

Nói về Tôn Sĩ Nghị dẫn tàn quân một vạn chạy về đến Yên Thế, tuỳ tướng Tôn Dương Bảo hỏi:
- Nơi này hai bên núi non hiểm trở, cỏ cây rậm rạp, chỉ có một con đường độc đạo mà đi, nếu quân Tây Sơn đem binh chặn ở nơi này thì ta nguy mất.
Tôn Sĩ Nghị bảo:
- Từ ải Tam Điệp đến Thăng Long đường xa năm trăm dặm mà Nguyễn Huệ vừa đi vừa đánh chỉ có năm ngày đã là thần tốc lắm rồi, đông tây kim cổ chưa tiếng nghe nói. Hoa may Nguyễn Huệ có thiên binh, thiên tướng mới chặn được ta ở ải này.
Tôn Sĩ Nghị vừa dứt lời bỗng nghe một tiếng pháo lệnh nổ vang, tức thì hai bên sườn núi tên bắn xuống như mưa. Quân Thanh trúng tên chết gần hết. Tôn Sĩ Nghị thất kinh hỏi:
- Nguyễn Huệ điều binh đi đường nào mà đến được Yên Thế chặn đường về của ta?
Tôn Dương Bảo đáp:
- Nguyễn Huệ chỉ có cách dùng thuỷ binh mới đưa quân đến đây được mà thôi!
Tôn Sĩ Nghị thở dài nói:
- Nếu vậy ắt Nguyễn Huệ phải biết ngày đổi gió Đông nam mới sắp đặt kế sách đánh ta. Ta thật không phải là đối thủ của Nguyễn Huệ. Ba quân phá liều chết phá vây mà chạy.

Tôn Đường Báo cùng đoàn quân hộ vệ cố gắng gạt tên che chở cho Tôn Sĩ Nghị chạy gần thoát khỏi hẻm núi. Chợt một viên tướng Tây Sơn đầu đội kim khôi, mình mặc giáp trụ, tay cầm trường thương lướt ngựa đến chặn đường. Tướng ấy hét lên rằng:
- Tôn Sĩ Nghị chạy đâu cho thoát, có ta là đô đốc Nguyễn Văn Lộc đợi ngươi đã lâu.
Tôn Sĩ Nghị quay lại thấy quân hộ vệ của mình chỉ còn tuỳ tướng Tôn Dương Bảo và vài mươi tên lính. Biết không thoát được, Nghị quăng gươm xuống ngựa chịu trói. Tôn Dương Bảo và bọn quân sĩ thấy vậy đều bỏ vũ khí xin hàng. Nguyễn văn Lộc đưa mắt ra hiệu cho quân mình, quân Tây Sơn liền đồng loạt vung gươm giáo giết hết Tôn Dương Bảo và bọn quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị thất kinh hỏi Nguyễn Văn Lộc:
- Bọn ta đã hàng sao còn giết hết đi?
Nguyễn Văn Lộc cười ha hả nói:
- Ta giết hết bọn quân sĩ của ngươi là muốn giữ mạng sống cho ngươi đó.
Nghị nghi hoặc hỏi:
- Tướng quân nói vậy là ý thế nào?
Nguyễn Văn Lộc cười ngạo nghễ nói:
- Ta muốn tha mạng cho của ngươi, không thèm giết làm gì cho bẩn thương của ta. Vậy lúc về nước bọn quân sĩ của ngươi lộ tin: ngươi bị ta bắt rồi thả cho đi, thì Càn Long lại tha mạng cho ngươi sao? Và tiếng hèn của ngươi ắt con để đến ngàn thu. Vì thế ta mới giết hết bọn quân sĩ của ngươi để giữ mạng và giữ gìn thanh danh cho ngươi đó.
Chúa hết ngờ vực, Nghị lại hỏi:
- Nhưng vì sao tướng quân lại tha cho ta?
Lộc cười lớn rồi đáp, giọng khinh bỉ:
- Ta tha cho ngươi chạy về để cả nước Đại Thanh biết rằng: Đại tướng Tôn Sĩ Nghị sang đánh nước Nam thua trận đến nỗi người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đóng yên tất tả chạy về. Chứ nếu ta giết ngươi thì người nước Tàu sao thấy cái oai của nước Nam ta được.
Nói xong Lộc lại cười to, Nghị cả thẹn cúi gầm mặt. Lộc nâng cằm Nghị lên bảo:
- Đáng lẽ ta giết ngươi để bá thù cho Trần Danh Bính. Những xét thấy nhà Thanh các ngươi là tổ Mãn cũng phường mọi rợ nên chẳng biết luật: Hai nước đánh nhau không nên chém sứ, thành ra ta mới mở lượng hiếu sinh mà tha cho kẻ chẳng biết gì. Và ngươi hãy lậy tạ ba lậy gọi là tạ lỗi cùng Trần Danh Bính rồi ta sẽ để cho ngươi đi.
Nghị còn đang do dự, Lộc vung thương quát:
- Lậy không thì bảo?

Nghị hoàng hồn sụp xuống chân ngựa của Lộc mà lậy. Chẳng dè trong lúc luống cuống cúi lậy, cái tráp Nghị giấu trong người rơi xuống đất. Lộc bảo quân lấy nộp lên. Thấy cái tráp sơn son thếp vàng ngoài đề mấy chữ: "Bình Nam Đại tướng quân Tôn Sĩ Nghị", Lộc nghiêm mặt hỏi:
- Tráp này đựng sắc thư ấn tín của Càn Long ban cho ngươi phải không?
Nghị chưa kịp đáp, Lộc lại bảo:
- Nay Đại tướng quân người không cần mặc giáp ngựa không cần đóng yên cũng đã bình được nước Nam rồi. Vậy Đại tướng quân hãy về nước ngay chớ kéo ta đổi ý thì nguy đó.
Nghị lấm lét nhìn sắc thư ấn tín nằm trong tay Lộc, rồi ngậm đắng nuốt cay nhảy lên mình ngựa toan ra roi. Bỗng nghe Lộc gọi giật:
- Hãy khoan!
Nghị tháo mồ hôi hột:
- Tướng quân con dậy thêm gì nữa chăng?
Lộc cười bảo:
- Ngươi về gặp vua Càn Long hay thưa là: phá vây thoát được chạy về. Chờ dại dột mà khai rằng bị bắt bị lột sạch sắc thư ấn tín rồi được tha cho đi đấy nhé. Nếu người khai như thế thì người nước ngươi sẽ cười Tôn Sĩ Nghị hèn nhát khóc than lậy lục mới được thả! Và vua Càn Long sẽ chặt đầu ngươi đó. Vả lại Tôn tướng quân chớ vội, ta sẽ đích thân đưa tướng quân về đến ải Nam Quan, kéo đi một mình ngộ nhỡ gặp dân ta bắt giết, thì Lộc ta phải mang tội với vua.
Đoạn Tôn Sĩ Nghị theo Nguyễn Văn Lộc đến ải Nam Quan, rồi một mình một ngựa lủi thủi về nước trong sự lo mừng của một người vừa thoát chết.

Tôn Sĩ Nghị đi rồi, Nguyễn Văn Lộc lệnh cho tả hữu:
- Mau truyền bảo quân sĩ nói phao lên rằng: sẽ đuổi sang biên giới bắt cho được Tôn Sĩ Nghị mới thôi!
Dân chúng Trung Hoa ở biên cương thấy Đại tướng quân Tôn Sĩ Nghị người không khôi giáp, ngựa chẳng áo yên hớt hải chạy về; lại nghe quân Tây Sơn kháo ầm lên như thế, người người dắt díu bồng bế nhau chạy trốn về phương Bắc. Cách ải Nam Quan hàng mấy trăm dặm tuyệt nhiên không một bóng người.

Nói về đạo quân Thanh do Ô Đại Kinh thống lãnh đi theo đường Tuyên Quang tiến đến trấn Sơn Tây ở phía Tây thành Thăng Long. Ô Đại Kinh nghe quân do thám báo:
- Thưa tướng quân, quân Tây Sơn tiến đánh Thăng Long, các tướng Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng, Hứa Thế Hành, Sầm Nghi Đống đều tử trận. Tôn Đại tướng quân đã bỏ Thăng Long chạy về nước.
Ô Đại Kinh giật mình nói:
- Mau truyền lệnh ta lập tức rút binh. Nếu ta không dè dặt mà vội đi trước để tranh công ắt mạng chẳng còn.
Nói xong liền dẫn sáu vạn quân dưới trướng vội vã rút về.

o o o

Thế là trong vòng năm ngày, vua Quang Trung thống lãnh mười vận quân Tây Sơn tiêu diệt hơn hai mươi vạn quân Thanh, đuổi giặc ngoại xâm ra ngoài bờ cõi.

Nhắc lại Nguyễn Văn Lộc đuổi Tôn Sĩ Nghị ra khỏi ải Nam Quan rồi, Lộc cắt tướng ở lại giữ ải, đoạn thu bình về Thăng Long ra mắt vua Quang Trung. Lộc quỳ thưa:
- Tâu Bệ hạ, Tôn Sĩ Nghị đã trốn thoát về nước. Thần bắt được sắc thư ấn tín của hắn xin dâng Bệ hạ duyệt lãm.
Nói xong Lộc dâng các chiến lời phẩm lên vừa. Các tướng Đặng Văn Long, Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong, Nguyễn Văn Tuyết, Võ Đình Tú cùng quỳ thưa:
- Xin Bệ hạ tha tội cho Nguyễn Văn Lộc.
Vua Quang Trung cười hỏi:
- Vì sao các khanh lại xin ta tha tội cho Nguyễn Văn Lộc.
Phan Văn Lân đáp:
- Trước lúc xuất quân, Lộc tướng quân có nói nếu Bệ hạ trong năm ngày đuổi quân Thanh khỏi Thăng Long mà Văn Lộc không bắt được Tôn Sĩ Nghị thì sẽ chịu tội theo quân pháp. Nên chúng thần mới xin Bệ hạ tha tội cho Văn Lộc đó.
Vua Quang Trung lại mỉm cười hỏi:
- Đối nhà Trần, trong cuộc chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất, khi Thoát Hoan dẫn đại binh chạy về đến Vạn Kiếp vẫn còn đủ các đại tướng là Lý Hằng, Phàn Tiếp, A Bát Xích, Lý Quán, vậy mà Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho quân kéo chạy mới thoát được về nước. Còn hôm nay khi Đặng Văn Long đánh vào cửa Tây thành Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị mới vội vàng tháo chạy, đến nỗi người không kịp mắc giáp, ngựa không kịp đóng yên. Trong khi do ta đã sai Nguyễn Văn Lộc đem quân phục sẵn ở Yên Thế. Núi Yên Thế hiểm trở chỉ có một con đường chạy về phương Bắc. Nếu một trong các tướng chặn đường này liệu Tôn Sĩ Nghị có chạy thoát được chăng?
Đặng Văn Long đáp:
- Vũ dũng như Văn Lộc lại chặn đường hiểm đi Yên Thế thì Tôn Sĩ Nghị sao có thể thoát được. Việc này chúng thần không hiểu nổi.
Vua Quang Trung cười lớn bảo:
- Văn Lộc! Khanh hay nói cho các tướng nghe xem vì sao Tôn Sĩ Nghị chạy thoát về nước được.
Bấy giờ Nguyễn Văn Lộc mới nói:
- Tôn Sĩ Nghị chạy thoát khỏi Yên Thế mà trở về nước là do thần đã thả hắn đó.
Nghe Lộc nói xong, các tướng sững sờ kinh ngạc. Võ Đình Tú hỏi:
- Tại sao ông dám cãi lệnh vua mà không bắt tướng giặc?
Lộc đáp:
- Số là lúc tôi nhận lệnh đem thuỷ binh cùng Nguyễn Văn Tuyết vào cửa Lục Đầu sau đó tôi đem quân lên Yên Thế chặn đón đường Tôn Sĩ Nghị. Nhưng trước khi đi vua có sai người trao cho tôi một bức mật thư bảo tôi bắt được Tôn Sĩ Nghị rồi phải tha cho hắn đi. Nếu hắn chết thì tôi phải tội! Nên tôi bắt được hắn xong phải hộ tống hắn đến ải Nam Quan mới dám quay về.
Đặng Xuân Bảo ngạc nhiên hỏi:
- Nhưng vì sao phải tha Tôn Sĩ Nghị?
Lộc đáp:
- Việc này tôi không được biết, tôi chỉ làm theo lệnh mà thôi - Rồi quay sang vua Quang Trung, Lộc hỏi - Xin Bệ hạ giảng giải vì sao phải tha Tôn Sĩ Nghị?

Vua Quang Trung cười đáp:
- Đánh trận này ta sai Đặng Văn Long chiếm dồn Khương Thượng và thành Thăng Long trước, tất bốn viên đại tướng quân Thanh là Sầm Nghi Đống, Hứa Thế Hành, Thượng Duy Thăng và Trương Triều Long sẽ không còn đường thoát. Quả nhiên bốn tên này đều phơi thây tại trận. Vậy nếu ta không tha cho Tôn Sĩ Nghị thì lấy ai về báo kế sách đánh giặc của ta cho vua Càn Long nhà Thanh hay. Càn Long tất sợ rằng sai tướng sang đánh báo thù sẽ thua trận nữa, nên sẽ thuận lòng khi ta sai sứ sang cầu hoà. Thế là ta sẽ tránh cho dân nước ta được một trận can qua. Vì lẽ ấy nên ta mới tha Tôn Sĩ Nghị đó.

Nguyễn Văn Tuyết con tức lắm, vểnh râu hỏi:
- Nếu vậy ta tha cho vài tên tiểu tướng chạy về báo cùng được. Sao Bệ hạ lại tha cho Tôn Sĩ Nghị?
Vua Quang Trung lắc đầu đáp:
- Bọn tiểu tướng chỉ sai đâu đánh đó làm sao biết được sách lược hành binh. Một Đại tướng soái thua trận chạy về mà không biết bị đánh như thế nào thì Càn Long mới sợ. Có khi hắn sẽ sai người sang ta làm hoà trước cho các khanh xem.
Đặng Văn Long nghi ngờ hỏi:
- Càn Long là tay anh hùng kiệt hiệt ở phương Bắc, có lý đâu lại hạ mình cầu hoà với ta trước?
Quang Trung cười bảo:
- Thua trận này Càn Long đem quân đánh báo thù thì sẽ thua nữa, mà nhịn đi thi nhục. Càn Long sẽ sai người sang bảo ta hạ mình cầu hoà thì hắn sẽ cho hoà, thế Càn Long mới là tay anh hùng kiệt hiệt. Các khanh hãy nhớ lời ta xem ta nói đúng hay không nhé.



***
Chương 54

Sợ Nam quân Phúc Kháng An sai sứ bảo giảng hoà
Giận Bắc Triều, Ngô Thì Nhậm viết thư bãi cống

Nói về Tôn Sĩ Nghị thua trận chạy thoát về Bắc Kính quỳ trước triều chịu tội. Vừa Càn Long giậm chân quát:
- Võ sĩ! Lôi Tôn Sĩ Nghị ra chém tức thì!
Nghị vã mồ hôi hột, đập đầu van:
- Xin Hoàng thượng tha mạng. Chẳng phải hạ thần không hết lòng, nhưng vì quân Tây Sơn hùng mạnh, Nguyễn Huệ chước quý mưu thần bất ngờ tiến đánh làm hạ thần trở tay không kịp. Xin Hoàng thượng minh xét!
Vua Càn Long nét mặt hầm hầm hỏi:
- Nguyễn Huệ dùng kế gì mà ngươi gọi là chước quỷ mưu thần, để đến nỗi bốn viên đại tướng và hai mươi vạn quân phải bỏ thây Nam quốc, làm nhục mệnh của ta?
Nghị lau mồ hôi đáp:
- Tâu Hoàng thượng, lúc quân ta kéo sang đưa vua Lê về nước, Nguyễn Huệ bảo quân bộ Bắc Hà rút về cố thủ ở đường độc đạo là ải Tam Điệp. Trên đường rút, quân Tây Sơn lại xoá hết bếp lò, vãi gạo ra đường khiến thần ngờ rằng quân Tây Sơn sợ đến nỗi phải nhai gạo sống mà chạy...

Ngắt lời Nghị, Càn Long quát:
- Rồi ngươi dương dương tự đắc vào Thăng Long như chỗ không người nên chẳng đề phòng chứ gì. Một kế mọn như thế mà cũng lầm để quân ta đại bại. Tội thật đáng chết.
Tôn Sĩ Nghị vội tâu:
- Đến Thăng Long hạ thần vẫn cẩn thận cho quân đóng đồn cảnh giới chờ ăn tết xong sẽ cất quân vào đánh Huệ. Chẳng ngờ bị trúng khổ nhục kế của Nguyễn Huệ mới không phòng bị.
Càn Long nghi ngờ hỏi:
- Khổ nhục kế như thế nào.
Nghị có gắng giảng giải:
- Nguyễn Huệ sai Trần Danh Bính làm sứ giả đem thư đến xin hàng. Hạ thần tra khảo Trần Danh Bính hỏi xem Nguyễn Huệ động tĩnh thế nào. Đến lúc chết Bính vẫn một mực khai rằng Huệ còn ở Phú Xuân đêm ngày lo sợ, sai sứ giả đến xin hàng, nên hạ thần mới tin rằng Nguyễn Huệ chưa đem quân đến thật mà xao nhãng việc canh phòng. Xin Hoàng thượng rộng xét.

Vua Càn Long dịu giọng bảo:
- Kế khổ nhục là ta tự đánh người của ta, rồi sai đi trá hàng. Kế khổ nhục này là giả hàng trước, cho địch đánh người của ta, ấy thật là kế lạ xưa nay chưa từng nghe nói. Nguyễn Huệ thật đa mưu túc trí. Nhưng khi mất Hạ Hồi thì các ngươi đã biết mà cẩn thận đề phòng, vì sao quân đông gấp ba lần mà thua một?
Nghị đáp:
- Nguyễn Huệ sai quân rút khỏi Thăng Long là dùng kế "không thành". Nhưng Huệ không mai phục bốn phía rồi đổ ra đánh vì sợ lộ, bởi lòng người còn thương mến nhà Lê. Huệ dùng khổ nhục kể cho thần không đề phòng rồi đưa quân từ Tam Điệp ra vây thành Thăng Long nên hạ thần trở tay không kịp. Xin Hoàng thượng tha mạng.
Vua Càn Long lại vỗ ngai quát hỏi:
- Binh pháp có câu "Biết người biết ta trăm trả trăm thắng!", thế còn quân thám mã của ta ở đâu, để đến nỗi Nguyễn Huệ đưa quân vây thành mà không một ai biết.
Nghị cố phân trần:
- Đường từ Tam Điệp đến Thăng Long xa bốn trăm dặm. Đêm ba mươi tết thám mã còn về báo rằng quân Tây Sơn ở Tam Điệp vẫn án binh bất động, vậy mà đến ngày mùng bốn tết chúng đã có mặt ở Thăng Long lúc quân ta còn cất gươm cởi giáp chưa tỉnh cơn say nên trở tay không kịp. Xin Hoàng thượng tha tội!
Càn Long lại hỏi:
- Nghĩa là chúng hành bình thần tốc khiến ngươi không lường được phải chăng?
Nghị đập đầu đáp:
- Đường đại lộ thì có Trương Triều Long đóng ở Hạ Hồi, Thượng Duy Thăng đóng ở Ngọc Hồi, nên Nguyễn Huệ mới cho một đạo quân theo đường núi dẫn vào phía Tây thành Thăng Long. Đường núi này xa ba trăm dặm, dù hành quân ngày đêm không nghỉ, không dừng lại ăn uống cũng phải hết bốn ngày đường là ít nhất, nên hạ thần không lường trước được.
Càn Long lấy làm lạ hỏi:
- Nguyễn Huệ hành binh bằng cách gì mà nhanh thế?
Nghị hổ thẹn đáp:
- Điều này quân ta không một ai hay biết.

Càn Long quay sang quần thần hỏi:
- Các ngươi hãy suy nghĩ xem Nguyễn Huệ hành quân bằng cách gì mà không dừng quân nấu ăn không cho quân nghỉ ngơi mà vẫn mạnh khỏe đánh thắng được quân ta?
Quần thần xôn xao bàn tán một hồi, Càn Long hỏi bọn quan văn:
- Các khanh đã nghĩ ra chưa.
Cận thần là Hoà Thân đáp:
- Chúng thần vẫn không nghĩ ra. Hoạ mà Nguyễn Huệ có tài sái đậu thành binh.
Càn Long quay sang hàng quan võ:
- Còn các khanh thì thế nào?
Võ quân Phục Khang An tâu:
- Sách bình thư chúng thần không rành bằng Bệ hạ nên vẫn nghĩ chưa ra.
Càn Long nghĩ thầm rằng: Thắng bại là lẽ của binh gia, nhưng từ xưa đến nay tướng thua trận chạy về phải biết được địch đánh thế nào khiến ta thua trận. Nay, việc Tôn Sĩ Nghị thua trận lại không biết Nguyễn Huệ hành bình như thế nào thì thật là lạ. Đã không biết người biết ta làm sao thắng được địch.
Tuy nghĩ vậy, vua Càn Long vẫn lạnh lùng hạ lệnh:
- Nay ta phong Phúc Khang An làm chánh tướng Thang Hùng Nghiệp làm phó tướng đem năm mươi vạn đại binh sang nước Nam đánh Nguyễn Huệ báo thù.
Nói xong Càn Long truyền bãi triều. Đi ngang qua mặt Phúc Khang An vua Càn Long bảo:
- Bình thư, thao lược khanh giỏi nhất trong các tướng của ta nên ta mới sai khanh sang đánh Nguyễn Huệ. Vậy có cảm thấy khó khăn điều gì hãy đến gặp riêng ta.


° ° °
Đêm hôm ấy Phúc Khang An tìm đến yết kiến vua Càn Long. Càn Long hỏi:
- Khanh gặp khó rồi phải không.
An đáp:
- Thần đã học nhiều binh pháp của tiền nhân như Tôn Võ, Ngô Khởi, Khổng Minh, nhưng có điều chưa rõ nên đến đây thỉnh ý Hoàng thượng trước khi đem quân đánh Nguyễn Huệ.
Vua Càn Long bảo:
- Điều gì khanh cử hôi.
An hỏi:
- Trong binh pháp cầu nào là hệ trọng nhất đối với đạo làm tướng khi đối địch?
Càn Long đáp:
- Biết người biết ta trăm trận trăm thắng.
- Vậy xin hỏi Hoàng thượng: nay ta không biết Nguyễn Huệ hành binh bằng cách gì mà thần tốc từ cổ chí kim chưa từng có, vậy ta phải đối phó thế nào?
Vua Càn Long thở dài nói:
- Không biết người thì sao biết được ta nên làm thế nào để thủ thắng. Chẳng qua khanh là người tâm phúc của ta nên ta mới sai khanh đánh Nguyễn Huệ để báo thù đấy thôi.
Phúc Khang An hỏi:
- Vậy ý là Hoàng thượng còn cố ý gì chăng?
Càn Long gật đầu đáp:
- Ta sai khanh đánh Nguyễn Huệ vì tướng giỏi như khanh tất phải thấy lẽ được thua nếu lần nữa cất quân. Không đem quân đánh báo thù thì nhục, mà đem quân sang đánh tất phải thua.
Phúc Khang An hỏi:
- Vì lẽ ấy, trước triều Hoàng thượng phải sai thần sang đánh Nguyễn Huệ để thần đến nhận lệnh riêng của Bệ hạ?
Càn Long đáp:
- Nay ngoài mặt khanh cứ nhận lệnh giữa triều chỉnh đốn binh mã. Phía sau lưng khanh hãy sai sứ sang nước Nam nói với Nguyễn Huệ thế này... thế này... Huệ tất sẽ dâng biểu cầu hoà. Có biểu của Huệ ta lập tức bãi binh mà không phải hổ thẹn cùng thiên hạ.

o o o
Phúc Khang An mừng rỡ bái tạ khen:
- Hoàng thượng thật là cao kiến!
Nói xong An liền về tư dinh viết thư rồi sai người đem sang Nam quốc.
Phần vua Càn Long, sau khi Phúc Khang An về rồi, vua ngửa mặt than:
- Ta ở ngôi đã năm mươi năm, nay tuổi đã bát tuần mà chưa bao giờ gặp phải cảnh hoà cũng không được mà đánh cũng không xong như thế này. Thật đáng giận thay!
Nói về sứ giả vâng lệnh Phúc Khang An đến Nam quốc yết kiến vua Quang Trung. Sứ thưa:
- Tâu Hoàng thượng, thần là người thân tín của quan tả đạo Giang Tây Thang Hoàng Nghiệp. Vừa rồi Hoàng đế nước thần sai đại tướng Phúc Khang An và chủ hạ thần đem năm mươi vạn quân sang nước của Hoàng thượng đánh báo thù cho bọn tướng là Hứa Thế Hành, Sầm Nghi Đống, Trương Triều Long và Thượng Duy Thăng. Chủ hạ thần vì không muốn can qua nên sai thần đến đây khuyên Hoàng thượng chủ động cầu hoà để hai nước tránh khỏi nạn binh đao dân chúng an hưởng thái bình. Xin Hoàng thượng minh xét.
Vua Quang Trung xua tay nói:
- Hoàng đế Càn Long nhà Đại Thanh vốn là vua nước lớn, vừa rồi đem ba mươi vạn quân sang đánh nước ta bị thua, ắt vì tự ái mà quyết báo thù. Ta e rằng vua Càn Long không chịu cho hoà. Đã biết thế còn cầu khẩn làm gì thêm hao hơi tốn mực, ngươi về bảo với Thang Hùng Nghiệp và Phúc Khang An rằng: muốn đánh thì cứ đem quân sang đây. Nước Nam ta tuy nhỏ nhưng để giữ gìn độc lập không quản ngại chiến chinh.

Sứ giả thất kinh nói:
- Vì muôn vàn sinh linh nên chủ hạ thần mới sai thần đến đây cùng Hoàng thượng bàn việc hoà bình. Chủ thần xin hiến một kế khiến Hoàng thượng nước thần thuận ý cho hoà!
Vua Quang Trung hỏi:
- Thang Hùng Nghiệp bày kế thế nào?
Sứ giả đáp:
- Trong triều đại Thành của thần có Thái sử Hoà Thân. Thái sư bàn thế nào Hoàng đế thần đều chuẩn y. Nay Hoàng thượng một mặt lo lót vàng bạc cho Thái sư để Thái sư nói thêm vào, một mặt Hoàng thượng nể nước lớn hạ mình dâng biểu xin hoà trước việc ắt sẽ thành.
Nghe xong vua Quang Trung vỗ ngai quắc mắt quát:
- Lão xược, Mãn Thanh các ngươi tuy là nước lớn nhưng đối với nước Nam ta là hai nước hai vua. Ta từ Tây Sơn dấy nghĩa ngang dọc tung hoành, bốn lần vào Nam, ba lần ra Bắc. Tiêu diệt quân Tiêm La bạt vía Chiêu Tăng, đập tan quân Thanh các ngươi kinh hồn Tôn Sĩ Nghị. Giúp dân dựng nước, tế cáo trời đất lên ngôi không chịu thụ phong của vua Càn Long sao ngươi dám bảo phải chịu hạ mình. Quan bay lôi ra chém!
Sứ giả thất kinh hồn vía lậy như tế sao rằng:
- Xin Hoàng thượng tha mạng, thần vì muốn hạ nhục khỏi nạn binh đao mà nói là lời chữ nào đã dám xúc phạm đến oai võ của Hoàng thượng. Vả lại hai nước đánh nhau không nên chém sứ. Hoàng thượng không hoà thời thôi sao lại chém thần.
Vua Quang Trung làm bộ giận dữ hét lớn rằng:
- Ngươi bảo hai nước đánh nhau không nên chém sứ, vậy tại sao ta sai Trần Danh Bính đến gặp Tôn Sĩ Nghị xin hoà, đã không cho hoà con chém sứ của ta?

Sứ giả sợ đã mất mật gắng sức van xin rằng:
- Xin Hoàng thượng tha mạng. Hoàng thượng là đáng minh quân lẽ nào lại làm như Tôn Sĩ Nghị há sao. Xin Hoàng thượng tha mạng.
Vua Quang Trung cười rằng:
- Ta vì mong muốn bình an dân quốc mới để cho ngươi được sống. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, ta chịu hạ mình viết biểu cầu hoà, nhưng bạc vàng châu báu nước Nam ta Tôn Sĩ Nghị đã sang cướp hết cả rồi. Vậy người hãy về thưa cùng Thang Hùng Nghiệp bảo Tôn Sĩ Nghị đem vàng bạc châu báu mà lo lót cho Hoà Thân. Nếu không bằng lòng như thế chứ ngươi muốn đánh thì cứ kéo quân sang đây!
Sứ giả hoàn hồn lậy tạ rồi thưa:
- Đáp ơn Hoàng thượng, thần nào dám không vâng. Đây là thư của chủ thần Thang Hùng Nghiệp kính trình lên Hoàng thượng.
Tiếp thư xong vua Quang Trung bảo:
- Ngươi hãy về thưa cùng Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp, ta xem thư xong sẽ viết biểu cầu hoà nhờ chủ ngươi chuyển giúp đến vua Càn Long.

Sứ giả đi rồi, vua Quang Trung mà thư ra đọc. Trong đó có đoạn:
"Xét họ Lê bên An Nam thuần phục thiên triều đã lâu, một sớm bị họ Nguyễn Tây Sơn chiếm đoạt mất đô thành, nên Hoàng đế ta phải sai tướng ra ngoài cửa ải khôi phục đất nước cho họ Lệ và cứ cho vẫn được nối chức chịu phong như trước. Chẳng dè Lê Duy Kỳ vô tài kém đức không làm nên trò trống gì cả cứ chạy trốn hoài, đến nỗi nhà Lệ không ngóc đầu lên được. Từ đây về sau thiên triều quyết chẳng đem nước An Nam giao cho Duy Kỳ nữa.
Họ Nguyễn Tây Sơn nhà ngươi nhân trước khi chưa có chỉ dụ, mau mau làm biểu đem sang đây gõ cửa kêu với Đại Hoàng đế của ta rằng: Lê Duy Kỳ không được dân vọng, nhân dân bơ vơ và tản đi bốn ngả, bất đắc dĩ thần phải đem binh ra thay nhà Lê vỗ về bá tánh. Nào ngờ dọc đường gặp quân nhà vua đụng ai giết nấy, tình thế dữ dội. Nếu chúng thần bó tay chịu trói thì thế nào cũng bị giết sạch. Vì vậy đám di binh di mục chúng thần phải hết sức chống cự, tự biết như thế là tội nặng lắm. Cúi xin Đại Hoàng đế đoái thương mọi rợ không biết gì mà tha thứ cho.
Nếu các ngươi biết điều nói như thế chắc được Đại Hoàng đế soi xét lòng thành mà cho chủ trì việc nước.
Thuận theo thì được phúc, trái nghịch vạ vào thân. Tuỳ ngươi định đoạt".

Đọc đến đây vua Quang Trung cười rằng:
- Quả nhiên Càn Long vì sợ thua nên mới bảo Phúc Khang An sang khuyên ta cầu hoà trước để giữ thể diện thiên triều. Vậy là kế tha Tôn Sĩ Nghị để doạ Càn Long của ta đã có tác dụng rồi đó.
Ngô Thì Nhậm hỏi:
- Đây phải chăng là ý của Phúc Khang An vì sợ phải cất quân sang bỏ thây ở nước Nam ta nên tự sai sứ để bảo ta cầu hoà, chứ lý đâu lại là lệnh của Càn Long?
Vua Quang Trung cười bảo:
- Nếu không có lệnh của Càn Long mà Phụ Khang An và Thang Hùng Nghiệp làm là khi quân sao tránh khỏi mất đầu. Mà việc bang giao giữa hai nước phải đâu là việc nhỏ. Phúc Khang An tất phải biết rằng sớm muộn gì cũng lộ việc lại dám làm ư?
Ngô Thì Nhậm và Trần Văn Kỷ cùng tâu:
- Hoàng thượng anh minh. Quả nhiên là Càn Long sợ thua mới làm thế thật.
Vua Quang Trung bảo quần thần rằng:
- Mãn Thanh là nước lớn gặp mười lần ta. Ta tạm thời nhịn họ, đợi ta dưỡng uy sức nhuệ, nước mạnh dân giàu rồi sẽ cất quân sang đánh chúng lấy lại đất Lưỡng Quảng trước kia là của nước Nam ta về sau người Tàu đoạt đi. Nay dù nhịn chúng để giảng hoà nhưng không vì thế mà chịu nhục. Bọn chúng bảo ta là mọi rợ, ta viết thư miệt thị chúng xem chúng đã làm gì ta nào.
Nói xong vua Quang Trung liền sai lấy bút nghiên ra viết thư. Viết xong vua trao Ngô Thì Nhậm và bảo:
- Đây là thư ta gửi riêng Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp. Con viết biểu gửi Càn Long xin hoà ta giao cho Ngô Thì Nhậm được trọn quyền lo liệu. Trong cương có nhu, cương nhu phải lúc, không được làm nhục quốc thể nước Nam ta. Nay ta rút đại binh về Phú Xuân - giao cho Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết trong coi võ bị, việc ngoại giao với nhà Thanh giao cho Ngô Thì Nhiệm. Hay nhớ không được làm nhục mệnh của ta.

Đoạn vua Quang Trung rút đại binh về Phú Xuân.

Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp nhận được thư vua Quang Trung liền giở ra đọc. Trong thư có đoạn:
"Ôi! Quân tinh cốt ở hoà thuận không cốt đông, cần tinh nhuệ không cần nhiều. Ngươi khéo thắng là ở chỗ rất mềm dẻo chứ không phải lấy mạnh đè yếu, nhiều hiếp ít. Ví bằng chút tình trước không được bày tỏ, thiên triều không khoan dung một chút cứ muốn động binh gây chiến, thế là làm cho nước nhỏ không được phụng sứ nước lớn thì bây giờ đại quốc bảo gì tôi cũng xin vâng theo mà thôi".
Đọc đến đây Phúc Khang An hỏi:
- Nguyễn Huệ nói vậy là ý thế nào?
Nghiệp đáp nhỏ rằng:
- Đại ý nói rằng nếu ta muốn đánh thì hắn sẽ đánh cho mà xem. Còn viết như vậy chẳng qua là dùng lời hoa mỹ cho ra vẻ cũng thuận mà thôi.
Phước Khang An giận dữ bảo:
- Nguyễn Huệ thật vô lễ, dám coi khinh thiên triều không có tướng giỏi hay sao. Thật là đáng giận! Còn việc lo lót cho Hoà Thân, Huệ liệu thế nào?
Nghiệp đáp:
- Huệ bảo sứ ta về bấm lại rằng: vàng bạc trong nước Tôn Sĩ Nghị đã cướp hết cả đi nên hắn không còn gì để lo lót. Hắn nhờ ta bảo Tôn Sĩ Nghị cho xin vàng bạc lo lót cho Hoà Thân để xong việc nghị hoà.
An nổi giận vỗ án quát:
- Thật là lão xược. Nếu đã thế ta xua năm mươi vạn quân sang đánh xem ai thắng ai bại cho hay.
Nghiệp vội can:
- Xin tướng quân bớt giận. Nếu ta không lo xong việc giảng hoà thì tôi e mạng không còn giữ được, nói gì đến việc cầm quân đánh Nguyễn Huệ.
An hỏi:
- Ông nói vậy nghĩa là sao.
Nghiệp đáp:
- Ta viết thư sai sứ sang bày hắn xin hàng, bức thư ấy Nguyễn Huệ còn giữ. Nay nếu ta giận mà bỏ việc nghị hoà ngộ nhỡ Huệ đưa thư ấy cho vua ta. Vua ta tất sẽ bắt tội ta làm nhục quốc thể thì liệu tôi và tướng quân có thoát chết được chăng.
Phúc Khang An nghĩ thầm rằng, ta nhận mặt lệnh của vua nói với Thang Hùng Nghiệp rằng riêng ta chủ việc nghị hoà, nên Nghiệp mới ngờ rằng ta kháng mệnh khi quân làm nhục quốc thể.
Nghĩ rồi Khang An ngửa mặt than:
- Từ cổ chí kim chưa từng nghe nói thiên tử phải nhịn nước nước Nam nhỏ bé như thế bao giờ!
Thân xong, liền vào triệu yết kiến vua Càn Long. Phúc Khang An quỳ tâu:
- Muốn tâu Hoàng thượng, binh pháp có câu: Biết người biết ta trăm trận trăm thắng. Nay quân ta nghe Nguyễn Huệ đánh tan ba mươi van quan trong năm ngày khiến Tôn Đại tướng quân người không kịp mắc giáp, ngựa không kịp đóng yên phải quăng cả sắc thư ấn tín chạy về nước nên lòng người đều nao núng. Còn quân Nam khí thế đang hăng, muôn người như một e rằng ta sang đánh chưa hẳn đã dễ dàng thủ thắng. Ấy là một lẽ. Nay sắp sang mùa hạ, nước An Nam đầy lam sơn chướng khí, quân ta là người phương Bắc không hạp phong thổ tất sinh bệnh tật. Ấy là hai lẽ. Bởi hai lẽ bất lợi ấy mà nhân lúc Nguyễn Huệ cầu hoà, Hoàng thượng nên chuẩn tấu để tránh sự can qua. Đó là làm sáng tỏ đức độ của Hoàng thượng vậy. Đây là tở biểu cầu hoà của Nguyễn Huệ, kính trình lên Hoàng thượng. Xin Hoàng thượng duyệt lãm.


Vua Càn Long tiếp tờ biểu trên tay Phúc Khang An mà nét mặt chẳng vui, không muốn mở ra xem. Thấy vậy Hoà Thân bước ra quỳ tâu:
- Lời Phúc Khang An rất phải. Xin Hoàng thượng minh xét.

Vua Càn Long đổi giận làm vui giơ biểu ra xem. Trong đó có đoạn:

"Ôi! Kể ra nhân dân ở gốc biển này ai chẳng là con đỏ của thiên triều. Đại Hoàng đế là bậc thay trời hành đạo há lại ưa viển vông ham công lợi mà gây sự với nước nhỏ ở biên cương khiến dân nước tôi phải sa vòng tên đạn.
Ôi! Cứ kể nhân sĩ giáp bình ở một dải bờ biển này sánh cùng Đại quốc không được một phần muôn. Những sông sâu trước mặt, cọp dữ sau lưng nên lòng người sợ chết tất ai cũng phải cố gắng hăng hái! Bởi thế nên thần không tránh được tiếng quang chuột bể đồ bèn đem năm ba tên trái tráng trong làng ra Bắc.

Mùng Năm tháng Giêng nam Kỷ Dậu thần tiến đến Lê Thành, những mong Tôn Sĩ Nghị nghĩ lại, hoạ may đem đồ ngọc lụa thay đồ can qua, đổi binh xa làm hội xiêm áo. thần nhũn nhặn xin bái yết, Nghị không thèm trả lời.
Quá bữa sau quân Nghị xông ra đánh trước, vừa mải giao phong đã đổ vỡ chạy tan bốn ngả đè lên nhau mà chết. Thây phơi đầy đồng nội, xác dồn dập nghẽn sông. Còn những quân chạy trốn các thôn trang thì bị dân đánh giết gần hết, chứ thần nào đánh đấm gì đâu? Ấy là do Tôn Sĩ Nghị không dùng quân kỷ để chúng hiếp gái cướp chợ làm cho muôn dân căm hận đến tận xương tuỷ mà ra.

Trộm nghĩ: Việc binh đao là bất đắc dĩ của thánh nhân. Đại Hoàng đế thâm nghiêm ngủ ở cửu trường, những chuyện cương thường ở biên cương Tôn Sĩ Nghị không hề tâu rõ, Hắn che lấp tai mắt nhà vua làm cho mọi sự rối ren như thế. Châu chấu đá xe thần thật không dám. Song cửa vua xa cách muôn dặm thần bị kẻ ở biên thần hiếp đáp không sao nhịn nổi nên hình tích mới dường như chống cự.
Nay lòng trời đã chán nhà Lê. Xét nghĩ Đại Hoàng đế là bậc theo ý trời ban trị hoá. Xin ngài theo lẽ tự nhiên thứ cho cái tội đánh Tôn Sĩ Nghị, lập kẻ tư mục này để chăn dân, dựng nước phên dậu để vững thế, ban ơn mệnh cho thần được làm An Nam Quốc Vương đứng làm bình phong ở phía Nam, giữ cái chức phiên mục khiến cho bản quốc có người cầm đầu cai quản vậy".

Đọc xong vua Càn Long nói:
- Tờ biểu này lời văn khiêm tốn, lý lẽ sắc bén, hào khí tiềm ẩn. Nguyễn Huệ thật là người tâm thì hoà, thần thì minh, mà tính thì dũng vậy. Nhưng nếu ta đồng ý bãi binh thuận hoà hoá ra ta là nước lớn mà số nước nhỏ hay sao?
Hoà Thân bàn rằng:
- Hoàng thượng buộc Nguyễn Huệ phải cống hai người vàng như triều Lê lúc trước, Nguyễn Huệ muốn hoà tất phải bằng lòng. Vậy ta chiếm thế thượng phong không sợ mang tiếng nước lớn mà sợ nước nhỏ. Nguyễn Huệ vội vã nộp cống người vàng còn cảm ơn ta tha mà không đánh.
Vua Càn Long khen:
- Kế của khanh khiến ta vừa được ơn vừa được lợi, nhất cử lưỡng tiện thật là diệu kế.
Nói xong vua Càn Long liền sai viết chiếu cho sứ giả đem sang Nam quốc.
Vua Quang Trung nhận được thư vua Càn Long liền cho với Ngô Thì Nhậm và Trần Văn Kỷ đến hỏi:
- Càn Long thuận hoà nhưng ra điều kiện buộc ta phải nộp cống hai người vàng như triều Lệ thuở trước. Khanh trước là tôi nhà Lê, vậy việc này là như thế nào.
Nhậm đáp:
- Ba trăm năm trước vua Lê Thái Tổ khởi binh Lam Sơn đánh đuổi quân Mình xâm lược giành độc lập cho nước ta có giết hai viên đại tướng của quân Minh là Liễu Thăng và Lương Minh ở tại Chi Lăng. Sau vua Lê Thái Tổ xin hoà, nhà Minh buộc vua Lê phải đền hai người vàng to bằng người thật hàng năm nộp cống để đền mạng cho Liễu Thăng và Lương Minh. Vua Lê Thái Tổ ta vì muốn tránh binh đao nên phải tuân theo. Về sau thành lể. Nay Càn Long bù tà phải theo lệ ấy mới thuận cho hoà để thu lợi lớn.

Vua Quang Trung gằn giọng bão:
- Thật là vô lý! Bọn chúng sang xâm lược nước ta tàn hại dân ta, chết là đáng lắm, chúng không đền mạng cho dân ta thời thôi, sao ta lại đi đền mạng cho chúng? Muốn hoà thời hoà, muốn đánh thời đánh, nhất định không nộp cống người vàng.
Các tướng Đặng Văn Long, Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong, Vũ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Nguyễn Văn Lộc, Trần Quang Diệu cũng đứng lên nói:
- Lời Hoàng thượng rất phải. Việc giảng hoà nhờ tài Ngô tiên sinh. Nếu họ không hoà đã có Tây Sơn thập hổ chúng thần và Hoàng thượng lo liệu. Nhất định không chịu cống người vàng.
Ngô Thì Nhậm nhìn các tướng rồi hỏi:
- Ở đây chỉ có bảy vị tướng quân sao bảo là Tây Sơn thập hổ tướng?
Vua Quang Trung cười đáp:
- Thế ba người đang trấn thủ Bắc Hà là Văn Sở, Văn Lân, Văn Tuyết lại không phải là hổ tướng hả sao? Mười tướng này từ ngày khỏi bình ở Tây Sơn đến nay được bá quan tặng danh hiệu là Tây Sơn thập hổ đại tướng quân đó!
Vỡ lẽ, Ngô Thì Nhậm nói:
- Hồng hạc bay cao nhờ vây cánh. Chính nhà Tây Sơn nhờ thập hổ tướng mà Hoàng thượng điều binh thần tốc khiến tướng thiên triều phải thất kinh hồn vía mà xui ta giảng hoà. Thần xin cố sức múa bút cầu hoà nhưng không nộp cống người vàng. Nhất định không phụ mệnh Hoàng thượng và làm nhục quốc thể nước Nam ta.

Nói xong Nhậm liền lấy bút nghiên ra viết biểu. Viết xong dâng vua. Xem rồi vua Quang Trung khen:
- Giọng văn của tiên sinh viết đúng ý như phong thái của ta. Thật hiểu ta không ai bằng tiên sinh vậy. Tiên sinh làm cách nào mà viết đến mức xuất thần như thế được?
Nhậm vô tình đáp:
- Ngươi hành văn muốn viết xuất thần phải biết hoá thân. Khi mượn danh Hoàng thượng viết biểu, hạ thần hoá thân tư tưởng mình là Hoàng thượng nên mới viết được lời của Hoàng thượng đó.
Vua Quang Trung rót một chung rượu thưởng cho Ngô Thì Nhậm. Đoạn vua đóng ấn triện vào tờ biểu ấy và sai sứ sang Mãn Thanh trao cho vua Càn Long, đoạn vua truyền bãi triều.
Ra ngoài Trần Văn Kỷ nói riêng với Ngô Thì Nhậm rằng:
- Ông là danh sĩ người trong nước đều biết tiếng sao trước mặt vua nói không biết giữ lời, muốn mất đầu hay sao chứ?
Nhậm lại hỏi Văn Kỷ:
- Tôi nói gì mà bảo là muốn mất đầu?
Kỷ đáp:
- Ông bảo rằng tư tưởng mình là Hoàng thượng thì không phải là đáng tội chết ư? Nếu một mai thất sủng thì thế nào?
Ngô Thì Nhậm cười đáp:
- Hoàng thượng là người khoan dung rộng lượng đời nào cố chấp chuyện vô tình.
Kỷ hỏi:
- Ông tự cho rằng mình thấu hiểu Hoàng thượng đến thế sao.
Nhậm đáp:
- Nếu không thấu được lòng vua sao tôi có thể viết biểu cho Càn Long y như là lời và ý của vua được.
Nói xong Nhậm cáo biệt ra về. Trần Văn Kỷ vào gặp vua Quang Trung rồi quỳ tâu:
- Xin Hoàng thượng tha tội cho Ngô Thì Nhậm.
Vua Quang Trung cười hỏi:
- Ta có bắt tội Nhậm bảo giờ sao khanh lại vào xin tội?
Kỷ đáp:
- Lúc này trong triều Ngô Thì Nhậm có nói câu "tư tưởng làm Hoàng thượng." Xét theo lý là khi quân muốn ngang hàng với vua, những xét theo tin là lời ngày thật của kẻ cầm bút. Xin Hoàng thượng chớ để tâm làm gì.
Vua Quang Trung cười mà nói:
- Cảm ơn khanh đã dùng lời trung thực mà can gián trẫm. Nhưng trẫm đây há lại chẳng biết rằng kẻ sĩ muốn mệnh danh người nào để hạ bút xuất thần tất phải hoá thân làm người đó hay sao? Trẫm đời nào lại để tâm vì câu nói vô tình của Ngô Thì Nhậm chứ!
Trần Văn Kỷ ra về than rằng:
- Ta hãy còn thua Ngô Thì Nhậm một bậc vậy.

Nói về vua Càn Long nhận được biểu của Nam Vương bèn giở ra xem. Biểu đại ý rằng:

"Từ ngàn xưa đến nay Đại quốc với An Nam đã phân hai nước rõ ràng, tiếng nói phong tục đều khác, bờ cõi cương vực đã chia. Vậy nên sau khi đuổi nhà Minh lấy lại nước xong, vua Lê Thái Tổ có viết trong bài Bình Ngô Đại Cáo rằng: "Từ Đinh, Lê, Lý, Trần bao đời gây nên độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương". Chứng tỏ ý trời và lòng người đều muốn định phân địa lợi. Nhà Minh vì trên cãi ý trời, dưới nghịch lòng người mới đem Bắc quân xâm phạm Nam quốc. Đâu chính đâu tà, thần tôi trộm nghĩ dù không biện luận nhưng anh minh như Đại Hoàng Để tất đã thấu rõ. Bởi không được thiên thời, địa lợi, nhân hoà nên nhà Minh mới bại binh ở Nam Quốc. Vua Nam là Lê Thái Tổ thấy nước mình bé nhỏ sợ nước lớn hiếp đáp mới phải cầu hoà. Nhà Minh nhân cơ hội ấy muốn việc hai tướng Lương Minh và Liễu Thăng tử trận tại ải Chi Lăng mà buộc Nam quốc đúc hai người vàng, hàng năm nộp cống để đền mạng cho hai tướng ấy, mới thuận cho hoà. Ngươi Nam vì bắt đắc dĩ mới bỏ vàng bạc ra mua sự sống cho mình. Nhưng còn thượng quốc nhận cống người vàng thì điều phải trái nên suy nghĩ như thế nào? Nay Đại Hoàng đế lệnh cho thần hàng năm phải nộp cống người vàng theo lệ nhà Lê thuở trước, mới thuận cho hoà. Thiết nghĩ nước thần nghèo, chinh chiến triền miên, vả lại vừa rồi Tôn Sĩ Nghị kéo quân sang đây thả sức vơ vét khiến tài vật trong nước nay đã cạn kiệt mà mỗi năm phải kiếm cho ra bốn vạn lượng vàng đức người nộp cổng thật là quá sức. Trong lúc dân nước thần chưa an cư lạc nghiệp, người người đói khát mà thần buộc phải vơ vét để nộp cống cho thượng quốc thử hỏi nhân đạo như Đại Hoàng Để không đau lòng sao được? Thậm chí, Đại Hoàng Để bắt phải đúc bón người vàng thế mạng cho Hứa Thế Hành, Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Sầm Nghi Đống hàng năm nộp cống thì dân nước thần ắt là phải chết. Còn nếu không nộp, Đại Hoàng Bé sai tướng sang bắt tội cũng không sống được. Vậy dân thần xin chọn cái chết nhàn hơn, mau hơn và vinh hơn. Xin Đại Hoàng Để nghĩ lại mà tha cho tội không nộp cống người vàng".

Đọc xong vua Càn Long tấm tắc khen:
- Ta đã từng ngao du bốn cõi, kết giao hào kiệt mười phương nhưng chưa từng gặp người nào anh hùng như Nguyễn Huệ cả. Nếu ta không thuận hoà hoá ra ta là kẻ không biết điều nhân đạo hay sao.

Nói xong vua Càn Long bèn bãi lệ cống người vàng và tự tay viết chiếu phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.

Vua Quang Trung nhận được chiếu rồi bèn cười nói với Ngô Thì Nhậm và Trần Văn Kỷ:
- Nay ta hoà được với Mãn Thanh và bỏ lệ cống người vàng mà nước Nam ta đã gánh chịu suốt ba trăm năm. Ấy là một thắng lợi lớn vậy. Ta đọc sử nghe rằng đất lưỡng Quảng xưa kia là của nước Nam ta, về sau người Tàu đuổi người Nam đi mà lấy đất ấy. Điều này có hay chăng?
Kỷ đáp:
- Thưa, đúng là như vậy!
Vua lại hỏi:
- Hai khanh đều là danh sĩ làu thông kinh sử, vậy ta hỏi hai khanh: từ xưa đến nay nước Nam ta đã có ai dám đánh nước Tàu chưa?
Ngô Thì Nhậm đáp:
- Thưa, đã có nhiều ví như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo đều có công đánh quân Tàu giữ nước. Gần đây có vua Lê Thái Tổ đuổi quân Minh cũng là đánh quân Tàu cả.
Vua Quang Trung cười hỏi:
- Ấy là người Tàu sang xâm lược nước ta rồi ta mới đánh. Trẫm muốn hỏi đã có ai đem quân sang đánh nước Tàu chưa?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Hơn ngàn năm trước có Triệu Đà làm vua nước Nam Việt gồm cả đất Lưỡng Quảng đã đem quân sang đánh quân Trường Sa nước Tàu, sau Lưỡng Quảng mặt về tay người Tàu. Đời Lý có Đại tướng Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân sang đánh Lưỡng Quảng cũng là sang đánh nước Tàu vậy!
Vua hỏi:
- Đánh Tàu rồi thắng bại thế nào.
Trần Văn Kỷ và Ngô Thì Nhậm không biết ý vua muốn nói gì nên đưa mắt nhìn nhau. Nhậm dè dặt đáp:
- Hai người ấy sang đánh Tàu được toàn thắng nhưng phải vội kéo quân về.
Vua lại hỏi:
- Thế có ai sang đánh rồi chiếm đất của nước Tàu hay chưa?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Việc này xưa nay chưa ai làm được.

Vua Quang Trung vụt đứng lên vỗ án nói:
- Đợi vài năm nữa ta sẽ sang đánh và chiếm đất Lưỡng Quảng xưa là đất của nước Nam ta cho các khanh xem. Nhưng trước tiên cần phải tiêu diệt Nguyễn Phúc Ánh ở miền Nam, sau đó sẽ điều toàn binh ra Bắc đánh Mãn Thanh.
Nghe vua Quang Trung nói xong Trần Văn Kỷ và Ngô Thì Nhậm một lần nữa đưa mắt nhìn nhau trong lòng hoài nghi mà không dám nói.



***
Chương 57

Chí tự cường, Quang Trung thay quốc tự
Luận cơ trời, Hoàng hậu bình thơ

Nói về Nguyễn vương ở Gia Định, ngày ấy nơi thành Sài Côn Nguyễn vương họp các tưởng nói:
- Nay đã đến mùa gió Nồm ta nên đem thuỷ quân thuận gió đánh Quy Nhơn. Các tướng ai có kế gì chăng?
Nguyễn vương vừa dứt lời. Xảy quân do thám vào báo:
- Tâu Thượng vương, đây là tờ hịch của vua em Tây Sơn là Quang Trung Nguyễn Huệ truyền cho dân chúng ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên. Kính trình Thượng vương duyệt lãm.

Nguyễn vương với đón lấy tờ hịch mở ra đọc, hịch rằng:

"Hịch truyền dân chúng ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên.

Kể từ ngày Tây Sơn dấy nghĩa đến nay nhờ dân ba phủ hết lòng giúp đã nên Hoàng Đại huynh ta mới dựng nên cơ nghiệp lớn. Công lao của nhân dân ba phủ thật đáng lưu truyền vào sử xanh.

Vua rồi nghe Nguyễn Phúc Ánh được bọn người Pháp Lang Sa theo giúp, lại được thần tiên rước lên trời khiến nhân dân nghi ngại bỏ việc nông tang, xôn xao bàn điều thế sự.

Thật ra ấy là bọn Pháp Lang Sa dùng khinh khí cầu bay được lên cao đem chuyện thần tiên phỉnh lừa bá tánh. Ta còn lạ gì khinh khi cầu của bọn chúng! Bọn người mắt xanh mũi lõ, nước da trắng bệch như một xác chết trôi ngoài biển Bắc kia nào có tài cán gì mà dân chúng phải sợ? Ta đã từng đốt cháy tàu của chúng trận sông Thất Kỳ Giang, đuổi Nguyễn Phúc Ánh lội bùn Gia Định mà chạy như một con vịt lạc. Đại quân ta, xưa nay đi đến đâu không kẻ thù nào dám chống cự, không thành trị nào ngăn cản được. Điều này hẳn dân ta cũng đã biết.

Nay đã đến mùa gió Nồm, dân chúng hãy hết lòng giúp đỡ Hoàng Đại huynh ta đề phòng Phúc Ánh đánh ra.
Đợi hết Hạ sang Thu đầu mùa gió Bấc ta sẽ thân chinh kéo đại binh vào Gia Định tiêu diệt bọn Pháp Lang Sa, giết cho được Nguyễn Phúc Ánh, để mầm mống phản loạn không còn manh nha quấy rối, cho nhân dân cả nước được an cư lạc nghiệp.

Nay chiếu.

Quang Trung Nguyên niên".


Xem xong Nguyễn vương toát mồ hôi nói:
- Ta những tưởng Nhạc - Huệ bất hoà nước ai nấy lo, không ngờ Huệ lại định đem quân giúp Nhạc đánh ta. Trăm vạn quân Tây Sơn ta không ngại, chỉ ngại có mình Nguyễn Huệ mà thôi.
Võ Tánh hỏi:
- Phải đến mùa gió Bắc Nguyễn Huệ mới đem quân vào đánh ta được. Nay ta nên thuận gió Nồm đánh Nhạc ở Quy Nhơn, hay cũng cố lực lượng chống Nguyễn Huệ.
Nguyễn vương lấy vạt áo lau mồ hôi trán rồi nghiến răng nói:
- Truyền lệnh ta lập tức xuất quân!

Tháng ba năm Nhâm Tý (1792) Nguyễn Vương đem đại binh theo đường biển thuận gió Đông Nam ra đánh Quy Nhơn. Thái tử Tây Sơn là Nguyễn Bảo và cha con Lê Trung, Lê Chất rút thuỷ quân vào đóng trong đầm Thị Nại rồi chia quân giữ các nơi hiểm yếu. Quân Nguyễn vương đánh mãi không được, Nguyễn vương đành kéo quân về Gia Định.

Đến Sài Côn thấy trên bến sông Thị Nghè các giáo sĩ người Pháp Lang Sa rộn ràng đem gia quyến xuống thuyền. Nguyễn vương gọi lại hỏi:
- Ta đã cho các ngài được tự do truyền đạo. Vậy có ai dám kháng lệnh quậy phá các ngài hay sao mà cả ngài lại bỏ đi?
Một giáo sĩ đáp:
- Nay đã gần đến mùa gió Bấc, chúng tôi phải di tản về nước tránh Nguyễn Huệ đem quân vào đánh!.
Nói rồi cả bọn liền từ biệt Nguyễn vương mà đi. Nguyễn Vương vào thành mời các tướng đến thương nghị. Nguyễn vương hỏi:
- Nay Nguyễn Huệ đã hoà với nhà Thanh. Huệ định đến mùa Thu sẽ đem quân đánh ta. Vậy ta nên tiến thủ thế nào.
Mưu sĩ Ngô Tùng Châu bước ra nói:
- Nguyễn Huệ đánh ta tất phải dùng cả thuỷ cả bộ, vậy ta phải chia quân ra giữ hai cửa biển Cần Giờ, Hàm Luông. Bộ quân ta tăng cường trấn thủ Trường Đồn ở phía Nam, Trấn Biên ở phía Bắc thì Thượng vương ở Sài Côn vững như bàn thạch vậy.
Nguyễn vương lo lắng nói:
- Kế này là kế năm xưa Ngô tiên sinh tiến cử Gia Định tam hùng trấn thủ các nơi ấy, nhưng khi Nguyễn Huệ tiến quân vào thì không ai giữ nổi. Nguyễn Huỳnh Đức giữ Hàm Luông thì bị Đặng Văn Long bắt sống, quân ta bại trận khắp nơi. Nay dùng kế ấy e cũng như năm xưa nào có khác gì.
Võ Tánh tức khí bước ra nói lên:
- Tuy kế sách chống giữ cũng như nhau nhưng quân tình có khác. Phen này phải đánh thắng Nguyễn Huệ mới được!
Nguyễn vương hỏi:
- Quân tình khác ở chỗ nào?
Tánh đáp:
- Lúc ấy quân ta mới mộ, còn này tướng sĩ đã thiện chiến. Lúc ấy vũ khí thô sơ, còn nay người Pháp giúp ta tàu đồng, đại bác. Vả lại lúc ấy thần cố an thân ở rừng Tam Phụ, nay thần đã quyết lòng đánh giặc lập công chuộc tội, báo đáp ơn trị ngộ của Thượng vương. Ấy là ba điểm khác nhau của quân tình vậy.
Nguyễn vương nghe thế tạm an lòng. Từ ấy ngày đêm rèn luyện quân sĩ chờ quân Tây Sơn đến đánh.

Nói về vua Quang Trung ở Phú Xuân sai Vũ Văn Dũng đi sứ Mãn Thanh rồi, vua bàn với Trần Văn Kỷ rằng:
- Quân ta từ trước đến nay chỉ là người tình nguyện xung phong làm lính. Nay ta muốn tuyển thêm quân để dự phòng đánh Mãn Thanh, vậy phải làm thế nào?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Số người còn lại không muốn đi lính vì nặng óc trung quân, cho rằng Hoàng thượng không phải dòng chính thống. Nay nếu ta cứ bắt lính bừa bài e náo động nhân tâm.
Vua hỏi:
- Vì sao lại náo động nhân tâm.
Kỷ đáp:
- Số người không muốn đầu quân khi bị bắt lính trốn từ làng này sáng làng khác. Nếu Hoàng thượng xuống lệnh bắt gắt gao e rằng bọn hương lý thừa cơ hội ấy sách nhiễu lương dân nên náo động nhân tâm là do thế.
Đêm ấy vua Quang Trung trằn trọc mãi. Hôm sau vừa gọi Trần Văn Kỷ đến hỏi:
- Nếu ta có cách bắt lính mà vẫn giữ được kỷ cương khiến kẻ nhút nhát không thể trốn việc đầu quân, và bọn hào lý không thể sách nhiều dân lành được thì thế nào?
Trần Văn Kỷ lại hỏi vua rằng:
- Xin hỏi Hoàng thượng ấy là cách nào?
Vua Quang Trung đáp:
- Ta lệnh cho dân trong nước mỗi người phải đeo một cái thẻ bài để bốn chữ "Thiên Hạ Đại Tín". Trong thẻ bài ấy phải ghi rõ tên, họ và tuổi tác. Hễ ai có thẻ bài là dân trong nước của ta, rồi cứ ba tráng đinh kén lấy một người đầu quân, nhờ đó không ai có thể trốn tránh được và hào lý địa phương cũng không có cớ gì sách nhiễu dân lương thiện có thẻ bài. Nếu vậy chắc chắn tuyển được thêm quân và kỷ cương pháp luật được giữ vững. Trần tiên sinh thấy thế nào?
Trẫm Văn Kỷ vòng tay nói:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn. Hoàng thượng có tài kinh bang tế thế xưa nay chưa từng thấy vậy.
Vua Quang Trung trầm ngâm nói:
- Nước Nam ta đất rộng dân thưa. Nay ta muốn mũ xuống hịch khuyến nông xuất ngân khố nhà nước giúp đỡ dân nghèo khai khẩn đất hoang thì mới mong dân giàu nước mạnh đề đối chọi với Mãn Thanh phương Bắc và bọn Pháp Lang Sa ở miền Nam được. Vậy phiền Trần tiên sinh hãy soạn hịch khuyến nông truyền khắp trong nước.
Trần Văn Kỷ tuân lệnh lập tức thi hành.

Hôm sau vua Quang Trung giả dạng dân thường đem theo Võ Đình Tú và Trần Văn Kỷ ra ngoài thành xem xét. Đến một thôn trang kia, thấy dân chúng trong thôn tụ tập ở sân đình nghe quan chánh thôn đọc chiếu khuyên nông.
Vua Quang Trung bảo Võ Đình Tú và Trần Văn Kỷ:
- Ta mau đến gần xem thử quan lại các cấp thi hành pháp lệnh thế nào.
Vua tôi tới nơi vừa lúc quan chánh thôn đã đọc xong bài hịch rồi. Một cụ già bước ra hỏi:
- Chiếu vừa ban ra quan trên đọc bảng tiếng Hán. Dan đen chúng tôi ít học nên không hiểu, nhờ quan trên dịch nghĩa Nôm cho thì dân chúng tôi mới biết trong chiếu vừa nói gì.
Quan chánh thôn đáp:
- Lệnh vua ban ra bảo đọc chiếu chứ không bảo dịch chiếu. Các ngươi muốn hiểu thì tự đi học lấy chữ Thánh hiền.
Nói xong quan chánh thôn liền bỏ về. Vua Quang Trung hỏi cụ giá ấy:
- Vậy cụ phải nhờ ai địch chiếu của vua.
Cụ già đáp:
- Nhờ quan chánh thôn chứ còn ai nữa.
Vua ngước nhìn hỏi:
- Lúc này quan đã không chịu dịch rồi kia mà.
Cụ già cười đáp:
- Cứ đến nhà riêng mang theo lễ vật, quân lập tức dịch ngay.
Nghe xong vua Quang Trung lẳng lặng ra về. Trên đường về Trần Văn Kỷ bàn:
- Hoàng thượng nên xuống hịch cho quan sở tại có bổn phận phải dịch Nôm cho dân chúng nghe thì tránh được tình trạng quan lại thừa kẽ hở của pháp luật mà nhận quà cáp của dân.


o o o

Vua Quang Trung bảo:
- Ta có cách không cần phải ra lệnh cho quan sở tại dịch Nôm, mà họ vẫn phải đọc chiếu của vua bằng tiếng Nôm của ngươi Nam ta cho dân chúng hiểu được.
Trần Văn Kỷ hỏi:
- Thưa, ấy là cách gì?
Vua Quang Trung vừa đi đến đoạn đường có nhánh cây to bằng bắp chân đâm ngang chặn lỗi, vua đưa tay vận sức bẻ nhánh cây ấy xuống và nói:
- Thay đổi quốc tự!
Văn Kỷ giật mình hỏi:
- Thế nào là thay đổi quốc tự?
Vua đáp:
- Từ nay về sau không dùng chữ Hán của người Tàu mà dùng chữ Nôm của ngươi Nam ta viết chiếu chỉ, văn thư.
Văn Kỷ lo lắng hỏi:
- Nhưng nước Nam ta từ mấy ngàn năm nay trải quả bao triều đại đều dùng chữ Hán làm quốc tự. Nay Hoàng thượng đổi quốc tự e không thuận lòng người. Xin Hoàng thượng nên thận trọng xem xét lại.

Vua Quang Trung ném nhánh cây xuống đất đáp:
- Ta đã suy xét từ lúc tóc còn để chỏm. Nay thả canh dần ta dùng chữ Hán làm quốc tự gặp bao điều rắc rối ta càng quyết tâm hơn.
Văn Kỷ hãy truyền hịch khắp thiên hạ từ nay trở đi dùng chữ Nôm làm quốc tự.
Trần Văn Kỷ tuân lệnh theo ý vua mà làm.

Chiếu lệnh được ban ra.

Hôm sau vua Quang Trung và Võ Đình Tú, Trần Văn Kỷ lại giả dạng dân thường a ngoài thành xem xét. Đến chỗ đông người nghe một nho sĩ nói lên rằng:
- Vua Quang Trung không học sách Thánh hiền mà hạ lệnh dùng chữ Nôm làm quốc tự thay chữ Hán.
Võ Đình Tú nghe vậy nổi giận phừng phừng, vùng tung người nhảy đến chỗ tên nho sĩ vừa nói. Vua Quang Trung lẹ mắt nhảy vội theo chụp được bàn chân Võ Đình Tú kéo xuống đất. Vua quở:
- Khi chưa có lệnh ta không được làm càn.
Võ Đình Tú tức tối, nói:
- Tên hủ nho buông lời phạm thượng. Xin để thần bắt nó đến chỗ Hoàng thượng trị tội.
Vua Quang Trung gạt đi bảo:
- Đã nói họ là hủ nho còn chấp họ làm gì. Mau theo ta về cung.
Về cung, vua hỏi Trần Văn Kỷ:
- Kẻ hủ nho trong thiên hạ không phải là ít. Nay họ đặt điều nói gièm e không lợi cho ta. Theo tiên sinh ta phải đối phó bằng cách nào?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Việc này thật thần chưa từng gặp. Xin Hoàng thượng hãy vấn kế Ngô Thì Nhậm xem sao.
Vua trầm ngâm bảo:
- Ngô Thì Nhậm đang cùng Văn Sở, Văn Lân, Văn Tuyết trấn thủ Bắc Hà. Ta phải triệu Thì Nhậm về ngay mới được.
Đoạn vua viết chiếu lệnh sai quân gặp ra Thăng Long. Về đến Phú Xuân gặp vua Quang Trung, Ngô Thì Nhậm hiến kế:
- Kẻ sĩ trong thiên hạ đều tâm phục khẩu phục một người, xem như bậc thầy tôn làm phụ tử, ấy là La Sen Nguyễn Thiếp. Nay Hoàng thượng mời Nguyễn Thiếp ra chủ trì việc thay đổi quốc tự, tất kẻ hủ nho không còn ai dám buông lời gièm xiểm.
Vua Quang Trung mừng rỡ vỗ tay khen:
- Ngô tiên sinh thật là cao kiến. Vậy phiền khanh đến mời phu tử một phen.
Ngô Thì Nhậm tuân lệnh sớm sứa lên đường.

Nói về La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ở Hành Âm cốc ngày ấy đang tham thiền nhập định bỗng giật mình gọi tiểu đồng đến bảo:
- Ngươi mau dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị hương ở cho ta tiếp chỉ của vua.
Tiểu đồng vừa làm xong thì Ngô Thì Nhậm đến đọc chiếu mời của vua. Nguyễn Thiếp vui vẻ nói:
- Xin ngài chờ cho một lát. Tôi vào trong thu xếp rồi sẽ đi ngay.
Vào trong tiểu đồng hỏi Nguyễn Thiếp:
- Vua Quang Trung lần trước mời thầy vấn kế đánh Mãn Thanh, thấy đi rồi lại quay về. Lần này thầy đi bao giờ mới về?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Hết Hạ sang Thu, đầu mùa gió Bấc ta sẽ quay về.
Tiểu đồng lại hỏi:
- Thày đi lo việc thay đổi quốc tự sao mới hai tháng quay về.
Thiếp buồn rầu đáp:
- Ta mười làm năm ở ăn học phép tham thiền biết điều quá khứ vi lại. Vua Quang Trung là người nhìn xa trông rộng, yêu nước thương dân, lo toan chính sự chuyên tâm cải cách. Nhưng ta định tâm nhìn vào tương lai thấy mọi sự đều bất thành. Thật là đáng tiếc.
Tiểu đồng ngạc nhiên hỏi:
- Thấy biết việc không thành sao còn nhận lời ra giúp vua.
Thiếp trầm ngâm đáp:
- Ta thường dạy học trò rằng: "Quốc giá hưng vong. Thất phu hữu trách". Việc vua thay đổi quốc tự dù không thành nhưng tiếng để ngàn thu. Nếu ta không giúp người đời sau sẽ bảo ta không bằng kẻ thất phu sao.

Nói rồi liền chống gậy ra xe theo Ngô Thì Nhậm về kinh yết kiến vua Quang Trung. Vua Quang Trung phong Nguyễn Thiếp làm viện trưởng Sùng Chính Viện, chiêu tập kẻ thức giả trong nước vào làm việc trong viện, dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để truyền dậy dân chúng. Kẻ sĩ lúc bây giờ bảo nhau rằng:
- La Sơn phu tử là người chẳng thiết công danh không màng sinh tử nên vua vời đã ba lần mà ông ta không ra giúp. Nay phu tử là bậc thầy của bọn ta lại ra giúp vua thay đổi quốc tự tất việc này phải có ý nghĩ gì đây. Bọn ta không hiểu thời thôi, chớ bình phẩm vô tội vạ kẻo thiên hạ cười ta là kẻ chẳng biết gì.
Vua Quang Trung nghe những lời ấy bèn đến Sùng Chính Viện thi lễ với Nguyễn Thiếp, vua nói:
- Xin thầy hãy nhận của trẫm một lạy này.
Thiếp thất kinh vội can:
- Hoàng thượng là thiên tử sao lại làm thế cho lão thần mang tội với trời đất.
Vua Quang Trung nói:
- Nhờ thầy ra giúp việc thay quốc tự mà kẻ sẽ trong thiên hạ không chê trẫm là người ít học, nên trẫm đến đây tạ ơn phu tử
Nguyễn Thiếp vừa đỡ vừa vua nói:
- Ấy là bổn phận của thần đối với dân với nước. Nay thần đã hoàn thành sứ mạng dùng chữ Nôm là quốc tự mà Hoàng thượng giao cho, vả lại lão thần tuổi cao sức yếu, xin Hoàng thượng cho về nơi nước biếc non xanh hưu trí tuổi già.
Vua khẩn khoản rằng:
- Nay trẫm mới lên ngôi, thiên hạ chưa định, việc nước chưa yên. Phu tử là người nhìn xa trông rộng lại bỏ trẫm mà đi, ngộ nhỡ trong nước có điều khó xử thì trẫm biết thỉnh cao ý của ai.
Nguyễn Thiếp đáp:
- Nói về tại kinh bang tế thế thì xưa nay không ai bằng Hoàng thượng. Vả lại giúp việc vẫn thì đã có Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ đều là tay tài hoa lỗi lạc. Lo việc võ thì đã có Tây Sơn thập hổ đều là tướng trí dũng song toàn. Song thành bại là do trời mà thôi!
Vua Quang Trung hỏi:
- Ý Phụ tử đã quyết trẫm không dám ép. Trước lúc chia tay trẫm có điều muốn hỏi, xin Phụ tử dậy cho!
Nguyễn Thiếp đáp:
- Xin Hoàng thượng cứ nói.

Vua hỏi:
- Trẫm đã sai sứ sang Mãn Thanh gặp vua Càn Long đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là lãnh thổ của nước Nam ta. Nếu Càn Long không thuận thì sau khi tiêu diệt Nguyễn Phúc Ánh ở Gia Định xong, trẫm sẽ đem quân Bắc tiến đánh Mãn Thanh lấy đất cũ về cho nước ta. Xin hỏi Phu tử hai việc ấy thành bại thế nào?

Nguyễn Thiếp buồn rầu đáp:
- Lão thần định tâm nhìn vào tương lai thấy không có điều bình Nam, Bắc tiến. Lão thần có một bài thơ xin trao Hoàng thượng, đợi lão thần đi rồi Hoàng thượng hãy mở ra xem.

Nói rồi Thiếp vòng tay cáo biệt. Tiễn ra đến xe, vua Quang Trung cầm tay Nguyễn Thiếp hỏi:
- Nguyễn Phúc Ánh ở Gia Định chẳng qua nay mai trẫm chỉ đánh một trận là biết được mà thôi. Có việc đánh Mãn Thanh đòi Lưỡng Quảng, phu tử cho rằng trẫm không làm nổi ư?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Cả hai việc ấy Hoàng thượng thừa sức làm.
Vua ngạc nhiên hỏi:
- Vậy cớ gì thầy lại bảo không có điều bình Nam Bắc tiến?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Thiên cơ bất khả lậu! Những gì có thể nói thần đều viết trong bài thơ ấy cả. Xin Hoàng thượng hãy giữ gìn long thể.

Đoạn Thiếp ứa nước mắt từ biệt vua mà đi.
Còn lại một mình, vua Quang Trung liền giờ thơ ra đọc. Thơ rằng:

Một nước hai vua nặng vai già
Cuộc cờ phú quý pháo ngựa qua
Trời Nam mau gầy cây Sơn giống
Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!

Con thú một sừng gần trở mặt
Mà người chột mắt vẫn không ra
Bao giờ Nhật Nguyệt quang minh hội
Khi ấy du ca rỡ giống nhà.

Đọc xong bài thơ ấy, vua Quang Trung nét mặt dàu dàu lặng lẽ lui về hậu cung, Hoàng hậu Ngọc Hân hỏi:
- Hoàng thượng có điều buồn bực chăng. Sao long nhan lại ủ dột như thế?
Vua Quang Trung đáp:
- Ta hỏi Phu tử về việc đánh Gia Định giết Phúc Ánh và việc đánh Mãn Thanh lấy đất Lưỡng Quảng. Phu tử bảo không thầy có điều binh Nam, Bắc tiến. Phu tử lại trao cho ta bài thơ này. Ta đọc chưa rõ ý ra sao nên trong dạ không vui.
Nói xong vua trao bài thơ cho Lê Hoàng hậu.

Hoàng hậu đọc xong suy nghĩ giây lát rồi bàn rằng:

"Một nước hai vua nặng vai già,
Cuộc cờ phú quý pháo ngựa qua"

ý muốn nói rằng trong bàn cờ bá vương đã có vua em Quang Trung còn có vua anh Thái Đức. "Nặng vai già" có lẽ ý nói thầy Phu tử không kham nổi nên mới về ở ẩn chăng?

Vua đáp:
- Câu này ta cũng hiểu nghĩa chung là như thế. Vậy hai cậu tiếp theo ý thế nào?
Hoàng hậu đáp:

Trời Nam mau gầy cây Sơn giống
Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!

vậy Nguyễn Phúc Ánh không bị diệt nên phục quốc. "Gầy cây Sơn giống", ý muốn nói nên gìn giữ dòng giống của nhà Tây Sơn chăng?

Vua Quang Trung giục:
- Hoàng hậu cứ bàn tiếp xem câu thứ tư là ý thế nào.

Hoàng hậu đáp:
- Câu thứ tư là: "Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!". Cột Phúc Ba lá cây cột mà hai ngàn năm trước tướng nhà Hán là Mã Viện trồng ở ranh giới nước ta và nước Tàu. Câu này nghĩa là cột Phúc Ba hãy còn đó thì không có điều Bắc tiến.

Vua Quang Trung trầm ngâm nói:
- Hai câu này đúng ý mà Phụ tử đã nói với ta. Còn các câu sau thế nào?

Lê Hoàng hậu bàn rằng:
- Trong rừng sâu có một loại thú dữ một sừng gọi là Tê giác còn có tên là con Tây. Nay nghe nói người Tây dương theo giúp Phúc Ánh ở Gia Định có lẽ ứng vào câu năm là "Con thứ một sừng gần trở mặt" chăng?
- Còn câu tiếp theo?
- Ba câu sau thiếp thật không hiểu là ý thế nào. Nhưng xét cho cùng lời Phu tử đã lấy gì làm chắc!

Vua Quang Trung buồn rầu nói:
- Lần trước Phu tử đoán trong năm ngày ta đã phá quân Thanh, quả nhiên không sai. Lời Phu tử không thể xem thường. Nhưng việc đang làm ta cứ làm, thành bại là do trời vậy.

Lê Hoàng hậu an ủi vua rằng:
- Việc đánh Phúc Ánh, đàn bà như thiếp cũng biết rằng trăm phần chắc tháng, sao Phu tử lại bảo là không có điều binh Nam? Thiếp e lần này Phu tử lầm lẫn làm cho Hoàng thượng phải phiền muộn. Xin Hoàng thượng hãy vào trong chờ thiếp hầu hạ đừng nên lo lắng làm gì.

Vua vừa đứng lên toan đi theo Lê Hoàng hậu, bỗng quân cận vệ vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, tướng quân Đặng Xuân Phong và tướng quân Võ Đình Tú đang đánh nhau ở điện Thái tử.

Vua ngạc nhiên hỏi:
- Có việc ấy thật sao?
Quân đáp:
- Thưa, hai tướng được lệnh Thái tử phải thí võ cho xem nên đánh nhau long trời lở đất.

Vua hầm hầm nổi giận lập tức đến điện Thái tử. Đến nơi thấy Võ Đình Tú dùng côn đồng, Đặng Xuân Phong dùng côn sắt quần nhau chí tử. Thái tử Quang Toản và quan nội thị Bùi Đắc Tuyên cũng bọn quân hầu vỗ tay reo hò inh ỏi. Vua Quang Trung quát lên như sấm rằng:
- Mau dừng tay lại!
Tú và Phong đang đánh nhau; hoảng hốt quăng côn, mọi người đều quỳ thi lễ. Vừa lớn giọng hỏi Tú và Phong:
- Hai khanh đều là đại tướng của ta. Đường côn khai quốc lại đem làm trò vui cho kẻ khác mà không biết thẹn hay sao?
Võ Đình Tú cúi đầu đáp:
- Thái tử lệnh cho thần và Đặng tướng quân đấu võ cho người xem, nên chúng thần không dám không vâng.
Vua gọi Quang Toản đến hỏi:
- Vì sao còn lại làm việc ấy?
Quang Toản lúc ấy mới mười tuổi, Toàn vừa chỉ quan nội thị Bùi Đắc Tuyên vừa tâu rằng:
- Thường ngày cậu theo chơi với con, thấy con phiền muộn cậu bày con gọi tướng quân Võ Đình Tú và Đặng Xuân Phong đấu võ cho con xem.

Vua Quang Trung cả giận quát Bùi Đắc Tuyên rằng:
- Ngươi là cậu ruột của Thái tử nên mới được phong làm quan nội thị trông nom Thái tử. Sao đã xui Thái tử làm điều xằng bậy khinh dễ công thần tội thật đáng chết. Quân bay lôi vào chém!

Quang Toản quỳ khóc van xin:
- Từ ngày Mẫu hậu mất đi, cậu thay mẹ trông nom lo lắng cho con. Nay Phụ hoàng giết cậu thì là ai lo cho con. Xin Phụ hoàng tha cho cậu một phen!
Vua Quang Trung ôm Quang Toản vào lòng nói:
- Nể tình Thái tử ta tha chết cho nhưng phải đánh hai mươi roi làm gương cho kẻ khác. Võ sĩ mau thi hành lệnh ta.
Bùi Đắc Tuyên bị đánh hai mươi rơi vào mông lột da chảy máu đau đớn lắm cà nhắc mà về nhà.



***
Chương 58

Cãi lời cha, Quang Toản tha cậu
Dối lòng mình, Nguyễn vương giết quân

Nói về Bùi Đắc Tuyên bị đánh hai mươi roi đau đớn về nhà. Vừa đến nhà gặp một người ngồi quay lưng lại phía Tuyên. Người ấy nói rằng:
- Ngài là cậu ruột của Thái tử, đáng lẽ phải quyền nghiêng thiên hạ mới phải, cớ sao lại bị đồn đau như thế.
Bùi Đắc Tuyên nạt:
- Ngươi là ai vào nhà ta dám nói lời càn rỡ.
Người ấy vừa quay mặt lại vừa đáp:
- Ngày trước, vua em còn là Bắc Bình Vương bị vua Thái Đức bắt giam gia quyến ở Quy Nhơn. Tôi đưa ngài trốn khỏi Quy Nhơn về Phú Xuân báo cùng Bắc Bình Vương. Nay ngài đã quên tôi rồi ư?
Bùi Đắc Tuyên cả mừng nói:
- Thì ra là thái giám Vũ Tâm Can. Ơn ngài cứu tôi lần trước tôi quên sao được. Nay ngài đến đây có việc gì chăng?
Vũ Tâm Can làm bộ buồn rầu đáp:
- Vua anh Thái Đức biết việc ngày trước tôi tha cho ngài nên bắt tội tôi. May vua còn nghĩ tình cho tôi là Vụ Tất Thận nên người không giết mà đuổi tôi khỏi Hoàng cung. Tôi không nơi nương tựa nên mới đến đây nhờ ngài ít hôm vậy.
Tuyên vui vẻ nói:
- Ngài là người ơn và đối với tôi là cho thâm giao. Việc ấy nào khó gì. Cố tri âm tâm sự càng thích chớ sao.
Đoạn Tuyên sai quân bày rượu thịt. Rượu ngà ngà Vũ Tâm Can nói:
- Ngày xưa Trương Phúc Loan là cậu ruột của Vương Nguyễn Phúc Khoát làm đến chức Thái phó quyền uy tột đỉnh. Nay ngài là cậu ruột của Thái tử nếu ngày sau Thái tử lên ngôi thì ngài là cậu ruột của vua. Vậy cớ sao ngài chỉ làm chức Nội thị mà thôi, lại còn bị đòn đau thế. Tôi thật không thể nào ngờ được.
Tuyên cả thẹn nhưng cố giấu, đáp:
- Ta dù là anh vợ của Hoàng thượng, nhưng Hoàng thượng không tin cẩn người thân, chỉ trọng dụng hiền tài. Hoạ may khi Thái tử lên ngôi ta mới mong làm nên quan lớn.
Nói rồi hai người lại cùng nhau mời rượu, tâm đắc hàn huyên. Tối ấy Vũ Tâm Can tá túc trong tư dinh Bùi Đắc Tuyên.
Hôm sau Tuyên vào điện Thái tử nghe bọn cung nhân bàn tán rằng:
- Đêm rồi vua mắc bệnh, ngự y vua đến thăm bệnh cho vua xong.
Nghe được tin ấy Bùi Đắc Tuyên liền tìm gấp ngự y, Tuyên hỏi:
- Hoàng thượng long thể thế nào?
Ngự y đáp:
- Hoàng thượng mắc bệnh huyền vựng do cản hoả vượng nên xây xẩm mặt mày. Tôi vừa cho vua uống bài thuốc bình can tá hoả nên Hoàng thượng đã bình phục như thường.
Tuyên hỏi:
- Vậy là bệnh cảm mạo xoàng, không có gì nghiêm trọng chứ?
Ngự y đáp:
- Bảo xoàng thì không thể nói là xoàng, mà trầm trọng thì cũng không thể bảo là trầm trọng.
Bùi Đắc Tuyên lấy làm lạ hỏi:
- Bệnh tình gì mà lạ như thế?
Ngự y đáp:
- Trong lục phủ ngũ tạng của con người thi can chủ về huyết và điều tiết huyết lượng. Bệnh can hoả vượng là gan bị nóng mà khiến cho huyết lượng vận hành lên não nhiều quá, khiến mạch máu trên đầu không dung chứa nổi phải vỡ ra. Nếu đã đến tình trạng vỡ mạch máu não thì không có thuốc gì chữa khỏi nên không thể gọi bệnh xoàng là do thế. Cũng may Hoàng thượng mới phát bệnh tôi liền cho uống thuốc bình can tá hoả nên trở lại bình thường, bởi vây gọi là chưa trầm trọng là do thế.
Tuyên cười bảo:
- Hoàng thượng đã khỏi bệnh tất không phải là trầm trọng. Sao người lại lý luận dông dài thế?
Ngự y nói:
- Tạm thời là khỏi những nếu không giữ gìn sẽ tái phát ngày, hậu quả không lường trước được.
Tuyên hỏi:
- Giữ gìn như thế nào.
Ngự y đáp:
- Bệnh này không được nóng giận, không được dùng vật thực có chất kích thích mới khỏi tái phát. Ngài là quan nội thị nên để tâm chăm sóc cho Hoàng thượng mới được.

Nói rồi ngự y cáo biệt ra về.

Đêm ấy các tướng nghe vua Quang Trung bị bệnh lũ lượt kéo đến thăm. Vua mới mọi người vào ngự điện rồi cười nói:
- Ta chỉ hơi mệt trong giây lát, ngự y vừa cắt thuốc đã khỏi ngày. Sẵn dịp các tướng đến đông đủ ta nhắc lại việc này: Nay đã là cuối tháng bảy, cả tướng hãy chỉnh đốn binh mã chuẩn bị quân trang chờ gió Bấc sẽ cùng ta kéo đại binh vào Nam bắt Phúc Ánh.
Các tướng đều vâng lệnh. Vua quay sang hỏi Trần Văn Kỷ:
- Việc ta dùng chữ Nôm làm quốc tự và cấp thẻ bài cho dân, đến nay tiên sinh thấy bá tánh sinh hoạt thế nào.
Kỷ đáp:
- Tâu Hoàng thượng, nhờ ta áp dụng cách ấy mà đến nay dân giàu nước mạnh, trăm họ đều an cư lạc nghiệp.
Vua lại hỏi:
- Vũ Văn Dũng đi sứ sang Tàu tin báo thế nào.
Kỷ đáp:
- Sứ đoàn đã đến Lưỡng Quảng. Vũ Văn Dũng cần quan sát địa hình vẽ bản đồ đất ấy nên không thể ở mau được.
Vua bảo mọi người rằng:
- Các khanh hãy về ăn nghỉ. Ngày mai đến hạn thiết triều ta sẽ ra ngự triều nghe bá quan báo cáo tình hình trong nước.
Trần Văn Kỷ can:
- Hoàng thượng long thể bất an nên nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng...
Vua ngắt lời Văn Kỷ:
- Cũng nhờ ta mắc bệnh cảm xoang mà các khanh đến đây đông đủ. Để ta đánh bài đao này ắt các khanh sẽ không quá lo cho ta như thế nữa.
Đoạn vua bảo quân:
- Mau mang đao đến đây.
Hai tên quân khệ nệ khiêng đến một cây đao to lớn khác thường. Vua nhấc bổng đao lên hỏi Võ Đình Tú:
- Cây đao này có nặng bằng cây đao thời Quan Vân Trường trong nhà của Đình Tú ở Tây Sơn hay chăng.
Đình Tú đáp:
- Thưa nặng hơn thế nữa ạ.
Vua Quang Trung hoành đao bỏ bộ mà múa. Đao đi như chớp, hơi gió vi vu, khí lạnh rợn người. Múa xong vua dựng đao hỏi Đình Tú:
- Sức khỏe của ta có còn như lúc trước múa đao cầu Đình Tú đánh thành Quy Nhơn chăng?
Đình Tú mừng rỡ đáp:
- Sức khỏe Hoàng thượng vẫn như xưa.
Vua cười bảo:
- Chưa diệt xong Phúc Ánh ở Gia Định, chưa đo xong đất Lưỡng Quảng về cho nước Nam, ta sao có thể yên đi được. Thôi các khanh hãy về ăn nghỉ, ngày mai đến hạn thiết triều cùng bàn việc quốc gia.

Mọi người ra rồi, Trần Quang Diệu gọi Bùi Đắc Tuyên đến hỏi nhỏ:
- Từ lúc tôi theo Hoàng thượng đến nay chưa bao giờ thấy người hưng phấn như thế cả. Thật là lạ! Chú là quan nội thị nên trông nom Hoàng thượng cho cho đào. Nếu thấy càn thì gọi quan ngự y đến trực bên giường ngự. (Tuyên là chú ruột của Bùi Thị Xuân nên Diệu gọi Tuyên bằng chú). Dặn dò xong Điều mới ra về.

Đêm ấy trong cảnh ba đã điểm. Vua Quang Trung vẫn ngồi bên ngọn nến giở bài thơ của Nguyễn Thiếp ra xem. Vừa lầm bầm rằng:

"Trời Nam mau gầy cây Sơn giống
Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!"

Không có điều binh Nam, Bắc tiến. Thật là lạ! Bỗng Bùi Đắc Tuyên đến bên vua tâu:
- Xin dâng Hoàng thượng chén trà ngon để cơn buồn ngủ.
Vua Quang Trung hỏi:
- Hôm quá ta đánh ngươi hai mươi roi, người không giận ta sao.
Bùi Đắc Tuyên đáp:
- Thưa, làm tôi không được giận vua.
Vua bảo:
- Tự hậu ngươi không được đem đại thần ra là trò vui cho Thái tử nữa!
Nói xong vừa bưng chén trà nhấp một miếng. Vua hỏi:
- Trà thơm ngon nhưng sao lại ngọt thế.
Tuyên đáp:
- Mỗi lúc thần làm việc khuya buồn ngủ hoặc trong người uể oải, thần thường uống trà đường cho tinh thần tỉnh táo. Nay thấy Hoàng thượng thức khuya nên thần mới dâng trà đường cho Hoàng thượng dùng.

Vua Quang Trung bên bưng chén trà đường uống cạn.
Nói về Hoàng hậu Lê Ngọc Hân, đâm ấy đang ngồi bên ngọn đèn may áo, bỗng dưng cơn buồn ngủ từ đâu ập đến. Không cưỡng được Hoàng hậu gục xuống án mà ngủ. Đang mơ màng Hoàng hậu nghe có người lay mình dậy và gọi:
- Hoàng hậu! Hoàng hậu!
Lê Hoàng hậu giật mình choàng tỉnh, thấy một người con gái mặt đẹp như hoa, xiêm y lộng lẫy đang đứng trước mặt mình. Hoàng hậu hỏi:
- Ngươi là ai đang đem đêm đến đây quấy rầy ta?
Người con gái ấy đáp:
- Ta cũng là công chúa con vua, về sau thành vợ vua, cũng làm Hoàng hậu như nàng. Thương nàng cùng cảnh ngộ nên mới đến thăm.
Ngọc Hân cười nói:
- Từ xưa đến nay ở nước Nam ta công chúa về sau làm Hoàng hậu chỉ có Trần Huyền Trân công chúa đã mất cách đây mấy trăm năm. Chẳng lẽ ngươi lại là Huyền Trân công chúa?
Người con gái ấy đáp:
- Phải! Ta chính là Huyền Trân công chúa đã chết mấy trăm năm nay, tiêu diêu miền cực lạc. Nhân đi ngang qua thấy Hoàng hậu còn thức may áo nên ghé thăm!
Ngọc Hân hoảng hốt toan sụp lạy, Huyền Trân đỡ dậy hỏi:
- Việc may vá đã có bọn a hoàn, sao Hoàng hậu lại thức khuya mà may áo vậy.
Ngọc Hân đáp:
- Hoàng thượng sắp vào Nam đánh Phúc Ánh và mùa gió Bấc. Vì vậy tôi may áo này tặng Hoàng thượng mặc khi trái giờ trở trời.
Trần Huyền Trân vùng cười lớn, cười đến chảy nước mắt rằng:
- Thương thay may áo lạnh cho chồng! Nhưng Hoàng thượng không vào Nam đánh giặc đâu. Hoàng hậu đừng quá lo như thế.
Ngọc Hân giận hỏi:
- Chồng ta là bậc anh hùng trong thiên hạ, mà lời đã nói bốn ngựa khó theo. Huống hồ người đã sai các tướng chỉnh đốn binh mã định ngày đánh Phúc Ánh, sao Huyền Trân công chúa lại bảo chồng ta không vào Nam đánh giặc. Hoá ra chồng ta là thiên tử lại nói đùa ư?
Huyền Trân đáp:
- Theo kế hoạch của Hoàng thượng trước diệt Nguyễn Phúc Ánh, sau lấy lại đất Lưỡng Quảng ngoài thì thao luyện binh sĩ, trong thì nghiêm pháp an dân. Vậy chẳng bao lâu nữa nước Nam ta sẽ hùng cường nhất trong bốn cõi. Nhưng tiếc thay không có điều binh Nam, Bắc tiến.
Ngọc Hân ngạc nhiên hỏi:
- Lời công chúa giống như lời Phu tử. Xin công chúa hãy cho biết vì sao lại như vậy?
Huyền Trân đáp:
- Vận nước chưa hùng, thiên cơ bất lậu. Lát nữa Hoàng hậu sẽ rõ!
Nói xong Huyền Trân nhẹ nhàng bước ra ngoài cửa mất dạng. Ngọc Hân giật mình thức dậy. Thì ra ấy là một giấc mơ! Còn đang bàng hoàng, bỗng a hoàn chạy vào báo:
- Hoàng hậu đi! Nguy rồi!
Ngọc Hân giật mình hỏi:
- Việc gì mà nguy.
A hoàn hổn hển đáp:
- Hoàng thượng làm bạo bệnh thình lình, mê mà bất tỉnh đang năm nơi ngự điện.

Ngọc Hân hoảng hốt vội chạy sang ngự điện. Đến nơi thấy các đại thần quây quần cạnh long sàng, Vừa Quang Trung nằm thiêm thiếp. Ngọc Hân phủ phục bên long sàng vừa khóc vừa hỏi:
- Hoàng thượng đang khoẻ mạnh cớ sao đến nỗi này?
Ngự y buồn rầu đáp:
- Hoàng thượng mắc bệnh huyền vựng nên huyết vận lên đầu nhiều quá đã vỡ mạch máu não. Thần e không có thuốc gì chữa khỏi. Giờ thần chỉ có thể châm cứu các huyệt hồi dương để Hoàng thượng tỉnh lại nói lời trăng trối mà thôi.
Nói xong, ngự y liền dùng kim châm vào các huyệt Nhân trung, Thừa tướng, Bách hội, Túc tam lý, Quang nguyên, Khí hải. Phút sau vua từ từ hé mặt hỏi:
- Bùi Đắc Tuyên đâu?
Tuyên quỳ đáp:
- Có thần!
Vua hạ lệnh:
- Võ sĩ lôi Bùi Đắc Tuyên ra ngoài chém!
Đắc Tuyên đập đầu lậy như tế sao, van xin rằng:
- Hạ thần vô tội sao lại chém?
Vua đáp:
- Ngươi cho ta uống nước gì mà trúng độc thế này.
Bùi Đắc Tuyên run rẩy phân trần:
- Thần chỉ dâng trà đường cho Hoàng thượng uống. Bình trà hãy con, trước mặt bá quan thần xin uống cạn.
Nói xong Tuyên bưng binh trà uống hết một hơi. Đoạn Tuyên quay sang các quan khẩn khoản:
- Xin các quan hay xin tôi giùm cho, kẻo oan cho thần quá.
Vua Quang Trung cố giơ tay lên ra dấu bảo im lặng, xong vua bảo:
- Dù trà không có độc cũng phải chém. Võ sĩ! Lập tức thi hành.
Võ sĩ lôi Bùi Đắc Tuyên ra ngoài. Thái tử Quang Toản và nữ tướng Bùi Thị Xuân vội chạy theo. Quang Toản bảo quân:
- Các ngươi tạm giam quan nói thi lại. Chờ ta vào xin tội với Phụ hoàng.
Võ sĩ nói:
- Thái tử tuổi còn nhỏ nên không rõ đó thôi. Xưa này Hoàng thượng chưa giết ai vô cớ bao giờ. Vua bảo chém thì thần phải chém còn chờ gì nữa.

Bùi Thị Xuân chen vào nói:
- Chú ta bị vua hiểu lầm rằng cho vua uống trà độc. Nếu trả cô độc thật chú ta tất cũng phải chết. Nếu chú ta không chết tất chú ta vô tội, việc gì phải chém. Ngươi cứ giam chú ta lại đó. Nếu vua bắt tội ta chết thay cho ngươi.
Võ sĩ nể Bùi Thị Xuân đành tạm giam Bùi Đắc Tuyên chờ lệnh. Thái tử Toản và Bùi Thị Xuân quay vào điện, vừa lúc ấy nghe vua hỏi:
- Trần Quang Diệu và Đặng Văn Long đau?
Diệu và Long cùng thưa
- Có thần!
Vua mở mắt bảo:
- Sau khi ta chết hai khanh phải giúp Thái tử dời đô về Nghệ An ngay lập tức.
Diệu hỏi:
- Vì sao phải dời đô về Nghệ An?
Vua đáp:
- Nghệ An đất rộng dân đông, hai bên có núi non làm thành trì che chở có chẳng khác gì phủ Quy Nhơn. Nguyễn Phúc Ánh nghe ta chết tất đem thuỷ quân ra đánh, Phú Xuân trống trải e rằng không giữ được. Sau khi ta chết các khanh phải giấu kín việc này, cho gọi Vũ Văn Dũng về đến và chuẩn bị việc dời đô xong mới được phát tang.
Trần Quang Diệu và Đặng Văn Long khóc lấy nhận lệnh.
Vua lại hỏi:
- Nguyễn Văn Tuyết đâu?
Tuyết thưa:
- Có thần!
- Khanh mau cưỡi ngay Xích kỳ theo sứ đoàn gọi Vũ Văn Dũng về ngày. Thật uổng thay vận nước ta không đòi được đất Lưỡng Quảng!

Nguyễn Văn Tuyết khóc lậy rồi ra đứng ngoài cửa không chịu đi, nước mắt tuôn như mưa. Thấy vậy Võ Đình Tú hỏi:
- Vua ra lệnh sao ông còn chưa đi?
Tuyết lấy vạt áo chùi hàm râu ướt đẫm nước mắt:
- Nếu Hoàng thượng băng hà thật tôi hẵng đi cũng chẳng muộn gì.
Bỗng nghe tiếng vừa gọi:
- Võ Đình Tú đâu?
Tú liền chạy vào thưa:
- Có thần!
Vua bảo:
- Ngươi có tại nhảy xa mau chạy đến gọi Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân tới cho ta kẻo không còn kịp nữa!
Ngọc Hân nãy giờ lặng lẽ khóc, nghe vậy thét:
- Thần thiếp đã ở đây! Hoàng thượng cứ chỉ dạy!
Vua nắm tay Ngọc Hân nói:
- "Trời Nam mau gầy cây Sơn giống!". Nàng nhớ làm theo. Phu tử thật là bậc thánh vậy!
Ngọc Hân chỉ gật đầu mà khóc. Vua gọi Quang Toản hỏi:
- Võ sĩ đã chém Bùi Đắc Tuyên chưa?
Toàn đáp:
- Cậu con đã uống hết bình trà dâng Phụ hoàng mà vẫn bình an vô sự. Vậy cậu con vô tội sao lại chém?
Vua Quang Trung lúc ấy đã đuối sức gắng gượng nói:
- Dù vô tội cũng phải chém! Nếu không khi ta mất rồi ắt về sau…
Nói đến đây vua trào nước mắt rồi thổ huyết mà chết.

o o o
Tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung băng hà, vừa tròn bốn mươi tuổi.

Người đời sau có thơ khen vua Quang Trung rằng:

"Lưu truyền thanh sử Nguyễn Quang Trung
Cứu dân giúp nước dựng cờ hồng
Bốn lần vào Nam, truy Phúc Ánh
Ba lần ra Bắc, giết Trịnh Tôn
Rạch Gầm tan tác, quân Tiêm - Nguyễn
Đống Đa sành sạch bóng Lê - Thanh.
Ví thử trời thương dòng Âu Lạc
Ngờ đâu đoản mệnh đấng anh hùng!"


***
(xem tiếp - Quang Trung mất, Gia Long trả thù)

 

No comments:

Post a Comment