Phạm Thành Châu
Theo Việt Báo: "Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hoà, hiện là cư dân Virginia. Nhà văn Phạm Thành Châu đã cộng tác với các báo Van, Thế Kỷ 21. “Nhân vật trong truyện của anh thật tuyệt vời! Họ chung tình quá sức”. Nhà văn, nhà biên khảo Võ Phiến khi đọc truyện của PhamThành Châu đã nhận xét như trên. Sau đây là ba tập truyện ngắn của ông đã xuất bản.
- Bức hoạ khoả thân
- Nhớ Huế
- Lý lẽ của trái tim"
***
[1] Bí Ẩn Của Một Câu Kinh Phật
1. Bí Ẩn Của Một Câu Kinh Phật
Vừa rồi, chúng tôi, những người bạn chí thân từ thời còn đi học ở Việt Nam trước 1975, rủ nhau qua Canada thăm mấy ông bạn khác. Chúng tôi đến thành phố Montreal vào mùa hè nên không lạnh lắm. Ở Mỹ hay Canada, nhà cửa, cách sinh hoạt không khác nhau mấy. Và việc đi thăm bạn bè thì cũng chẳng có gì đáng kể ra đây nếu không có một câu chuyện, mà nếu bạn nghe được, chắc cũng sẽ ngạc nhiên, đặt nhiều câu hỏi.
Chuyện hơi dài dòng, xin bạn kiên nhẫn.
Chúng tôi gồm ba cặp vợ chồng, được gia đình người bạn tiếp đón rất thân tình. Ông ta còn gọi các bạn khác ở gần đó, kéo đến, nên buổi họp mặt thật đông vui.
Khi bữa cơm gia đình đã mãn, các bà lo dọn dẹp chén bát để pha trà và các ông đang chuyện trò sôi nổi, thì ông bạn chủ nhà đổi đề tài "Có một chuyện thực, xảy ra ở Việt Nam, khoảng năm 1982. Một chuyện kỳ lạ mà bà chị tôi vừa là người trong cuộc vừa là nhân chứng. Lúc còn ở Việt Nam, chị tôi dấu kín vì sợ đến tai công an thì sẽ bị tra hỏi, có thể bị tù cũng nên. Nay chị tôi đến xứ tự do, sẽ kể thoải mái. Trong câu chuyện, có gì thắc mắc, xin cứ hỏi chị tôi".
Người chị của chủ nhà, đang ngồi với các bà, được yêu cầu kể chuyện. Chị ta xin phép vài phút để lên lầu, lát sau đi xuống, tay cầm một phong bì đặt trước mặt và bắt đầu kể. Mọi người yên lặng, lắng nghe.
"Gia đình tôi, sau bảy lăm (1975), chỉ còn đàn bà vì đàn ông đều vô tù cải tạo hết cả. Khoảng năm tám mươi (1980), chúng tôi được móc nối để vượt biên nhưng vẫn phải chờ ít nhất một người đàn ông đi tù cải tạo về mới quyết định được. Năm đó, cậu em tôi được thả về, chúng tôi báo cho người tổ chức, họ bảo, có một chuyến, phải đi ngay. Từ Sài Gòn chúng tôi đón xe về Cà Mau dự đám cưới. Ðám cưới thật nhưng ăn cưới chỉ là cái cớ. Dân địa phương thấy người lạ từ Sài Gòn về ăn cưới thì biết ngay, nhưng rình bắt là công việc của công an. Thế nên, ai cũng chờ đợi màn thứ hai là khuya nay, công an sẽ phục ở bãi đáp để tóm gọn quí vị quan khách nầy. Trò nầy xảy ra thường xuyên, nhưng họ không biết rằng vụ vượt biên nầy lại do chính công an địa phương đứng ra tổ chức, nên tối đó quí vị công an với các viên chức xã ấp có nhiệm vụ phải nốc rượu cho thật say, để sáng ra, ai cũng không biết gì cả!
Khuya đó, chúng tôi bị gọi dậy, cấp tốc lên đường. Từ nhà ra biển chỉ vài cây số. Trời quá tối. Chúng tôi âm thầm theo người trước mặt, đi vòng vèo trên các con đường đất. Trong bóng đêm tối đen, thỉnh thoảng, bên đường lại có một toán chui ra nhập bọn, tôi đoán, cả đoàn chúng tôi, ít ra cũng hơn trăm người. Mặc dù đã được dặn trước là khi xuống thuyền phải tuyệt đối yên lặng và trật tự, không được chen lấn cãi cọ, nhưng khi thấy mấy chiếc tắc xi (thuyền nhỏ đưa ra thuyền lớn), người ta ùa nhau lội xuống nước, tranh nhau leo lên thuyền. Cậu em tôi đi trước, tay bồng hai đứa con, vợ nó níu lưng đi sau, tôi níu áo cô ta để khỏi lạc nhau. Chỗ bãi đó toàn sình, ngập đến đầu gối khiến ai nấy bì bọp mãi mà chưa đến thuyền. Cậu em tôi phải kéo hai người đàn bà chúng tôi phía sau nên càng vướng víu, chậm chạp. Mọi người như những bóng ma âm thầm, chen nhau leo lên thuyền. Khi cậu em tôi bỏ được hai đứa nhỏ lên thuyền, đẩy được vợ nó lên, đến lượt tôi thì bỗng có tiếng súng, tiếng la hét "Tất cả đứng yên! Ðưa hai tay lên. Ai bỏ chạy sẽ bị bắn bỏ". Tôi thấy ánh đèn pin loang loáng cách chỗ chúng tôi vài trăm thước. Chủ thuyền vội đẩy thuyền ra. Cậu em tôi chỉ kịp níu lấy be thuyền, người vẫn còn ở dưới nước.
Tôi và khoảng vài chục người đành đứng nhìn mấy chiếc thuyền lẫn vào bóng tối, mờ dần ngoài biển khơi. Lúc đó tiếng súng và tiếng hô hoán "Ðứng yên! Bỏ chạy bắn bỏ" càng như gần hơn khiến mọi người vội chạy ngược về phía bờ. Như đã dặn trước "Khi bị bể, phải chạy tránh xa ánh đèn của công an, trốn cho kỹ, chờ vài hôm, yên tĩnh mới tìm cách ra lộ đón xe về" Vậy là mạnh ai nấy chạy. Tôi bương đại lên bờ, chạy ngược hướng tiếng súng. Vừa chạy vừa run, miệng niệm "Nam Mô Ðại Từ Ðại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Ðại Linh Cảm Quan Thế Ân Bồ Tát". Cứ nhắm mắt, nhắm mũi chạy đại, vấp mô đất hay gốc cây té xuống thì vùng dậy chạy tiếp. Lúc đầu hình như có người cùng chạy với tôi, quay lại
thì không thấy ai cả! Tôi chạy độ nửa tiếng, thấy đã xa, vừa hoàn hồn thì hai chân rã rời, nhấc không lên. Tôi ngồi đại xuống đất, thở dốc. Lúc đó khoảng một giờ sáng. Tôi nhìn quanh. Một bên là biển đen sì, rì rào tiếng sóng, một bên là bờ rừng, với hàng cây là những khối đen, cao hơn đầu người, trông như những con ác thú đang chờ mồi. Tôi đoán, có lẽ công an rình bắt một vụ vượt biên khác, cách chúng tôi vài ba trăm mét, chủ thuyền tưởng bị bể, nên bỏ chạy, vì thế mọi người mới chạy thoát.
Từ lúc lên xe ở Sài Gòn đến khi về Cà Mau, tôi hoàn toàn không biết mình đang ở đâu? Bây giờ ngồi bơ vơ giữa đồng không mông quạnh, chung quanh tối mù, tôi tự hỏi mình sẽ làm gì, hay phải ngồi như thế nầy cho đến sáng? Lúc nãy, chạy, người toát mồ hôi, bây giờ, gió biển thổi vào, tôi lạnh run cầm cập. Tôi thầm ước cho công an đến bắt mình, có người cùng bị bắt với nhau cũng yên tâm, rồi sau đó muốn ra sao thì ra! Cái xách nhỏ trên vai tôi vẫn còn. Tôi tìm chai nước lạnh, uống mấy ngụm. Trong xách chỉ có vài chai nước lạnh, mấy viên thuốc say sóng, mấy hộp sữa đặc, cái khăn nhỏ, một mớ đô la và vàng cùng quyển kinh Phật. Không hiểu sao, trong lúc hoảng loạn mà tôi còn giữ được cái xách?
Ðang ngồi rầu rĩ, bỗng nhiên, tôi thấy từ xa, có ánh đèn thấp thoáng, có lẽ là đèn dầu hôi, loại thường thấy ở thôn quê, cách tôi hơn một cây sốâ. Tôi mừng rỡ, quên cả mệt, đứng lên, nhắm ánh đèn mà đi. Tôi đi như chạy, té lên, té xuống, mà không thấy đau, cứ nhắm ánh đèn bương tới, vì sợ người ta tắt đèn thì không biết làm sao tìm đến. Ðộ nửa giờ sau, tôi đến nơi. Ðó là một nhà lá, cửa mở, một cây đèn bão, (loại đèn để đi trong gió mà không sợ tắt) đặt trên một chiếc ghế nhỏ, để ngay trước cửa, nhờ vậy mà từ hướng bên trái ngôi nhà, tôi vẫn thấy được.
Khi đến trước cửa, tôi kêu lên "Có ai trong nhà không? Cho tôi vào với". Có tiếng đàn ông nói lớn "Vào đi! Ðừng sợ!" Khi bước vô cửa tôi mới nhận ra là có một người đàn ông đang ngồi hút thuốc lào, cạnh một cái bàn để giữa nhà. Người đàn ông đứng lên, ra đem cây đèn bão và chiếc ghế vào. Nghe giọng lơ lớ, với cách dùng chữ, tôi đoán ông ta là người Bắc giả giọng Nam. Tôi bước vào nhà. Nhà không rộng lắm nhưng đặt ba nơi ba chiếc giường rộng, có trải chiếu tươm tất. Ông ta chỉ chiếc ghế "Ngồi đấy đi!" Tôi nói cám ơn, vì áo quần dính sình, không dám ngồi, sợ dơ ghế. Ông ta bảo, giọng
bình thản như việc nầy đã từng xảy ra nhiều lần "Thế thì đi tắm đi! Tôi có sẵn áo quần của bà xã tôi, thay tạm. Áo quần bẩn thì giặt đi, phơi ra ngoài gió, sáng mai khô ngay, thay trả lại cho tôi, rồi tôi sẽ đưa ra bến xe, đón xe về Sài Gòn" Nghe nói sáng mai đón xe về Sài Gòn, tôi mừng quính, không
ngờ mình may mắn gặp được cứu tinh. Tôi thấy có cảm tình với người đàn ông tử tế đó, định nói lời cám ơn, nhưng nhìn thấy hai con mắt của ông ta, tôi rùng mình khiếp sợ.
Ông ta khoảng năm mươi tuổi, dáng người tầm thước, mặt sạm nắng, hai gò má cao, tóc ngắn, chân tay gân guốc...nghĩa là ông ta đúng là một nông dân, chỉ đôi mắt là khủng khiếp. Tuy đèn dầu tù mù nhưng đôi mắt vẫn ánh lên những tia sáng lạnh lẽo, vừa uy quyền, tàn nhẫn vừa như giễu cợt. Tôi sợ quá, cảm tưởng như mình là con chuột đã bị con mèo chộp được trong móng vuốt nhưng vẫn giữ đấy chờ con mồi chết khiếp mới từ từ thưởng thức. Thấy tôi đứng bất động vì sợ, ông ta cười, giọng dịu dàng nhưng vẫn uy quyền, như ra lệnh "Tôi không hại cô đâu. Cô đừng sợ. Tôi nghe tiếng súng nổ là biết ngay vượt biên bị bể nên thắp đèn lên để ai chạy thoát thì đến đây tá túc, sáng mai tôi lấy thuyền đưa ra bến xe về nhà. Tôi đã cứu hàng mấy trăm người rồi. Ai cũng về nhà an toàn. Ðừng sợ. Ðể tôi lấy áo quần cho cô thay tạm. Hôm nay vợ tôi ra chợ thăm đứa con gái, sáng mai, tôi đưa đi, nhân tiện đón vợ tôi về. Ðói bụng thì có cơm nguội trong nồi với con cá khô trong bếp, lấy ra mà ăn" Ông ta nói nhỏ nhẹ, từ tốn nhưng tôi vẫn sợ, răm rắp theo lệnh. Ông ta vào buồng đem ra một bộ đồ đàn bà màu đen, trao cho tôi rồi thắp một cây đèn cầy, chỉ lối đi ra sau chái nhà "Có cái phòng tắm sau kia. Sẵn nước với khăn lau. Tắm xong, mặc tạm, còn bộ đồ bẩn thì giặt đi, phơi lên, sáng mai khô, mặc vào, trả lại bộ đồ cho vợ tôi" Tôi riu ríu cầm áo quần và cây đèn cầy, ra nhà sau, vào phòng tắm, đóng cửa lại, gắn cây đèn sáp lên bệ, xây lưng về phía đèn, cởi đồ ra, dội nước. Tôi làm một cách vô thức, như bị thôi miên bởi cặp mắt của ông ta, tôi đoán, đang nhìn tôi qua khe hở của vách phòng. Tôi tắm qua loa, mặc áo quần vào. Còn nửa thùng nước, tôi đổ ra cái thau nhỏ sẵn đó, vò bộ đồ dính sình rồi treo lên một sợi dây kẽm trong phòng tắm. Khi tôi lên nhà trên thì ông ta chỉ cái giường, có giăng sẵn mùng "Cô ngủ trên giường nầy. Tôi ngủ trong phòng. Ngủ đi cho khỏe, đừng sợ mà thao thức. Mai đi sớm" Tôi nói "Dạ. Cám ơn!" rồi chui vô mùng. Ông ta tắt đèn, đi vào buồng.
Tôi nằm trên giường, mắt mở thao láo, không dám ngủ. Có chiếc mền mỏng, tôi lấy quấn chặt quanh người rồi nằm lắng nghe, không biết chuyện gì sẽ xảy ra? Tôi chỉ mong được ông ta tịch thu hết số đô la và vàng tôi mang theo rồi tha cho tôi về nhà. Tôi cứ lẩm nhẩm niệm Quán Thế Âm, cầu Phật Bà cứu khổ cứu nạn. Trong đêm tối, tất cả im lặng, chỉ có tiếng sóng biển rì rầm nghe như tiếng xe chạy rất xa. Bấy giờ tôi mới thấy người rã rời, vừa mỏi vừa đau ê ẩm khắp nơi, nhất là những chỗ bị mô đất hay gốc cây đập mạnh vào khi tôi chạy bị ngã. Suy nghĩ miên man, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng. Vừa xếp mùng, mền xong thì ông ta từ trong buồng bước ra "Ngủ có được không?" "Dạ. Ði mệt quá nên ngủ say một giấc đến sáng" Tôi nói mà không dám nhìn ông ta, sợ thấy đôi mắt kinh khiếp đó "Cô thay đồ rồi chúng ta đi ngay. Tôi chở cô ra bến xe ngoài chợ, họ sẽ đưa cô lên bến xe tỉnh, đón xe về Sài Gòn. Cô viết vào miếng giấy trên bàn kia, tên họ địa chỉ của cô. Tôi cần biết về cô để sau nầy dễ xác nhận" Tôi ra sau nhà, thay đồ, đem bộ đồ của vợ ông ta để trên giường, đến chỗ cái bàn, viết tên họ, địa chỉ vào miếng giấy. Ông ta chỉ cái xách nhỏ của tôi "Ðừng quên cái xách tay" Tôi thấy quyển kinh của tôi để ra ngoài nhưng không dám lấy bỏ vào xách, mà làm như không thấy, chỉ vơ vội cái xách, cầm đi theo ông ta. Ra ngoài sân, tôi mới biết, trước nhà là một con sông rất rộng, có lẽ là cửa sông, còn biển thì nằm bên trái căn nhà, cách một cây số. Nhà ông ta nằm giữa một vùng hoàn toàn hoang vắng, chung quanh là sình lầy với cây đước, vẹt, sú gì đó mọc mênh mông, chạy đến mút mắt. Tôi không hiểu vì sao vợ chồng ông ta lại đem nhau ra ở chỗ nầy? Không ruộng vườn, không thuyền bè đánh cá, không có người chung quanh, ngay đến con chim cũng không thấy bay qua. Có chăng là mấy con cua còng gì đó nằm trên mặt sình dương mắt nhìn tôi. Con đường từ nhà ra bến sông được đắp cao, có lẽ là lối duy nhất đưa ông ta ra chiếc thuyền, đến với xã hội loài người.
Ông ta xuống thuyền, tôi bước theo. Nhờ mấy miếng bê tông làm thành tam cấp nên tôi xuống thuyền không khó khăn lắm. Chiếc thuyền nhỏ, dài khoảng sáu, bảy mét, rộng hơn hai mét, gắn máy đuôi tôm. Ông ta tháo dây cột thuyền, giật máy, đưa thuyền ra giữa giòng sông.
Chiếc thuyền chạy giữa hai bờ rừng vắng vẻ, hoang vu. Một lúc thật lâu thì xa xa thấp thoáng mấy mái nhà sau hàng dừa nước, rồi vài chiếc thuyền xuất hiện, chạy ngược chiều. Thuyền ghé vào một bến đò, có nhà cửa, quán ăn, một chợ thôn quê nhỏ và một bến xe lam (xe Lambretta, ba bánh dùng chở khách). Ông ta cột chuyền, ra dấu cho tôi cùng lên bờ. Mọi người thấy ông ta thì cúi đầu chào vẻ kính cẩn và sợ hãi. Ông ta không thèm nhìn ai, đi thẳng đến chiếc xe lam, nói gì đấy với người chủ xe. Người chủ xe khúm núm gật đầu, miệng dạ nhịp, rồi đến nói với tôi "Mời cô lên xe. Xe chạy ngay bây giờ". Ông ân nhân không để ý đến lời cám ơn của tôi, cũng không nói với ai tiếng nào, xuống thuyền, giật máy, quay thuyền ra giữa giòng. Khi ngồi trong xe lam, tôi thấy mọi người đang tò mò nhìn tôi với vẻ sợ hãi rồi thì thầm với nhau gì đấy. Ông xe lam nổ máy, chở một mình tôi, vòng vèo trên đường đất trong xóm rồi đưa xe ra đường lớn, chạy vào thành phố. Ông ta chạy thẳng đến bến xe khách, ngừng cạnh một xe đầy khách, mời tôi xuống, đưa tôi đến ông tài xế, thì thầm với ông ta. Ông tài xế mời tôi lên ngồi ghế trước. Tôi lục trong xách nhỏ, thấy gói đô la và vàng còn nguyên, lấy ra một mớ tiền Việt đưa trả cho hai người, nhưng ai cũng khoát tay "Anh Năm dặn rõ là ảnh sẽ trả tiền xe cho cô. chúng tôi đâu dám nhận".
Chiều hôm đó, tôi về đến nhà.
Khoảng một tháng sau, người tổ chức đến gặp tôi, báo tin là mọi người đến đảo an toàn, thân nhân sẽ gửi thư sau. Ông ta hỏi tôi rất tỉ mỉ về vụ những người không kịp lên thuyền, tôi kể lại sự việc. Ông ta bảo những người kẹt lại đã bị công an bắt, chỉ thiếu hai gia đình, gồm bốn người, không có tin tức. Hai gia đình nầy thì tôi biết, họ là thương gia xuất nhập cảng trước bảy lăm, rất giàu. Trước khi đi, họ đã bán nhà, vì tin chắc sẽ đi lọt, như vậy, họ ôm của cải theo (vàng và đô la), phải nhiều lắm.
Chuyến vượt biển lần đó khiến tôi sợ quá, không dám nghĩ đến, ai rủ đi cũng lắc đầu.
Khoảng một năm sau, tôi nhận được một lá thư, tên người gửi lạ hoắc. Tôi hoàn toàn không biết ai đã gửi đến. Chị ta cầm lá thư đưa lên "Mấy năm sau, chồng tôi đi tù về. Chúng tôi qua Mỹ theo diện HO. Vợ chồng tôi qua Canada ở chơi với gia đình cậu em. Gần mười năm mà tôi vẫn còn giữ lá thư nầy. Ðể tôi đọc cho quí vị nghe.
"Gửi bà H. (là tên tôi). Bà còn nhớ, lần vượt biển ở Cà Mau, bị bể và bà được tôi cho trọ qua đêm, hôm sau đưa ra bến xe, về thành phố Hồ Chí Minh. Tôi biết bà thắc mắc. Tôi là ai? Tại sao lại ở nơi vắng vẻ? Tôi sinh sống bằng cách nào? Tôi cho bà rõ. Tôi là công an, có nhiệm vụ ở đó để đón lỏng những người vượt biên bị bể chạy thoát được. Công an chúng tôi làm nhà cách nhau một vài cây số, dọc bờ biển, nơi thường có bến bãi vượt biên, có thuyền con đón ra thuyền lớn. Như vậy, khi công an đến bắt vượt biên, người nào chạy thoát cũng chỉ quanh quẩn đâu đấy, thấy đèn là tìm đến, thế là nộp mạng cho chúng tôi. Tôi bảo rằng có vợ ở chung nhưng thật ra, vợ con tôi đều ở ngoài Bắc, tôi vào đây công tác đã được bốn năm, khi nào ổn định sẽ đưa gia đình vào thành phố Hồ Chí Minh, vì chẳng ai có thể ở nơi hoang vắng nầy.
Mỗi công an chúng tôi đã chuẩn bị sẵn các tiện nghi, nước nôi, lương thực, giường chiếu để đón những người vượt biên tìm đến nhờ cứu giúp. Tôi cho ăn uống, ngủ lại, sáng hôm sau, cho họ xuống thuyền, nói là chở ra bến xe để họ về nhà, nhưng kỳ thực, thuyền đi được nửa đường là bị công an chận bắt. Tôi cũng bị bắt để không ai nghi ngờ. Thông thường, nếu nhiều người tìm đến thì tôi bảo họ, có gì đem theo nên kê rõ, nhất là tiền bạc, quí kim, để tránh chuyện lấy cắp của nhau. Nếu chỉ một người thì tôi chờ lúc người đó đi tắm sẽ lục xách tay, kiểm tra những gì đem theo. Tôi còn rình nhìn lúc họ đi tắm, cởi đồ ra, sẽ thấy những gì họ lận theo người?
Tôi không bao giờ lấy của ai bất cứ gì, nên khi giải giao họ (đưa lên thuyền để bị công an chận bắt),ï công an chấp pháp lấy lời khai, sẽ thấy rằng tôi rất trong sạch. Tôi từng được công an tỉnh và trung ương biểu dương nhiều lần về thành tích chận bắt người vượt biên cũng như tinh thần chí công vô tư, không tơ hào đến của cải, vật chất của người bị bắt. Nhưng không ai biết rằng, hễ người nào đem nhiều đô la, vàng ngọc, hột xoàn là tôi thủ tiêu, chôn xác trong rừng. Tôi đào sẵn những cái hố, muốn giết ai, khuya đó, tôi lận súng trong người, bảo họ đi theo tôi để tôi chỉ đường mà đi ra đường chính đón xe về. Vào rừng, tôi bắn chết, đạp xuống hố, hôm sau ra lấp đất lại. Không người nào thoát khỏi tay tôi, vì chung quanh toàn sình lầy, có bỏ chạy một quãng là ngập người dưới sình, tôi chỉ rọi đèn pin, đi tìm và bắn họ rất dễ dàng.
Tôi có nói bao nhiêu người bị tôi thủ tiêu với bà cũng chỉ làm bà kinh hoàng chứ chẳng ích lợi gì. Tất cả của cải cướp được, tôi đưa cho vợ tôi đem về quê chôn giấu. Hột xoàn, đô la, vàng ngọc, châu báu... Nghĩa là vợ chồng tôi rất giàu. Vợ tôi bảo, có thể bỏ vốn lập những công ty, mua máy móc để sản xuất hàng hóa xuất khẩu hoặc mua nhà cửa ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh cũng không hết của. Dĩ nhiên gia đình tôi ngoài Bắc vẫn sống đạm bạc như bao nhiêu người khác, để tránh bị nghi ngờ. Tôi dự định sẽ làm thêm vài năm, kiếm một số tiền vàng nữa rồi xin ra khỏi ngành.
Tính ra, tôi ở đó đã được bốn năm, cho đến cái đêm bà tìm đến nạp mạng cho tôi.
Như mọi khi, lúc bà đi tắm, tôi rình xem bà cởi đồ (để biết của cải lận theo người) rồi lên kiểm tra xách tay của bà. Tôi thấy trong xách có nhiều vàng và đô la. Như vậy, số phận của bà đã được tôi quyết định. Bà sẽ bị tôi thủ tiêu. Trong lúc lục xét xách tay tôi thấy có một quyển kinh, khổ lớn hơn những quyển kinh khác, mà những người vượt biên khác thường đem theo. Quyển kinh lớn đó khiến tôi tò mò.Theo thông lệ, tất cả kinh Phật của những người vượt biên, tôi giữ lại, khi nào lên tỉnh, tôi tặng cho người bạn đang trụ trì một ngôi chùa lớn, gần chợ. Anh ta là công an, đi tu là công tác, vẫn lãnh lương công an. Tôi tặng các quyển kinh Phật cho chùa để ai đến lễ chùa mà "thỉnh" những kinh đó thì biết ngay, người đó sẽ vượt biên và chúng tôi theo dõi. Vì tò mò và vì nghiệp vụ, tôi mở quyển kinh của bà ra, để sát ngọn đèn cho dễ đọc. Tôi đọc một cách tình cờ, một câu kinh nằm ngay giữa trang kinh. Chỉ một câu thôi. Câu duy nhất đó khiến tôi lạnh toát người vì kinh sợ. Tôi sợ đến choáng váng, muốn té xỉu, đến độ ngồi chết lặng một lúc thật lâu. Tối đó, tôi không ngủ được...
Hiện nay tôi đã ra khỏi ngành công an. Tôi đã đi tu ở một vùng núi miền Tây Nguyên, rất hẻo lánh, xa hẳn phố phường, làng xóm. Ngôi chùa nhỏ được cất bên góc núi. Rất xa, dưới chân núi, cách nơi tôi ở, thấp thoáng những nhà sàn của những người thuộc sắc tộc thiểu số. Mỗi buổi sáng, tôi lạy Phật, tụng kinh, rồi lên đồi cuốc đất, trồng khoai sắn, rau quả. Buổi tối tôi lại tụng kinh và suy ngẫm lời Phật dạy. Tôi bảo với vợ tôi là tôi làm nhiệm vụ trên giao, không nên gặp nhau nhiều, thỉnh thoảng lên tiếp tế lương thực mà thôi. Của cải mà tôi kiếm được (vợ tôi đang giữ), tôi dặn, nên trích ra một phần, khi nào có thiên tai bão lụt thì đem cứu giúp người hoạn nạn, giúp bà con, bạn bè khi họ cần, giúp các người già lão, bịnh tật, không nơi nương tựa, giúp các trại mồ côi, các trại cùi hủi...
Tôi viết để bà rõ, nay tôi đã chọn con đường khác. Tôi chỉ muốn biến mất trên thế gian, nhưng còn các con tôi? Chúng là nguồn sống của tôi. Tôi lo sợ cho chúng... Nếu bà là một Phật tử, xin bà đến chùa, cùng góp lời cầu xin Phật Tổ cho tôi sớm tìm được con đường giải thoát.
Chúc bà sức khỏe."
Chị đàn bà giơ lá thư lên và nói "Thư chỉ viết thế thôi". Chúng tôi hỏi "Chị có nhớ mình mang theo quyển kinh Phật tên gì không?" "Ðúng ra, lúc nào tôi cũng để sẵn quyển kinh "Quán Thế Âm Bồ Tát" trên bàn thờ, hễ hô "đi!" là tôi chỉ việc bỏ vô xách tay và lên đường. Hôm đó, cô em dâu tôi đây, lại lấy quyển kinh đó trước, tôi vội quá, mở tủ kinh Phật của ba tôi để gần đó, vơ đại một quyển, nghĩ rằng "Phật nào cũng là Phật, vị nào cũng phù hộ, độ trì cho chúng sinh tai qua nạn khỏi". Ba tôi, khi còn sinh thời, tu tại gia, nghiên cứu kinh Phật. Ngoài chữ Việt, ông cụ còn biết chữ Hán, chữ Nôm nên thỉnh rất nhiều kinh về nghiên cứu. Thế nên, đến bây giờ tôi cũng không biết mình đã mang theo quyển kinh nào khi vượt biên. Ðiều tôi tin chắc rằng. Chính quyển kinh đó đã cứu mạng tôi và câu kinh trong đó, như một lời phán của Ðức Phật hoặc đấng Hộ Pháp, bảo thẳng với kẻ ác hãy ngừng tay lại. Lời phán đó phải có uy lực mạnh mẽ đến nỗi một kẻ giết người phải khiếp đảm".
Trong bọn chúng tôi, chẳng ai là đệ tử nhà Phật mặc dầu, thỉnh thoảng có đi chùa lạy Phật, tụng kinh trong những ngày lễ, tết. Chúng tôi hỏi nhau rồi phán đoán đủ thứ,. Câu "buông đao thành Phật" quá tầm thường, chẳng làm ai động tâm. Muốn biết bí mật của câu kinh đó, chỉ còn cách đi hỏi các nhà sư thì họa may.
Vì bị câu chuyện trên ám ảnh, nên trên đường từ Canada về lại miền Ðông Bắc nước Mỹ, chúng tôi quyết định, ghé vào một ngôi chùa của sư PT để thăm và hỏi cho ra lẽ. Sư trạc tuổi chúng tôi, là chỗ quen biết nên rất thân tình. Sư PT xuất gia từ lúc mười một tuổi tại chùa Diệu Ðế ở Huế. Vượt biên
qua Mỹ, sư học và tốt nghiệp tiến sĩ Phật học. Tuy còn trẻ, nhưng sư PT thông hiểu Phật pháp và có một cuộc sống rất đạo hạnh.
Trưa hôm đó, chúng tôi được sư khoản đãi cơm chay. Trong lúc thọ trai, chúng tôi kể lại câu chuyện trên cho sư nghe và hỏi sư có biết câu kinh nào đã khiến một người vô thần phải buông đao giết người và đi tu không? Nhà sư suy nghĩ một lúc và nói "Nếu lý luận theo Phật pháp thuần túy ở đây thì không thích hợp với một người cộng sản. Họ đã được dạy căm thù và được huấn luyện cách giết người, nên dù có cả một bầy quỉ dữ từ địa ngục chui lên, hay hàng nghìn Ðức Phật hiện ra thuyết pháp, chưa chắc ông công an nầy phải sợ mà ngưng tay. Ông ta chẳng thù hận gì những người vượt biên, nhưng giết họ để cướp của, ông ta làm thản nhiên như người đồ tể giết heo, giết bò. Mục đích là để có nhiều tiền của cho con cái được sung sướng. Cán bộ cộng sản thường bảo nhau "Hi sinh đời bố, cũng cố đời con" là thế. Kinh Phật chỉ nói về cái nghiệp và cái quả. Ai làm nấy chịu. Nhưng người Việt mình lại có câu "Ðời cha ăn mặn, đời con khát nước". Cha mẹ thương con cháu thì ăn ở nhân đức, để phước cho chúng. Con cháu, nhớ ơn đó mà thờ phụng các vị một cách thành tâm. Ðó là "Ðạo Thờ Ông Bà". Ông công an cộng sản nầy thì làm ngược lại, nên ông ta bị ám ảnh bởi việc ác của mình, "quả báo nhãn tiền", con cháu sẽ lãnh đủ. Có thể, con cái ông ta bị đâm chém hay bị giết chóc sao đó, khiến ông ta nghĩ rằng "Mình giết người ta thì con mình bị người ta giết" nên ông ta sợ". "Nhưng Phật đâu có dạy về chuyện quả báo cho đời con cháu mà ông ta, khi đọc một câu nào đó trong kinh Phật lại sợ hãi đến nỗi phải bỏ nghề, đi tu?" "Ða số những người vượt biên đều đem theo người là kinh A Di Ðà hoặc Bạch Y Thần Chú, coi như có Thần Phật hộ trì bên cạnh. Khi gặp chuyện hiểm nguy thì niệm "Nam Mô Ðại Từ Ðại Bi Quảng Ðại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát" chỉ đọc tới đọc lui câu đó thôi, coi như tiếng kêu cứu, các vị Bồ Tát sẽ ra tay tế độ, giúp cho tai qua nạn khỏi.
Những quyển kinh mà ông ta tịch thu, không nhất thiết đều giống nhau. Có thể người đàn bà kia đã mang một quyển kinh khác. Hơn nữa ở một nơi hoàn toàn vắng vẻ, không có gì giải trí ngoài việc đọc các quyển kinh Phật, quả thật, ông ta đang bước về hướng của giải thoát. Chính cái ý niệm muốn giải thoát khiến ông ta bỏ nghề, và câu kinh Phật kia chỉ như vật xúc tác, như cái nút điện mà ông ta đang mò mẩm trong bóng tối, đã bật sáng, cho ông ta thấy được con đường phải đi. Mỗi người là Phật chưa thành là vậy. Con người dù độc ác, mê muội đến đâu, cũng còn le lói một chút ánh sáng của lương tri. Ðúng ra, phải gọi ông ta là "ông đạo" chứ không phải là "ông sư". Vì ngoài việc nghiên cứu, tụng niệm kinh Phật, sư, sãi phải có thầy giảng giải, hướng dẫn trên đường tu tập" "Giả dụ như ông công an đó đến xin thọ giáo với thầy. Thầy sẽ giảng những gì cho một người vô thần như ông ta hiểu về Phật pháp?" Nhà sư cười "Thoát được "tham, sân, si" là tự giải thoát rồi. Chính tôi phải học ông ta, làm cách nào đã bỏ được chữ "tham"? Chữ "tham" đơn giản, thường tình thôi, không cần phải triết lý xa vời. Tiền của vô tay dồi dào, dễ dàng như vậy mà lại bỏ hết, mấy ai làm được? Còn hai chữ "sân, si", bản thân tôi như đang nằm trong cái rọ, không biết bao giờ mới thoát ra! Ông ta là thầy tôi mới đúng". "Thầy có thể đoán được câu kinh nào nằm trong quyển kinh nào, đã khiến ông ta phải sợ mà đi tu không?" Nhà sư lắc đầu "Chỉ riêng ông ta biết được mà thôi. Có thể chỉ một câu tình cờ, bình thường nào đó ông ta đọc được nhưng giải thích đúng những băn khoăn, thắc mắc, sợ hãi bấy lâu của ông ta, nó đánh động lương tâm ông ta, hướng dẫn ông ta tìm con đường giải thoát. Xưa kia, lục tổ Huệ năng chỉ nghe một câu trong kinh Kim Cang liền ngộ được đạo"
"Nhưng nhất định phải có một câu kinh nào đó. Thầy thử nhớ xem sao?" Nhà sư lắc đầu "Bị hỏi thình lình, tôi không nhớ ra ngay. Hay là thế nầy. Bây giờ mời quí vị ra vườn sau chùa uống trà, ngắm hoa. Tôi xin được ít phút tập trung tư tưởng, họa may sẽ nhớ được điều gì chăng? Mục đích không phải tìm hiểu mà chỉ như trò chuyện cho vui vậy thôi. Tôi không đủ trình độ để giải thích câu chuyện kỳ lạ nầy". Nhà sư lên chánh điện. Chúng tôi ra sau chùa, vừa chuyện trò vừa lang thang ngắm hoa cảnh.
Có tiếng chuông ngân vang từ chánh điện, rồi tất cả yên lặng. Có lẽ nhà sư đang lễ Phật và trầm tư...
Ðộ một giờ sau, nhà sư xuất hiện ở ngưỡng cửa với nụ cười. Sư tiến đến, ngồi xuống với chúng tôi ở một bàn nhỏ dưới gốc cây. Chúng tôi vội hỏi "Tìm được câu kinh nào chưa thầy?" Sư lắc đầu và cười "Kinh Phật chẳng có câu nào hăm dọa người ta, bắt người ta phải đi tu cả! Ðể nói về cái nghiệp báo thì kinh Thủy Sám Pháp có nói nhiều, nhưng tôi chỉ nhớ chính xác được vài câu ở các quyển kinh khác, chẳng hạn, trong kinh Ðề Bà Ðạt Ma (Devadata-suta) có câu "Những việc ác mà ngươi đã phạm, không phải là tại cha ngươi, không phải tại mẹ ngươi, không phải tại thầy, chủ ngươi. Chính một mình ngươi đã phạm, và một mình ngươi phải chịu quả báo". Trong kinh Pháp Cú (Damma-pada) cũng có câu "Dẫu rằng ngươi chạy lên trời cao, ẩn dưới biển sâu, trốn trong núi thẳm, không có nơi nào mà ngươi tránh khỏi cái quả ghê gớm về tội ác của ngươi"...
Nói xong nhà sư lộ vẻ bối rối "Rất tiếc, vì sự vô minh của tôi mà câu kinh đó vẫn còn là một bí ẩn. Xin lỗi đã làm quí vị thất vọng. Theo tôi nghĩ, sự thống hối của ông ta quá thành khẩn, đã cảm động đến đức Phật, và Ngài đã ra tay tế độ, đã khai ngộ cho ông ta. Nhưng phải là người thật thành khẩn thì đức Phật mới làm được việc đó".
2. Nhất chi mai
"Đình tiền tạc dạ nhất chi mai"
Thiền sư Mãn Giác
Lúc còn dưới tiểu học, bài tập làm văn nào cũng bắt đầu bằng hai chữ nhân dịp, kể chuyện nầy tôi cũng xin "nhân dịp".
Nhân dịp được thất nghiệp, máu giang hồ nổi lên, tôi bèn rủ một người bạn làm một chuyến du lịch vòng quanh nước Mỹ để thăm bạn bè. Bạn tôi có số nhờ vợ. Vợ chồng hắn có một tiệm chạp phô bán gạo, mắm, ớt, tỏi đủ thứ bà rằng. Vợ hắn cưng hắn rất mực, hễ hắn làm gì có vẻ lao động chân tay là bị cự ngay "Không ai mượn làm chuyện đó, tránh ra!" Đúng là hắn tốt nghiệp "ngạch cai trị"! Hắn muốn gì, vợ hắn đều răm rắp tuân lịnh một cách vui vẻ. Còn tôi thuộc loại tứ cố vô thân, chẳng có vợ con, nhà cửa gì nên rất thảnh thơi.
Chúng tôi ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ, dự định đi xuống miền Nam, vòng qua Cali, rồi lên phía Tây Bắc.
Lúc đó vào cuối năm âm lịch, khoảng tháng hai dương lịch mà tuyết và gió lạnh vẫn chưa bớt, nhưng càng về phương Nam, trời ấm dần. Trạm đầu tiên cũng là trạm chính mà tôi cố ý ghé là nhà Hùng ở tiểu bang Georgia. Vợ chồng Hùng đã chờ sẵn ở phi trường đón chúng tôi về nhà. Hôm đó đúng vào ngày ba mươi Tết, trời đã về chiều, gió hơi lạnh lại lất phất mưa, giống hệt những ngày giáp Tết ở miền Trung Việt Nam. Nhà Hùng không lớn lắm nhưng có vườn cây cảnh rất đẹp, đứng trên lầu nhìn ra giòng sông phía xa, bên kia là những đồi cây xanh, lờ mờ trong sương như một bức tranh Tàu. Hai đứa tôi được giành cho hai căn phòng nhỏ trên lầu. Tắm rửa xong thì đã sẵn một bàn đồ nhậu ở sân thượng mà Hùng gọi là tiệc đón Giao Thừa. Vợ Hùng làm đồ nhậu rất tuyệt. Nhớ lại sau ngày sập tiệm bảy lăm ở Sài Gòn, mấy tay hành chánh chạy được về cũng khá đông, thường được Hùng mời về nhà nhậu mấy bữa trước khi đun đầu vô rọ cải tạo. Hùng làm ở Bộ Kinh Tế nên thời gian đầu vẫn được "lưu dung", sau khi mấy cậu việt cộng quen việc rồi thì được đuổi về, dù sao cũng thoát được nạn đi tù.
Vợ Hùng, người Bắc, rất khéo chế biến món ăn. Cô ta vẫn như trước kia, thỉnh thoảng dưới bếp chạy lên canh chừng, xem thiếu món gì thì tiếp tế. Cô có một đức tính rất quí là chẳng bao giờ bỏ vào tai những gì chúng tôi nói với nhau. Bây giờ lớn cả rồi, chuyện lăng nhăng không còn thú vị nữa. Chúng tôi thích nói chuyện mĩa mai, thâm thúy hơn. Sau hơn hai mươi năm chúng tôi mới gặp nhau, ôn lại bao kỷ niệm, từ những ngày sống trong ký túc xá ở đường Trần Quốc Toản cho đến khi ra trường mỗi đứa một nơi. Chúng tôi chỉ kể lại những chuyện vui, chuyện oái ăm thôi. Thực ra, ở tù rồi ra tù, đâu cũng vậy, chẳng có gì đáng buồn. Ngay cả việc tôi bị vợ bỏ cũng chẳng làm tôi quan tâm, tuy nhiên bạn bè thường rất ngại, không muốn nhắc đến chuyện đó, tưởng như thế là lấy cây mà chọt vào vết thương lòng của tôi khiến tôi đau đớn lắm. Ai cũng coi tôi như kẻ ngã ngựa, bỏ vợ thì được chứ vợ bỏ đúng là mất mặt nam nhi. Ngày tôi qua xứ Mỹ, có được số điện thoại, tôi gọi cho Hùng, vợ Hùng mừng lắm cứ giành điện thoại hỏi tôi đủ điều, nhưng khi nghe tôi bảo "Bị vợ bỏ rồi" là không hỏi nữa. Đàn bà rất tò mò chuyện nầy, vợ Hùng coi bộ ấm ức muốn biết vì sao tôi bị vợ bỏ" Bây giờ vợ tôi ở đâu, có chồng khác là ai"
Tôi biết tâm lý đó nên khi rượu đã ngà ngà, tôi bảo.
- Tôi biết bà Hùng muốn nghe chuyện tôi bị vợ bỏ ra sao. Bây giờ tôi kể, coi như món quà tôi tặng bà, để bà khỏi thắc mắc hoài tội nghiệp.
Cô ta làm bộ miễn cưỡng.
- Cái ông nầy! Ai lại đi nghe chuyện đời tư của người ta.
- Bộ bà không muốn nghe sao" Thì thôi, tôi kể nho nhỏ cho phe đàn ông nghe.
- Ông nầy... Cứ coi như chuyện đùa. Nhưng ông kể chứ không ai ép đâu nhé!
- Nhưng bà đã lo cho mấy đứa nhỏ ăn chưa, hay bắt chúng nhịn miệng đãi khách"
- Có cô chúng lo rồi. Đáng lẽ cho cô ấy và các cháu lên chào hai bác, nhưng vì hai bác còn mệt nên để ngày mai.
- Được rồi ngồi xuống đấy, tôi kể, nhưng hơi dài dòng một chút. Tôi quen vợ tôi trong một tiệc cưới của một người bà con ở Đa Lạt. Lúc đó tôi học năm thứ hai Đốc Sự Hành Chánh. Tiệc cưới nào cũng giống nhau, nhưng mình là người ở Sài Gòn náo nhiệt, lên Đa Lạt tự nhiên thấy khác liền, cảnh đẹp mà buổi tối thật yên tĩnh. Tôi được xếp ngồi cạnh một cô gái coi cũng đẹp, nhưng điều làm tôi chú ý là vẻ điềm đạm, chín chắn của cô. Cô thường yên lặng như chìm đắm vào một ý nghĩ nào đó. Tôi gợi chuyện thì được biết cô đang học luật ở Sài Gòn. Chúng tôi trao đổi nhau địa chỉ trước khi ra về, nhưng ngay lúc đó trời đổ mưa. Tôi hỏi cô ta về bằng gì, cô bảo có người nhà đem xe đến đón. Từ nhà hàng ra cổng phải qua một vườn hoa, tôi hỏi cô xe hiệu gì, màu gì để tôi ra xem chừng, hễ xe đến tôi sẽ báo, cô khỏi phải ra vào ướt át. Cô bảo nhà có ba chiếc xe nhỏ nên không biết xe nào sẽ đến đón. Thời đó, ai sắm được một chiếc xe du lịch đã là sang trọng rồi, đằng nầy gia đình cô có đến ba chiếc ắt phải giàu và đông người lắm.
Hôm sau tôi đến thăm cô. Đó là một ngôi biệt thự rất xinh, trên đồi thông trông ra hồ Xuân Hương thật nên thơ. Cô sống một mình, phía sau là gia đình người quản gia và nhà để xe. Cô bảo còn gia đình người chị nữa nhưng đã đi Đức nghỉ hè rồi vì người chị có chồng dân Đức. Sau đó về Sài Gòn cô hay đến ký túc xá trường Hành Chánh thăm tôi. Chúng tôi thường đưa nhau đi ăn quà rong, xem ciné giống như những cặp tình nhân khác. Tính cô ít nói, ít khi biểu lộ tình cảm. Vậy mà chúng tôi cưới nhau không phải do tôi ngõ ý mà là cô ta.
Tôi nhớ năm đó, sau hôm thi tốt nghiệp xong tôi và cô đi xem phim ở rạp Rex. Phim dở quá, chúng tôi nói chuyện rì rầm với nhau. Đột nhiên cô hỏi "Ra trường rồi anh có định lấy vợ không"" "Về các tỉnh buồn lắm, có lẽ phải kiếm một cô vợ" "Anh có định cưới em không"" "Không! Bồ bịch nhau thì được" "Sao vậy"" "Vì gia đình em giàu quá, người ta bảo anh đào mỏ, vả lại em dư sức lấy kỹ sư, bác sĩ, chọn anh làm gì" "Em không hiểu ý anh muốn nói gì!" "Em sung sướng quen rồi, nếu theo anh về tỉnh lẻ, có khi về các quận thôn quê, em chịu sao thấu" "Anh đừng lo chuyện đó. Hay là anh chê em, hay là anh đang yêu ai"" "Anh không chê em, anh cũng yêu em nữa, nhưng yêu ít hơn một người khác" Cô tò mò một cách bình tĩnh "Em có thể biết được người đó là ai không và chuyện hai người đi tới đâu rồi, có định cưới nhau không"" "Đúng ra là chuyện một người chứ không phải hai người. Anh yêu cô ta hơn hai năm rồi, trước khi gặp em nữa kia, nhưng cô ta không đáp lại vì cô đang có người yêu. Thực ra anh được gặp và nói chuyện có một lần thôi, còn những lần khác chỉ ngồi trong quán bên đường nhìn cô ta . Anh tưởng quen với em sẽ quên được cô ta vì em đẹp hơn, nhưng rồi chẳng có gì thay đổi trong tình yêu của anh" "Anh yêu thì cứ yêu nhưng đừng hy vọng gì, đừng phá đám người ta. Ngoài ra còn có người nào anh có cảm tình nhất"" "Sau đó là em" "Không chê em, cũng có yêu em nữa, anh lại thấy cần một người vợ, vậy anh chọn ai"".
Tôi ngạc nhiên trước lối lý luận thẳng thắn và thực tế của cô. Lúc bấy giờ tôi không có một chút ý niệm gì về gia đình cả vì giấc mơ của tôi về một ngày được sống với người con gái tôi yêu đơn phương kia chỉ là không tưởng.
Thế là chúng tôi cưới nhau. Hôm ra trường, chọn nhiệm sở ở Bộ Nội Vụ, vợ tôi dặn, cố chọn cho được tỉnh Lâm Đồng. Chuyện đó quá dễ vì tôi đậu cao, nhiều ưu tiên hơn các bạn, nhưng tôi thắc mắc thì vợ tôi kể rằng. Chị cô có chồâng dân Đức, họ đang thầu vận chuyển tất cả những gì của quân đội Đồng Minh từ các hải cảng miền Trung lên Cao Nguyên, làm chủ hàng mấy chục chiếc xe tải. Họ còn có cả một hệ thống đại lý phân bón và thuốc sát trùng cho toàn miền Trung. Nay thấy cô em lập gia đình, cô chị nhường cho em các đại lý từ Dầu Dây, Long Khánh lên đến Di Linh, Đức Trọng "Nhưng anh không quen hoạnh họe hay năn nỉ ai cả!" "Anh khỏi làm gì, chỉ cần các cán bộ xã, ấp biết anh là chồng em là đủ, còn mọi việc để em" Tôi nghe có lý nên làm theo như lời vợ tôi dặn. Tôi làm trưởng ty Hành Chánh tỉnh Lâm Đồng. Những dịp tỉnh họp quận, xã tôi vui vẻ chào hỏi mọi người, có khi mời họ uống cà phê, ăn điểm tâm nhưng tuyệt nhiên không đả động gì đến chuyện làm ăn của vợ tôi. Chúng tôi dọn lên Đa Lạt, mỗi tuần tôi về nhà một lần. Vợ tôi sinh được một thằng con rất kháu khỉnh. Công việc kinh doanh của vợ tôi cũng chẳng có gì vất vả, thỉnh thoảng cô đi một vòng các đại lý để thăm viếng, tìm hiểu còn mọi việc có nhân viên lo cả.
Chúng tôi sống với nhau được ba năm thì xảy ra vụ sập tiệm năm bảy lăm. Trước vụ di tản chiến thuật từ Cao Nguyên về, tôi được thư của vợ tôi từ Sài Gòn nhắn tôi về gấp, tòa đại sứ Đức sẽ đưa cả gia đình lên máy bay, tên tôi đã có trong danh sách chuyến bay rồi. Sau đó tôi lại được liên tiếp hai lá thư cầm tay nữa. Tôi viết trả lời vì bận việc, nếu không về kịp gia đình cứ đi trước, đừng lo cho tôi. Thực ra Đa Lạt, Lâm Đồng đâu có bị tấn công, công việc các ty, sở tòa Hành Chánh lúc đó cũng chẳng ai cần nữa, nhưng tôi không rời nhiệm sở. Sau nầy tôi mới biết, không phải chỉ riêng tôi, biết bao đơn vị hành chánh, cảnh sát, quân đội...cấp chỉ huy đã chạy đâu mất tiêu mà người chiến sĩ vẫn không rời vị trí chiến đấu cho đến khi gục chết vẫn không hề ân hận điều gì. Họ cảm thấy đất nước lâm nguy, bi đát đến độ chỉ biết đem thân ra chống đỡ một cách tuyệt vọng, quên cả bản thân, cha mẹ, vợ con. Khi tôi về thì tất cả đã đi rồi. Tôi đi tù, và bây giờ ngồi đây. Chuyện chỉ có thế.
Vợ Hùng có vẻ bất mãn.
- Nhưng ông phải tìm cho ra vợ con chứ. Ông không thương vợ con ông à"
- Thương chứ, nhưng tìm vợ con để làm gì. Mỗi người đã có một số phận. Cứ để cho vợ tôi coi như tôi đã chết rồi. Hơn hai mươi năm không có tin tức chồng, dù thương yêu bao nhiêu, cô ta cũng không thể làm hòn vọng phu được. Còn thằng con, có thể mẹ nó bảo rằng tôi đãõ chết hoặc người cha sau nầy là cha ruột của nó. Ở bên Đức chắc chắn họ sung sướng, thế là tôi yên tâm. Làm xáo trộn sự yên tĩnh của họ chẳng có lợi cho ai cả.
Mọi người yên lặng như đang tưởng niệm đến bao mối tình, bao gia đình tan nát vì chiến tranh. Và trong không khí yên bình của một đêm cuối năm ở xứ người, bỗng xôn sao trong tâm tưởng hình ảnh đất nước thân yêu năm nào trong những ngày khói lửa tang thương...
Vợ Hùng chợt lên tiếng.
- Theo ông kể thì chẳng biết vợ ông có thương yêu ông không nữa"
- Lúc đầu tôi cũng phân vân như thế. Nhưng càng về sau, sống với nhau, tôi mới hiểu tấm lòng của vợ tôi. Người con gái dù có yêu ai bao nhiêu cũng không bao giờ tỏ tình trước, vậy mà cô ta dám gợi ý cho tôi cưới cô, nhưng khi biết được tim tôi đã gởi cho người khác, tuy tranh đấu được tôi trong vòng tay, nhưng cô không bao giờ biểu lộ tình cảm nữa. Cô đã dâng tôi cả trái tim, tâm hồn và cả cuộc đời nữa, nhưng chỉ nhận được ở tôi cái bản năng, cái lương tri của một người chồng có học, đứng đắn thế thôi. Tôi thấy mình ở tù là đáng đời, chăúng phải vì việt cộng trả thù mà chính Trời phạt tôi đã phụ một tấm chân tình. Tôi không xứng đáng với tình yêu của cô ta. Hạnh phúc trong tay không chịu hưởng lại chỉ tơ tưởng đến một bóng hình xa xôi, vô vọng. Tôi vừa đau đớn vừa cầu mong cô yêu được người chồng sau nầy.
- Nhưng theo ông kể, ông chỉ gặp cô gái kia chỉ một lần mà lại yêu say mê, dai dẳng như thế, chuyện cũng khó tin.
- Chính tôi cũng không hiểu mình nữa. Có lẽ Trương Chi giải thích được vì sao anh ta chỉ gặp Mỵ Nương có một lần mà thất tình đến độ quả tim hóa đá luôn.
- Ông thử kể cô ta hương trời sắc nước ra sao và gặp trong trường hợp nào"
- Chuyện chẳng có gì ly kỳ nhưng hơi rắc rối. Tôi nhớ lễ Giáng Sinh năm đó, tôi cùng vài người bạn đi nhà thờ Đức Bà xem người ta đi lễ. Tất cả các lối đến nhà thờ đều cấm xe cộ nên ngang chợ Bến Thành chúng tôi gửi xe đi bộ, chen lấn với mọi nguời tìm ngắm người đẹp. Một lúc sau tôi bị lạc mất bạn. Đang nhướng cổ tìm kiếm, bỗng tôi thấy một cô gái cũng đang ngơ ngác nhìn quanh, có lẽ cô cũng lạc bạn như tôi. Trong mắt tôi, cô nổi bật như đóa hoa rực rỡ giữa đám cỏ dại. Chẳng phải cô đẹp nhưng có những nét đặc biệt mà tôi tưởng như quen biết, thân yêu từ lâu lắm. Da cô ngăm ngăm, hai mắt đen nhánh dưới đôi lông mày rậm, khi tôi đến gần, cô nhìn tôi với tia nhìn sáng rực như quật mạnh vào nơi sâu kín nhất tâm hồn khiến tôi ngất ngây. Tôi rung động cả thần trí lẫn thể xác, như chết chìm trong một hạnh phúc tái ngộ đâu từ kiếp trước. Giây phút bất chợt đó, tôi biết tôi đã yêu. Trang phục cô màu đen, tóc ngang vai, cô cài trên tóc một đóa hoa vàng, không rõ hoa giấy hay hoa nhựa, hai tai cô cũng có hai đóa hoa vàng nhỏ. Hình ảnh đầu tiên đó đến bây giờ vẫn còn nguyên trong trí tôi. Khi tôi đến gần cô thì giòng người như đặc cứng. Cô bị xô đẩy và muốn thoát ra khỏi đám đông một cách tuyệt vọng. Tôi đến phía sau cô đẩy những cậu thanh niên vừa la cười vừa giả vờ ngã vào người cô. Chúng tưởng tôi là người thân của cô nên lảng ra. Hai tay tôi giăng ra như một cái khung và cô ở giữa được an toàn. Chúng tôi trôi theo giòng người. Cô biết tôi bảo vệ cho cô nhưng không nói gì. Thỉnh thoảng cô khựng lại, ngã vào ngực tôi. Đầu cô vừa tầm mũi tôi, tôi nhận được mùi thơm con gái ngọt ngào từ mái tóc, từ người cô toát ra. Giòng người càng chen lấn, cô càng như nằm trọn trong vòng tay tôi, nhưng tuyệt nhiên tôi không có một ý nghĩ vẫn đục nào. Cô thân yêu, qúi giá và cao sang đến độ tôi tưởng mình là tên nô lệ được hân hạnh bảo vệ cho một nữ hoàng. Buổi tối hỗn độn như thế mà tôi thấy thế gian vắng lặng chỉ còn mình tôi với cô ta mà thôi. Mùi thơm đó, làn da mềm mại của lưng cô, ngực cô, cánh tay cô cứ vương vấn mãi trong tôi thành một ước ao mãnh liệt đến bơ vơ vì tuyệt vọng.
Khi chúng tôi thoát ra khỏi đám đông, cô quay lại nhìn tôi mỉm cười. Đời tôi chưa bao giờ thấy một nụ cười đẹp và làm tôi sung sướng đến như thế, và đó là lần duy nhất tôi được ân sủng tuyệt vời cô ban cho. Rồi cô bước nhanh hơn như muốn rời tôi. Tôi vẫn đi theo, cô quay lại nói "Cám ơn" Tôi cố đi song song với cô và hỏi "Cô đi nhà thờ phải không"" Cô gật đầu, tôi nói "Cho tôi đi theo với" "Để làm gì"" "Để cầu nguyện với Chúa" "Cầu nguyện gì"" "Cầu nguyện cho chúng mình yêu nhau" Cô quay nhìn tôi, lắc đầu "Không được đâu! Tôi có người yêu rồi" Tôi kêu lên "Thôi chết! Tôi làm sao sống nổi đây!" Cô làm thinh đi nhanh hơn nữa. Biết cô chán tôi vì câu tán tỉnh rẻ tiền đó nên tôi đi chậm lại, nhìn theo cô đang khuất dần vào đám đông.
Thế là tôi thành kẻ thất tình. Chiều nào tôi cũng ra đường Lê Lợi, quãng từ chợ Bến Thành đến đường Tự Do, đi lang thang lên xuống để hy vọng mong manh gặp lại cô. Trước kia tôi cũng có thói quen lang thang như thế, ghé nhà sách Khai Trí tìm một quyển sách, vô quán cà phê ngồi nhìn thiên hạ qua lại, bây giờ tôi được thêm cái thú chờ mong. Đôi khi tôi đến cả nhà thờ Đức Bà, đứng dưới tượng Đức Mẹ lầm thầm cầu nguyện "Lạy Mẹ cho con gặp lại nàng, chỉ một lần nữa thôi, con nhớ nàng lắm!". Tôi không phải con chiên công giáo, nhưng hình như Đức Mẹ nghe thấy và thế là tôi được gặp cô ta lần thứ hai. Hôm đó tôi ra chợ Bến Thành coi thiên hạ sắm Tết. Từ xa, chỉ thấy dáng người tôi biết ngay là cô ta rồi. Cô đi với bạn trai, cô mặc áo màu xanh nhưng vẫn đeo đôi hoa vàng. Lần nầy tôi quyết theo cô đến nhà. Cũng may, chỗ gửi xe của tôi và cô gần nhau nên tôi theo cô về đến quận Tư. Hóa ra là nhà người bạn học mà tôi có đến vài lần nhưng tôi chỉ đứng ngoài chờ hắn vào lấy gì đó trước khi đi chơi với nhau. Lẽ ra với người khác đó là dịp bằng vàng để được làm quen với cô ta, nhưng vì biết cô đã có người yêu lại thêm mặc cảm cô chẳng thèm để mắt đến tôi nên tôi không dám đến nhà người bạn ấy nữa, sợ cô ta gặp tôi, nhớ ra, rồi kể lại chuyện tán tỉnh lăng nhăng của tôi, chỉ thêm xấu hổ chứ chẳng được gì. Nhưng tôi không thể quên được cô nên mỗi chiều tôi vào một quán cà phê trước nhà cô chờ ngắm cô đi học về, khi thì với người yêu, khi thì một mình. Trong đời dù trai hay gái, ai cũng trải qua vài mối tình bất ngờ, đơn phương như thế nhưng rồi cũng sẽ quên đi vì đó chỉ là tiếng kêu vô vọng. Duy với mối tình nầy tôi không bao giờ quên. Sau nầy ra trường đi làm việc nơi xa nhưng có dịp về Sài Gòn tôi lại ghé quán cà phê ngồi nhìn qua nhà cô. Có lẽ cô đã theo chồng nhưng tôi vẫn tưởng tượng rằng cô vẫn còn ở trong đó, vẫn đi lại, nói năng, sinh hoạt bình thường. Đó là cách để tôi đỡ nhớ cô, để mơ tưởng được nhìn thấy cô. Ngay cả khi đi tù về, tôi hành nghề đạp xích lô, mỗi khi ngang trước nhà cô là tôi gác xe ngồi nhìn vơ vẩn, làm như đang chờ khách. Dù tôi biết nhà đã đổi chủ từ lâu nhưng khi đến nơi thân yêu mơ hồ ấy tôi cảm thấy cuộc đời lẻ loi của mình như có một chút an ủi, một chút vui.
Nếu nói rằng mỗi người một định mệnh thì đúng là tôi sinh ra chỉ yêu có mình cô ta thôi.
Mọi người vẫn yên lặng. Vợ Hùng phê bình một câu.
- Tưởng ông kể chuyện tình lâm ly, gay cấn lắm, không ngờ chẳng có gì cả. Thế ông có biết bây giờ cô ta ở đâu, ra sao không"
- Câu đó tôi định hỏi vợ chồng bà.
- Cái ông nầy! Vợ chồng tôi có dính dáng gì đến người ông yêu đâu"
- Sao không" Đó là cô Mai, em gái ông Hùng chứ ai.
Vợ Hùng trợn mắt lên vì ngạc nhiên. Hùng gật gù bảo.
- Tớ nhớ ra rồi, lúc ở trường Hành Chánh, tớ có nghe hình như có cậu nào yêu em tớ, tớ không để ý, hóa ra là cậu.
- Tôi vượt cả nghìn cây số xuống đây chỉ cốt hỏi một câu là bây giờ cô Mai ra sao" Chiến tranh, ly loạn... Tôi chỉ sợ cô gặp chuyện không may.
- Chồng cô là thiếu tá nhảy dù, tự tử chết trong trại Hoàng Hoa Thám ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm. Hai đứa con tốt nghiệp đại học, đã lập gia đình, hiện cô sống một mình.
Vợ Hùng bảo tôi "Chờ đấy!", rồi vội vả xuống lầu. Một lúc sau, cô đi lên và nói lớn.
- Cô ấy đang ở bên Việt Nam, ông có dám về tỏ tình một lần nữa không"
- Tôi ước được gặp cô ta một lần nữa, cho đỡ nhớ. Lúc đó có lẽ tôi sẽ liều mạng bảo với cô rằng "Tôi yêu cô" Thế là tôi mãn nguyện rồi. Còn chuyện cô đáp lại, coi bộ khó vì lúc trai trẻ còn bị làm ngơ, bây giờ thì hi vọng gì.
- Nhưng cô ta cũng lớn tuổi rồi, sợ ông không nhận ra nữa đấy.
- Làm sao tôi quên được đôi mắt và miệng cười. Chỉ cần thấy dáng người sau lưng, tôi tin mình sẽ nhận ra cô ngay.
Đã hai mươi năm chúng tôi mới có dịp nhậu nhẹt, cười nói thoải mái với nhau. Tôi không biết uống rượu, chỉ một lon bia là đã mơ màng rồi, nhưng tối đó tôi uống hơn chục lon, quả là một kỷ lục. Có điều sau đó tôi phải chạy vào phòng vệ sinh ói thốc tháo ra. Tôi chỉ kịp giật nước, rửa mặt qua loa là mắt tối sầm lại, đứng không vững, các bạn vội dìu tôi lên giường. Người tôi toát mồ hôi, nằm bẹp, nhưng một lát sau cũng cảm thấy một bàn tay dịu dàng dùng khăn nóng lau mặt tôi rồi đắp mền cho tôi.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, người vẫn còn ngầy ngật, đầu nhức nhối khó chịu. Tôi nghe tiếng vợ Hùng dặn dò ai đó ở dưới nhà.
- Khi ông ấy dậy nhớ chỉ viên thuốc trên bàn rồi pha cho ông ấy một ly cà phê, hỏi có ăn cháo không thì nấu. Tụi nầy đi chợ độ một giờ sau sẽ về. Tôi giao ông ấy cho cô trách nhiệm đấy nhé!
Có tiếng đối đáp nho nhỏ rồi tiếng cười rộ lên, tiếng chân xa dần ra phía sân nhà.
Tôi dậy đánh răng, rửa mặt xong lần xuống bếp. Nhà vắng hoe, trên bàn ăn có ly nước lạnh và viên thuốc. Tôi ngồi xuống uống thuốc rồi dùng tay xoa xoa mặt, miết mấy ngón tay lên lông mày cho bớt nhức đầu. Bỗng tôi nghe tiếng nói.
- Anh uống cà phê nhé!
Tôi ngẩn lên thấy một người đàn bà quay lưng về phía tôi đang vặn bếp ga, tiếng lửa cháy phì phì nho nhỏ.
- Dạ, chị cho xin một ly.
- Anh ăn cháo nhé!
- Dạ không, cám ơn chị.
- Gớm, lúc tối các ông nhậu nhẹt... Sao mà lắm thế"
Tôi lừ nhừ trả lời.
- Bạn bè lâu ngày mới gặp nhau.
Người đàn bà mặc đồ đen, nhìn sau lưng dáng thon thả, tóc hơi ngắn, đôi vai nhỏ. Tôi chợt rúng động tâm thần, người run lên.
- Cô Mai!
Cô quay nhìn tôi, môi mím lại như đang dọa nạt một em bé, nhưng đôi mắt cô sáng lên một nụ cười triều mến, long lanh niềm vui. Hai tai cô vẫn y nguyên hai đóa hoa vàng, giống như hoa mai, loại hoa chỉ nở vào dịp Tết ở quê nhà. Cô nói chậm rãi.
- Từ nay em cấm anh không được uống rượu nhiều nữa.
Sau nầy cô ta kể với tôi rằng cô đã khóc khi rình nghe tất cả.
3. Tìm Con
Qua khỏi Cầu Sơn, Thị Nghè (Hàng Xanh), gã để chiếc xe đạp từ từ trôi xuống dốc, rồi quẹo vào xóm trên con đường gập ghềnh những mô đất và những vũng nước dơ bẩn. Gã lắc chiếc chuông đồng nhỏ treo tòn teng dưới ghi đông xe để báo hiệu cho mọi người biết, ra mua kẹo kéo, mua vé số hoặc dò số. Ðôi khi, theo thói quen, đang đạp xe trên đường vắng, gã cũng thò ngón tay út xuống cái chuông, khều cho nó kêu leng keng, chẳng vì mục đích nào cả.
Gã chuyên bán kẹo kéo và vé số. Phía sau xe là một thùng có cục kẹo lớn, khi bán kẹo, gã kéo ra một khúc nhỏ, bẻ gãy và trao cho khách. Cục kẹo lớn đó, gã bán cả ngày cũng chưa hết. Phía trước xe gã treo một mớ đồ chơi trẻ con bằng nhựa. Những con thú, chiếc kèn, cây súng... đủ màu sắc. Khi có người mua, gã mở hộp kẹo ra. Phần nắp có một cái khung để một trái banh nhỏ. Ai mua kẹo cũng được bắn một phát súng hơi, nhắm vào trái banh, nếu bắn rớt trái banh thì ngoài khúc kẹo còn trúng thưởng một món đồ chơi. Trẻ con và cả người lớn đều thích trò chơi nầy. Ít người bắn trúng vì viên đạn là một nút điên điển nhẹ, khi rời nòng súng là đi chệch hướng ngay. Gã còn bán vé số, số đề nữa. Mỗi ngày có đến năm bảy tỉnh mở số, kết quả được gã chép vào một miếng giấy nhỏ, treo trước xe cho người ta tiện dò số. Khoảng bốn, năm giờ chiều, sau khi các đài phát thanh công bố các lô trúng, gã đến huyện đề nhận tiền trúng giao cho người may mắn.
Người gã cao lớn, râu ria mọc chơm chởm trên khuông mặt lầm lì. Khi nói, cả hàm râu quanh miệng gã chuyển động giống mấy con sâu róm khổng lồ cựa quậy. Hai vai rộng, chân tay dài lòng khòng, người hơi gập về phía trước. Ðôi mắt vừa u uẩn vừa vô hồn, như không thấy gì ngay cả khi đối đáp với ai. Chỉ với bọn trẻ nít, gã mới trở nên linh động, vui vẻ. Gã rất tử tế với chúng, có khi tặng kẹo cho những đứa không có tiền. Buổi sáng và giờ tan trường, gã bán kẹo trước cổng các trường học. Gã thường móc trong túi áo ra hình chụp một đứa bé khoảng năm, sáu tuổi và hỏi bọn trẻ “Các em có thấy đứa nào giống như thằng nhỏ nầy không?” Bọn trẻ tò mò nhìn hình đứa bé và lắc đầu. Có đứa hỏi “Nó là con của chú hả?” Gã gật đầu “Con chú nhưng bị thất lạc mấy năm nay rồi. Bây giờ chắc nó lớn lắm, cỡ các cháu. Mấy cháu đây, có cháu nào là con nuôi của gia đình nào không?” Bọn trẻ nhìn nhau lắc đầu.
Buổi chiều gã hành nghề trong mấy xóm lao động, có khi vào các chợ, rồi đưa tấm hình thằng nhỏ ra hỏi hết người nầy đến người kia “Có thấy thằng nhỏ nầy không? Nó là con tôi, bị thất lạc...Tôi tìm nó.” Lúc đầu ai cũng ái ngại, lắc đầu và an ủi gã “Không thấy! Khi nào gặp nó, tôi sẽ báo cho chú.” Không rõ gã quên hay vẫn hi vọng, chỉ vài hôm sau, gã lại hỏi câu đó ngay với người hôm trước. Riết rồi, thấy gã từ xa, người ta đã nói thay gã “Có thấy thằng nhỏ nầy không? Nó là con tôi...”
Gã đi tù cải tạo, mười năm sau mới về. Mấy năm đầu trong tù, không được thư trả lời của vợ, gã biết vợ gã đã bỏ gã. Gã không bận tâm, nhưng thằng con của gã, “Không biết bây giờ ra sao?” Gã viết thư cho người hàng xóm, hỏi thăm tình hình gia đình mình, người ta trả lời rằng, vợ gã đã bán nhà đi đâu không rõ. Người ta không muốn nói sự thật. Khi ra tù, về Sài Gòn, gã ở nhờ nhà một người bạn tù, hành nghề bán kẹo kéo, đi khắp nơi trong thành phố, la cà vào cả những nơi đĩ điếm, xì ke, ma túy, cướp giật, kinh tế mới... tìm con. Gã cũng có vào xóm nhà cũ, hỏi thăm.
- Có phải nhà nầy, trước đây có thằng nhỏ tên Mạnh không? Biết bây giờ nó ở đâu không? Có người nhờ tôi tìm nó giùm. Người ta không nhận ra gã nên vô tình trả lời.
- Ôi, thứ đàn bà thối thây. Nó rước thằng ăn cướp về, đuổi thằng nhỏ đi. Sau bán nhà đi mất tiêu, không thấy lai vãng. Cha nó chắc ở tù đã về rồi, nhưng không thấy về đây.
Trước kia gã cao to, đẹp đẽ, bây giờ tiều tụy, thêm râu ria khiến gã thành lạ hoắc. Có lẽ con gã cũng vậy, mười năm rồi, thằng bé đã lớn, chắc gì nhận ra nhau, nhưng gã tin chắc là sẽ tìm được nó. Gã tìm vài cậu trẻ, hỏi tuổi, để nhớ dáng dấp những đứa cùng tuổi con gã, đứa cao lớn nhất và đứa gầy còm nhất. Khi thấy đứa nào khoảng đó, gã đi sau lưng và gọi lớn “Mạnh!” Nếu cậu ta quay lại, tim gã như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, người run lập cập, thở không ra hơi “Có phải cháu tên Mạnh không?”, rồi gã hỏi tiếp những câu hỏi về cha mẹ, nơi ở của cậu ta. Khi biết không phải gã rối rít xin lỗi. Một ý nghĩ khiến gã bủn rủn tay chân “Con ta đã chết rồi?” Thế là gã lang thang vào các nghĩa địa, đi tìm tên Mạnh ở các mộ bia. Gã cầu mong vợ gã còn chút lương tâm, cho con gã một tấm bia có khắc tên nó.
Thời bấy giờ, khoảng giữa thập niên 1980, trong các nghĩa địa, người sống thường ở chung với người chết. Họ từ vùng kinh tế mới bỏ về thành phố. Vài miếng tôn cũ gối trên tấm bia ở các mộ xây xi măng, che quanh bằng những miếng cạt tông, những miếng ni lông... là thành một nơi trú ngụ tạm ổn vì người chết không phàn nàn hay đuổi người sống đi. Thế rồi ở nghĩa trang Ông Tạ, gã tìm thấy một ngôi mộ đất, có một tấm bia, đúng hơn, một miếng gỗ, cắm trước mộ, chỉ ghi một chữ Mạnh bằng dầu hắc. Gã đi hỏi những người sống quanh đó, và được trả lời.
- Ở đây đã có lệnh dời mộ nên họ chôn lén. Nghe nói đó là thằng nhỏ bụi đời, bịnh hoạn gì không biết, nằm chết trước chùa, người ta khiêng ra, tìm mộ nào đã được đào lên, dời đi, họ bỏ đại xuống, lấp đất rồi bỏ đi. Nghe mấy người chôn nó nói nó tên Mạnh nên ông làm đường lấy dầu hắc viết tên nó vào miếng ván, cắm ở đó, hi vọng thân nhân sẽ tìm ra mà lo dời đi. Cả năm rồi mà chẳng ai hỏi han, săn sóc gì đến.
- Tôi có thằng con bị thất lạc. Nó cũng tên Mạnh. Chắc là nó rồi.
Gã đi mượn một cái cuốc về làm cỏ, đắp đất thêm cho ngôi mộ. Rồi gã đi mua đồ cúng. Một gói thịt quay, mấy ổ bánh mì, một bó hoa, nhang đèn, một xị rượu và mấy cái li, chén nhỏ. Gã dùng cái chén, đổ đất vào, làm chỗ cắm nhang, hai chiếc li lật úp thành chân đèn, cắm hai cây đèn sáp lên. Gã đặt tất cả trước mộ, thắp nhang đèn, quì xuống lầm thầm khấn.
- Ba đang cúng lạy con đây. Con có biết không? Con thương yêu của ba!
Khấn đến đấy, gã nghẹn lời, cố tự kìm chế nhưng nước mắt vẫn ứa ra. Gã cứ quì như thế, trông giống một tượng đá. Những gia đình kinh tế mới sống rải rác trên các ngôi mộ gần đó chẳng quan tâm. Họ đã chai đá với đói khổ, bịnh hoạn, tử biệt sanh li. Gia đình đi kinh tế mới nào mà không có người chết vì bịnh, vì đói khổ. Chính họ cũng muốn chết quách cho rảnh nợ đời. Ðến gần tối, gã rót rượu ra hai chiếc li. - Con uống với ba cho vui. Không sao đâu! Ba cho phép con uống mừng ngày ba và con gặp nhau. Con say với ba một bữa. Con kể cho ba nghe. Con sống như thế nào khi con chỉ mới sáu bảy tuổi mà không có ba bên cạnh? Tuổi đó con phải được ba đặt trên vai, công kênh đưa đi chơi. Ði ăn quà rong, đi mua đồ chơi, chứ đâu phải để lăn vào đời. Con làm sao để sống? Sống đói, sống khổ, bị người ta đánh đuổi như con chó hoang cho đến khi con kiệt sức và gục ngã...
Gã ngồi lầm bầm một mình, rồi rót rượu uống tiếp. Cho đến khi say khước, gã lấy cái áo đi mưa sau yên xe đạp mặc vào rồi nằm lăn ra ngủ. Người ta phải đem chiếc xe đạp vào “nhà”, giữ giùm cho gã. Từ đó, mỗi chiều gã thường ra mộ với một ít thức ăn và rượu. Gã trải tờ báo ra, để đồ ăn lên, thắp nhang và gọi vong linh thằng con cùng nhậu nhẹt với gã.
Nhưng một buổi chiều, đi bán kẹo về, gã thấy có mấy người lạ hoắc đứng chung quanh mộ con gã bàn tán. Gã băng tới.
- Mấy ông bà biết người nằm dưới nầy sao?
- Vâng. Nó là con tôi. Tôi la nó có mấy câu mà nó bỏ nhà lên Sài Gòn, làm thằng bụi đời. Bây giờ đang tính chuyện bốc mộ nó về quê, nhưng mộ mới quá, không tiện. Cũng không biết khi nào nghĩa trang nầy mới bị cào bằng đây? Vài năm nữa thì hay quá!
- Nó tên gì?
- Tên Mạnh.
- Tôi lại tưởng con tôi. Tôi cũng có thằng con tên Mạnh đi bụi đời, tìm cả năm nay mà không thấy đâu! Nhưng sao anh biết chắc nó là con anh?
- Thì nhà chùa còn giữ đôi dép của nó. Tôi nhận ra ngay. Người ta tả lại áo quần nó mặc khi nó chết, đúng là nó rồi.
Gã chỉ kịp nói hai tiếng cám ơn rồi đạp xe đi thẳng. Vậy là con gã chưa chết, gã còn hi vọng. Gã bắt đầu lại chương trình tìm con như trước đây. Một hôm gã tâm sự chuyện tìm con với một ông già sửa giày ở đầu hẽm Cô Bắc trên đường Võ Di Nguy.
- Tôi lạc thằng con, không biết cách nào tìm nó. Tôi đi nát cả Sài Gòn nầy, cả năm trời mà vẫn không gặp.
- Vì sao ông lạc mất con? Mấy năm nay rồi?
- Tôi đi tù lúc nó mới sáu tuổi. Mười năm sau, đi tù về, tìm không ra! Nghe nói nó bị đuổi ra khỏi nhà lúc nó sáu bảy tuổi.
- Mười năm thì nó đã mười mấy tuổi rồi. Có gặp nó, cha con cũng không nhận ra nhau đâu.
- Ông có cách nào chỉ tôi tìm gặp nó không?
Ông già cười.
- Ông vừa đi vừa kêu tên nó, như mấy bà mẹ lạc con trong chợ vậy.
- Tôi hỏi từng đứa nhỏ mà vẫn không thấy!
- Nó tên gì?
- Lê Mạnh.
- Thường ở nhà gọi nó là gì?
- Cu Tí.
- Nó đi bụi đời lúc sáu, bảy tuổi, làm sao nó biết tên nó là Mạnh? Ông có gặp nó, nói tên Mạnh, nó cũng không biết đâu. Ông phải tìm thằng Tí hoặc Cu Tí.
Gã vỡ lẽ, gãi đầu cười.
- Tôi ngu quá! Ông không nói, biết khi nào tôi mới tìm ra nó. Cám ơn ông nhiều lắm.
Chào ông.
- Khoan đã! Ði đâu mà vội. Ngồi đó tôi chỉ cách cho. Nhà ông ở vùng nào?
- Vùng nầy. Ða kao, Tân Ðịnh...
- Nếu còn sống, chắc chắn thằng nhỏ làm gì cũng lai vãng vùng nầy. Có thể nó tấp vô với xóm kinh tế mới đường Hai Bà Trưng. Ban ngày đi kiếm sống, ban đêm về đó ngủ. Tôi chỉ ông cách nầy. Ông kiếm một miếng bìa nhỏ, ghi lên đó mấy chữ “Tí, ba đi tù cải tạo đã về. Ngày...tháng...lúc 7 giờ sáng con đến đây gặp ba.” Ông để ngày lơi ra một chút, khoảng tháng sau, thì nó mới biết được. Ông đưa cái bảng đó cho tôi, mỗi buổi đi làm, tôi treo nó ở đây. Nếu còn sống, làm gì nó cũng tìm đến.
- Tôi sợ nó không biết chữ, làm sao đọc cái bảng đó.
- Trong xóm kinh tế mới ai cũng biết chữ cả. Họ sẽ bảo nó. Mà dù nó có ở ngoài Sài Gòn hay trong Chợ Lớn, người khác cũng sẽ cho nó biết. Ông yên tâm đi. Nó ra đời sớm, gì nó cũng cần phải biết để xoay xở, đối phó mà sống còn. Ông có học, con ông nó không ngu khờ đâu. Biết đâu chỉ mấy hôm là nó đến hỏi tôi về cha nó cũng nên.
Ðến ngày hẹn, gã đến hẽm Cô Bắc rất sớm, nhưng dựng xe đạp phía đối diện, ngồi nhìn qua bên kia đường. Lúc đó khoảng hơn năm giờ sáng, đường phố còn vắng, chỉ mấy hàng cà phê vỉa hè đã bày bàn ghế ra cho khách đi làm sớm tấp vô, uống li cà phê, hút điếu thuốc rồi vội vã lên xe. Gã thấy trên hiên nhà đầu hẽm có mấy người nằm ngủ. Dân kinh tế mới đụng đâu ngủ đó nên gã không quan tâm, chỉ chờ đến giờ hẹn, hi vọng con gã sẽ đến.
Trời sáng dần, có một cậu đi xe gắn máy, dừng lại nhìn giáo giác một lúc rồi bỏ đi. Tướng nó cao lớn, mặt vuông, lầm lì. Gã hi vọng thằng nhỏ đó là con gã. Nó đi xe gắn máy ắt không đến nỗi khổ. Nếu gã biết đúng đó là con mình, có thể gã sẽ không nhận nó là con, nếu nó muốn, để cuộc sống yên bình của nó không bị phiền nhiễu. Gần đến bảy giờ, thằng nhỏ lại đến, dừng xe. Gã định nhỏm lên, đến gặp nó thì nó nhìn đồng hồ rồi lại bỏ đi. Mấy người ngủ vỉa hè kia cũng lồm cồm ngồi dậy. Hóa ra đó là những cậu trẻ khoảng mười lăm, mười sáu, có cả đứa độ hai mươi tuổi. Ðứa nào cũng dơ dáy, ốm nhom, đen thùi, mặt mũi vừa láu cá vừa gian xảo. Có đứa còn ngủ, bị đứa khác kêu dậy. Rồi thì cả bọn bảy tám đứa ngồi một dãy trên thềm nhà người ta, chúng bắt đầu trò chuyện, cười nói và dòm chừng hai bên đường. Gã vẫn ngồi yên bên nầy đường, chờ thằng bé đi xe gắn máy.
Ông già sửa giày từ trong hẽm đi ra với chiếc xe đạp chở lỉnh kỉnh đồ nghề. Bọn trẻ ùa đến. Chúng vây quanh ông già hỏi gì đấy. Ông già giơ hai tay lên trời và lắc đầu...
Ðột nhiên gã hiểu hết mọi chuyện. Những đứa trẻ đó đều tên Tí, đều có cha đi tù cải tạo và mẹ chúng đã để chúng đi bụi đời. Ða số những bé trai Việt Nam đều được cha mẹ gọi là Tí, Cu Tí khi còn bé, dù tên chúng trong giấy khai sinh khác nhau.
Gã đứng dậy, băng qua đường và kêu lên.
- Ba đây Tí ơi! Ðứa nào cũng là con ba cả. Ba đây nè, các con về với ba...
4. Duyên Tiền Định
Ai có cho rằng tôi mê tín dị đoan nhảm nhí mặc kệ, tôi vẫn tin rằng có
duyên “tiền.. định” mới nên vợ chồng. Chồng tôi người Việt nhưng quốc
tịch Mỹ, lấy tên là Charle Lee, thường gọi là (Đít) Dick. Dick tốt
nghiệp đại học Mỹ. Trong khi chờ ngày đi làm, bố chồng tôi có ý định đưa
con trai về Việt Nam kiếm vợ. Anh ta học giỏi, đẹp trai, mặt mũi sáng
láng nhưng khờ đặc trong việc giao tiếp với bạn bè. Ngay thời còn ở
trung học, nhiều cô bạn cùng trường đến làm quen, anh ta cứ thụt lùi
mãi, khiến các cô phát nản.
Trước
năm 1975, bố anh ta là hạ sĩ quan an ninh phi trường Tân Sơn Nhất, ông
có người bạn đồng ngũ rất thân. Sau khi mất nước, bố anh ta về quê, xoay
xở đưa cả gia đình vượt biên, còn người bạn thì về nhà, kế nghiệp cha
mẹ, làm chủ một tiệm hủ tiếu ở đường Hai Bà Trưng, trước chợ Tân Định.
Người bạn nầy gốc Tàu, tính cần kiệm và kín đáo nên không bị đánh tư sản
(bị tịch thu gia sản, đuổi đi kinh tế mới).
Ở
Mỹ, bố anh chàng Dick thường thư từ cho người bạn bán hủ tiếu ở Tân
Định. Khi biết ông ta có ý định về Việt Nam kiếm vợ cho con thì người
bạn đồng ngũ nầy ngỏ ý muốn giới thiệu con gái của mình với anh Dick.
Hai ông bạn trao đổi hình ảnh con của mình cho hai đứa nhỏ nghiên cứu,
tìm hiểu nhau. Thấy hình cô gái cũng đẹp, chưng diện coi bộ còn thời
trang hơn cả các cô gái Việt ở Mỹ nên Dick thích lắm, nhưng đỏ mặt,
không có ý kiến. Thế là ông gọi cho người bạn, hẹn năm nay về ăn Tết, sẽ
cho tiến hành lễ hỏi và lễ cưới cho hai đứa.
Hôm
gia đình anh ta xuống phi trường Tân Sơn Nhất, cả nhà cô gái long trọng
đón về. Vừa là bạn chí cốt, lại sắp thành thông gia nên hai gia đình
rất vui vẻ, thân mật. Cô gái đẹp hơn cả trong hình, nên chàng Dick thích
mê, nhưng mắc cỡ. Hễ đối diện với cô ta thì mặt đỏ lên, miệng ấp úng,
nói không nên lời. Hơn nữa, vì không rành tiếng Việt nên anh ta cứ ngập
ngọng, nhưng nhờ cô gái đang học đại học, ban Anh văn nên cả hai không
đến nỗi khó khăn khi chuyện trò. Cô ta rủ anh chàng đi chơi Sài Gòn, đi
mua sắm, đôi khi còn chở Dick sau xe gắn máy, vi vút ra ngoại ô hóng
gió, ăn uống ở các nhà hàng đồng quê. Được ngồi sau, ôm eo người đẹp,
anh ta thích quá, nhất là khi được người đẹp ngồi bên cạnh tựa ngực vào
người, giọng thủ thỉ, nũng nịu khiến anh chàng chết mê, chết mệt. Thế
nên, trong một buổi cơm tối, cô cậu được hỏi ý kiến, có bằng lòng nhau
không? Chàng ta trả lời “Dạ chịu!” Còn cô gái chỉ liếc anh ta và tủm tỉm
cười. Thế là đám hỏi diễn ra ngay hôm sau.
Thời
đại hỏa tiễn, gì cũng tốc hành cho nhanh gọn. Buổi sáng, nhà trai đi
sắm nhẫn đính hôn, nhẫn cưới, trang phục cô dâu, chú rể và các vật dụng
cần thiết, ý là đám hỏi xong thì tiến hành đám cưới ngay. Buổi chiều hai
họ kéo nhau ra nhà hàng nhậu nhẹt tưng bừng. Trong buổi tiệc gọi là
tiệc đám hỏi đó, hai ông bạn nghéo tay nhau hẹn tuần sau nhà trai (từ
dưới tỉnh) sẽ lên đón cô dâu về quê làm đám cưới cho xôm tụ. Nhà gái, dĩ
nhiên phải o bế cho cô dâu thêm phần xinh đẹp để bà con dưới tỉnh rõ
mặt gái Sài Gòn.
Dick
về dưới quê nhưng đã bị cô gái hớp hồn rồi nên người cứ sững chừng,
suốt ngày lơ ngơ, không nghe, không thấy gì chung quanh, rồi than buồn.
Cha mẹ anh ta biết ngay là thằng con đã bị cô gái bắt mất vía nên gợi ý
cho anh ta lên Sài Gòn, ở lại nhà cô vợ tương lai trước khi làm đám
cưới. Biết con mình chánh hiệu con nai vàng ngơ ngác, nên ông bà dặn dò
rất kỹ, nào là không được qua đường một mình (sợ xe tung), đi đâu phải
có cô vợ tương lai bên cạnh để khỏi bị bọn bất lương lường gạt, cướp
giật. Ở chơi đúng hai ngày sau thì về để chuẩn bị làm đám cưới.
Chiều
hôm đó, Dick đón xe đò lên Sài Gòn. Về đến bến xe Miền Tây thì đã
khuya, Dick là người lịch sự theo kiểu Âu Mỹ, không muốn làm phiền người
khác nên anh chàng đến khách sạn qua đêm.
Sáng
hôm sau, Dick đón xe đến tiệm hủ tiếu. Anh ta nghe người đẹp nói là
thường đi học lúc tám giờ sáng, nên dự định đứng ngoài chờ, hễ thấy cô
ta bước ra để đi học thì Dick sẽ bước vào tiệm, mục đích tạo bất ngờ với
người đẹp, chắc chắn cô ta sẽ mừng rỡ, nghỉ buổi học để hai người cùng
đi chơi. Vì thế, khi đến tiệm hủ tiếu, anh ta không vào mà đứng bên kia
đường, chờ. Đúng tám giờ, thấy người đẹp đi ra, đứng trước cửa tiệm ngó
quanh, Dick định băng qua đường nhưng xe cộ nhiều quá, cứ lúng túng,
chưa dám bước xuống lòng đường thì bỗng nhiên có một thanh niên đi xe
gắn máy, dừng lại trước tiệm hủ tiếu, và cô vợ sắp cưới của chàng Dick
phóc lên yên sau, ôm eo ếch chàng thanh niên kia. Chiếc xe vọt đi. Cả
hai chìm vào đám xe cộ, biến mất tiêu. Chàng Dick dại gái chưng hửng.
Anh ta bèn bước lui lại lên lề đường, mặt bắt đầu nóng, tim đập thình
thịch, chân tay bủn rủn, người run lên như bị bịnh sốt rét, ngực nặng
trịch, thở không nổi. Đó là “triệu chứng lâm sàng” của người nổi cơn
ghen. Nhưng vốn đã được giáo dục về phép lịch sự ở xứ Mỹ, lại nhút nhát,
chàng Dick bối rối, không biết làm gì cho hạ hỏa. Giận lây bố mẹ vợ
tương lai nên không vào tiệm hủ tiếu, anh ta cũng bước qua đường, nhưng
tấp vào một hàng quà rong ngay bên hông tiệm. Đây là một con hẻm, được
biến thành những “tiệm ăn chồm hổm” buổi sáng bán bún, mì, cà phê… Mỗi
hàng ăn chiếm một khoảnh đất, đặt vài cái bàn thấp ngang đầu gối, chung
quanh là mấy chiếc ghế nhỏ xíu, không vừa cái bàn tọa. Bình thường từ
sáng sớm, người ta mang thức ăn, đồ uống ra, đến trưa, bán hết thì “dẹp
tiệm”, dọn về. Chàng Dick ngồi đại xuống một hàng cà phê. Chủ là một cô,
tuổi đôi mươi, nhà nghèo, ăn mặc đơn sơ, không trang điểm, nhưng đôi
mắt cô đen láy, long lanh, miệng cô cười thật tươi, phô bày hàm răng
trắng đều, đẹp hết sức!. Nhờ đôi mắt và nụ cười nầy mà hàng cà phê của
cô đông khách. Mấy cậu trai sáng nào cũng ra đây, gọi một ly cà phê,
ngồi ngắm cô cũng đỡ buồn cảnh thất nghiệp của mình. Đôi khi tâm hồn
rung động, vài cậu nói bóng gió để tỏ tình, cô chỉ cười không trả lời.
Cô biết mình đẹp nên có quyền chờ đợi, tối thiểu cũng một anh chàng
trông được con mắt, có công ăn việc làm kha khá, chứ thứ thất nghiệp,
chỉ giỏi tán phét như mấy cậu khách hàng nầy, thì cô coi thường. Hơn
nữa, ngay bên cạnh là hàng bún bò Huế của mẹ cô. Mẹ cô cũng biết giá trị
con gái mình, nên thường xuyên nhắc nhở, kiểm soát cô rất chặt chẽ. Bà
ta chỉ vẽ cho cô cách từ chối sao cho khách hàng biết nhưng vẫn vui vẻ,
tiếp tục đến ăn uống để trồng cây si. Quán bún, cà phê của mẹ con cô
hàng tựa vào vách tường của tiệm hủ tiếu của bố mẹ vợ tương lai chàng
Dick. Sau tiệm có cửa hậu thông ra gần hàng cà phê, thỉnh thoảng nước dơ
trong tiệm hắt ra, mấy con chó xúm lại nhặt nhạnh thức ăn thừa.
Khi
Dick vừa ngồi xuống là cô hàng đã nhanh nhẩu hỏi “Anh uống gì? Ăn bún
nghe!” Chàng Dick bối rối “Cô cho tôi lon cốc (Coca cola)” “Tôi không
bán cóc. Anh ăn bún, uống cà phê nghe!” “Dạ, cô cho tô bún”. Nghe cách
đối đáp, giọng nói ngọng nghịu, cùng lối ăn mặc của Dick, cô hàng biết
ngay là Việt kiều, nên cô để ý xem con cừu non nầy lạc lối đến đây làm
gì? Có lẽ còn quá sớm nên mấy cậu thanh niên thất nghiệp chưa ra, nếu
không, làm gì anh ta cũng bị mấy tay nầy tìm cách chọc ghẹo hoặc ăn hiếp
ngay. Ăn xong tô bún anh ta mở cái túi nhỏ cột trước bụng, móc tiền trả
rồi ngồi ngó mông ra đường. Dick chờ người đẹp trở về, nhưng không biết
giờ nào nên thỉnh thoảng đứng lên, ra nhìn trước cửa tiệm rồi vào ngồi
lại chỗ cũ. Dick dự định, nếu người đẹp về với thằng tình địch thì anh
ta sẽ bước đến, hiên ngang nắm tay người đẹp dẫn vào nhà, coi như là
cách công bố quyền sở hữu đóa hoa biết nói đó.
Có
chí thì nên, khoảng mười hai giờ, quả nhiên cô vợ tương lai của chàng
Dick trở về với thằng tình địch. Vừa thoáng thấy, cơn ghen lại nổi lên
khiến anh chàng đứng chết sững, chưa kịp phản ứng thì cô gái xuống xe,
hôn thằng kia đánh “chụt” một cái mới bước vào nhà, còn thằng kia thì rồ
xe chạy đi. Chàng Dick lại ngớ ra, đành quay về chỗ hàng cà phê, kéo
ghế, gọi một ly cà phê, ngồi suy nghĩ xem mình nên làm gì bây giờ? Lúc
nầy, các hàng quà rong đang chuẩn bị dọn dẹp ra về, nhưng thấy cậu Việt
kiều, cô hàng cũng nấn ná pha cho khách một ly. Thình lình chàng ta nghe
từ cửa sau tiệm hủ tiếu vẳng ra tiếng la lối “Tao bảo mầy có từ thằng
đó ra không? Ít bữa nữa mầy lấy chồng rồi. Thằng chồng mầy nó biết, nó
cạo đầu mầy” “Tía đừng lo tía ơi. Người ta ở bên Mỹ làm sao biết được
chuyện của con. Mà con đâu có làm gì mà tía phải la? Bạn bè chút chút mà
tía”
Tiếng
cãi cọ càng lúc càng cao giọng, càng nhanh khiến chàng Dick chịu thua,
không nghe kịp, nhưng chừng đó cũng đủ cho anh ta mất tinh thần. Bao
nhiêu hứng thú tiêu tan, Dick quyết về dưới tỉnh mét bố mẹ, không thèm
lấy vợ nữa.
Tối
đó, nằm trong khách sạn, Dick không ngủ được. Phần nhớ người đẹp, phần
cảnh tượng lúc trưa khiến cho máu nóng bốc lên đầu nên anh ta lăn qua,
trở lại mãi. Cuối cùng thì tình yêu và ghen tương sống chung hòa bình
trong quyết định của anh ta. Nghĩa là cứ để đấy nhưng theo dõi, tìm
hiểu, nhất là để ngắm lại xem, cô ta có đủ đẹp để mình tha thứ không?
Sáng
hôm sau, Dick lại ra hàng cà phê ngồi, nghĩ cách hỏi cô hàng về cô gái,
con chủ tiệm hủ tiếu. Cô hàng cà phê, thấy thằng con trai trắng nõn,
ngây thơ như em bé, cô thích lắm, mặc dù anh ta là Việt kiều, cô không
hi vọng gì, nhưng yêu là việc của quả tim, xin khỏi bình luận. Tuy nhiên
cô hàng cũng phải giữ kẽ vì sợ mấy thằng con trai, khách hàng, sẽ mỉa
mai vì ghen tức “Thấy Việt kiều như mèo thấy mỡ”. Nhưng anh chàng Việt
kiều nầy hỏi chuyện thì mình trả lời, còn có thể hỏi lại mấy câu để tỏ
tình quen biết. Đại khái Dick nói là về Việt Nam chơi chứ không nói về
cưới vợ. Anh ta bảo rằng thấy con gái chủ tiệm hủ tiếu đẹp nên hỏi thăm
cho biết, và hình như cô ta có bồ thì phải? Cô hàng nói là không biết
chắc đó là bồ bịch hay chỉ là bạn bè, dù cô thấy hai người chở nhau đi
mỗi ngày.
Khi
yêu, người ta dễ tha thứ. Nghe cô hàng nói vậy, dù thấy rõ ràng hai đứa
hôn nhau, Dick cũng không thấy trở ngại trong việc hôn nhân của mình.
Vả lại Dick đã nhiễm văn hóa Âu Mỹ, chẳng xem trinh tiết là quan trọng,
thế nên anh chàng vừa tự an ủi vừa hãnh diện “Cho mầy chở đi, ít bữa
nữa, tao cưới nó, đem về Mỹ thì mầy no way!”. Và Dick lại vui vẻ nói
chuyện với cô hàng cà phê. Anh ta bảo tuần tới sẽ về Mỹ nhận việc. Cô
hàng thất vọng. Tình cảm của cô chỉ mới quen biết chứ chưa đủ thân mật
để cho nhau địa chỉ, sau nầy còn thư từ, tặng ảnh nhau khi hai người
cách xa nhau nửa vòng trái đất. Thật tâm, cô buồn vì không còn được gặp
anh ta nữa chứ cô không hề nghĩ đến chuyện Việt kiều có nhiều tiền, sung
sướng. Giá mà anh ta là một người Việt “nội địa” dù thất nghiệp, cô vẫn
yêu như thường.
Khi
về dưới tỉnh, bố mẹ hỏi, Dick chỉ trả lời có, gì cũng nói có chứ không
giải thích. Tưởng con mắc cỡ, hai người không hỏi thêm. Họ cứ theo
chương trình mà thực hiện. Ở dưới quê, cưới hỏi, giỗ quải đều làm tại
nhà. Ngã heo, vật bò cũng chẳng tốn bao nhiêu. Ông bà Việt kiều nầy chơi
sang, mời bà con hàng xóm, kể cả xã ấp, tập trung một chỗ hẹn, sẽ có xe
đến rước lên nhà hàng trên tỉnh dự tiệc cưới, còn dặn xin đừng quà cáp.
Mấy khi được đi nhà hàng sang trọng dự tiệc cưới Việt kiều nên mọi
người rủ rê, bàn tán coi bộ sôi nổi và sốt ruột lắm.
Đó
là chuyện chuẩn bị tiệc cưới ở dưới quê, tức bên nhà trai. Trên Sài Gòn
cũng có một bữa tiệc ở nhà hàng trong Chợ Lớn do con gái ông chủ tiệm
hủ tiếu tổ chức đãi đằng bạn bè trước khi cô lên xe hoa. Cô ta nói “Thưa
các bạn, ngày mai tôi sẽ lên xe hoa, hôm nay hai đứa tôi mời các bạn
nhậu một bữa, xong lên lầu nhảy nhót”
Các
bạn cô tưởng rằng đó là đám cưới của cô với người tình, không ngờ, sau
đó mới vỡ lẽ là cô lên xe hoa với người khác. Bạn bè càng ngạc nhiên hơn
khi thấy người tình của cô vẫn vui vẻ chứ không buồn bã hay ghen tức gì
cả? Rượu ngà ngà, hai người mới thổ lộ âm mưu là cô sẽ làm đám cưới với
anh chàng Việt kiều và qua Mỹ sống độ mấy năm, khi đã vô quốc tịch, cô
sẽ li dị chồng rồi về Việt Nam cưới anh chàng tình nhân nầy. Đây là mánh
thường làm của các cô lấy chồng Việt kiều.
Về
phần nhà trai ở dưới quê, theo đúng ước hẹn, khởi hành từ bốn giờ sáng
dự định trưa sẽ đến Sài Gòn. Cô dâu chú rể làm lễ tổ tiên bên nhà gái
xong, sẽ lên xe hoa về dưới tỉnh vừa kịp giờ đãi tiệc.
Tiệm
hủ tiếu đóng cửa từ hôm qua để treo đèn kết hoa, thiết trí bàn thờ, mời
bà con, bạn bè đến dự buổi đưa dâu. Đúng mười một giờ, phái đoàn nhà
trai gồm ba chiếc xe lớn và một chiếc xe nhỏ có kết hoa dừng lại trước
tiệm hủ tiếu. Bà con xuống xe, ẹo qua, ẹo lại cho đỡ mỏi lưng sau một
chuyến đi dài. Mấy cô bưng quả, mấy cậu phù rể sắp hàng ngay ngắn chờ
nhà trai vào xin giờ rước dâu theo đúng lễ nghi. Trong khi đó, nhà gái
đã đứng chờ sẵn, vẻ mặt mọi người rất long trọng. Ông chủ tiệm hủ tiếu
kêu vọng lên lầu “Hỏi A Muối sẵn sàng chưa? Nhà trai đã đến rồi đó
nghe!” Tiếng mấy cô phù dâu trả lời “Tụi con kêu hoài mà cửa chị Muối
đóng chặt, không nghe trả lời gì cả!” “Má nó đâu? Sáng giờ làm gì mà
không kêu nó dậy? Người ta tới rồi kìa!” “Tôi đây. Có gì mà quýnh lên?
Cứ nói chuyện đi. Nó dậy thay đồ, trang điểm là xong ngay” Rồi nghe
tiếng lao xao trên lầu, một lát, cô phụ dâu xuống thì thầm báo cáo “Chị
Muối không có trong phòng. Tìm khắp nơi cũng không thấy” “Chết cha! Vậy
chớ nó đi đâu? Tìm về ngay. Coi thử nó có đến nhà bạn bè nào không? Đứa
nào xách xe đi tìm nó coi. Lẹ lên!” “Thằng Tửng nói chiều hôm qua, bạn
của chỉ đến đón đi ăn tiệc chia tay, khi hôm không thấy về” Ông chủ tiệm
hủ tiếu, trước đây là lính kiểng, chưa hề đụng độ ngoài chiến trường
bao giờ, nay bỗng lưỡng đầu thọ địch. Đối phương đã đến trước cửa mà
mình thì không có gì để nghênh chiến! Ông muốn lên lầu để la hét cho hả
giận nhưng nhà trai đã bước vào nhà rồi. Ông như Khổng Minh tọa lầu,
cười nói vui vẻ mà bụng đánh lô tô. Nhưng Khổng Minh còn hi vọng lừa
được đối phương chứ ông thì chắc chết! Ông giận mụ vợ cưng con mà vô
tâm, không chịu nhắc nhở, dặn dò, để nó đi từ chiều hôm qua, đến nay vẫn
không biết! Trong lúc đó, bà chủ cũng bấn xúc xích lên. Bà nhờ các cô
cậu nào có xe gắn máy, tức tốc đến nhà các bạn của cô Muối để “Lôi cổ nó
về đây ngay!”. Nửa giờ sau, các đặc phái viên trở về lắc đầu “Không
thấy A Muối đâu cả!” Bà cho một cô xuống thì thầm với ông chủ. Ông chủ
lắng nghe, cười và gật đầu ra điều chẳng có gì quan trọng. Nhà trai thấy
thế mới đứng lên có mấy lời. Đại ý đã chọn được ngày lành, giờ tốt, xin
cho chú rể và cô dâu lạy bàn thờ tổ tiên. Ông vui vẻ gọi lên lầu “Má nó
đâu. Cho con xuống làm lễ. Đến giờ rồi!” Đó là kế hoãn binh chứ ông
biết tỏng là làm gì có A Muối. Thế rồi nhà trai, nhà gái lại tiếp tục
vui vẻ chuyện trò. Nhưng chờ mãi chẳng thấy gì! Ông bạn nhà trai co tay
xem đồng. Ông bạn hủ tiếu làm vẻ ngạc nhiên “Ủa. Sao lâu quá vậy cà?”
Rồi ông bình thản đi lên lầu làm như tìm hiểu nguyên nhân, và ông lại
xuống lầu, coi bộ hơi bối rối một chút. Ông khèo ông bạn sui gia tương
lai vào nhà trong, lôi luôn ra sau hẻm, vì sợ mấy đứa người làm biết
chuyện. Người ta xúm cả cửa trước xem đám cưới, chỉ có hai mẹ con bà
hàng bún bò, cà phê đang lui cui dọn hàng về. Cô hàng cà phê, lúc nãy
chạy ra dòm đã thấy anh chàng Việt kiều là chú rể, bèn chạy vào báo cáo
với mẹ rằng đó là người khách “gà rù” thường đến mấy hôm trước, nay đi
cưới cô A Muối, con gái ông hủ tiếu. Hai mẹ con đang bàn tán thì hai ông
sui tương lai kéo nhau ra ngoài cửa sau xì xầm. Tuy nói nhỏ, nhưng hai
mẹ con bà hàng nghe tất cả. “Chết tôi rồi anh sui ơi! Con A Muối nó đi
từ hôm qua đến nay chưa về” Ông sui trai chưng hửng, rồi nổi xùng “Thật
hay giỡn đó anh sui? Tụi mình nghéo tay nhau từ lâu rồi mà! Anh muốn
“xù” tôi sao không nói trước? Báo hại tôi đặt tiệc mời bà con làng nước
ngồi chờ ở nhà hàng dưới tỉnh. Bây giờ tụi tôi lên đây, anh nói một câu
“bù chốc” !?” “Tôi lạy anh mà anh xui, anh thông cảm cho tôi. Tôi đâu
ngờ con nhỏ trốn đi! Anh với tôi, bạn bè mấy chục năm rồi, anh biết tôi
mà. Tôi đâu lòng dạ nào hại anh!” Ông sui trai cũng hạ hỏa “Nói vậy chứ,
tôi với anh…Đơn vị mình còn ai đâu. Thôi, chuyện anh xù tôi vụ nầy cũng
chẳng sao. Nhưng bây giờ mình tính sao đây? Không lẽ đi cưới vợ cho con
mà không có cô dâu thì mất mặt tôi quá! Hay là anh tìm đại cho tôi một
con nhỏ nào đó, đóng tạm vai cô dâu, khi về dưới tỉnh ra mắt bà con,
làng xóm xong thì trả nó về. Không ai biết” “Anh tính vậy mà hay. Nhưng
gấp quá. Chà! Khó dữ!” “Anh coi mấy đứa trong nhà, có đứa nào mặt mũi
sáng sủa một chút, mướn nó, tôi sẽ trả khá tiền”.
Hai mẹ con bà hàng bún bò, nãy giờ giả bộ làm việc nhưng dỏng tai nghe
hết ráo. Đến khi ông kia nói “trả khá tiền”, bà ta sốt ruột vọt miệng
nói. “Ông trả bao nhiêu? Tôi cho con nhỏ nầy làm cô dâu giả được không?”
Ông sui trai quay nhìn cô hàng cà phê, gật đầu. “Được quá đi chớ! Tôi
trả hai trăm” “Hai trăm tiền gì? Được bao nhiêu?” Ông chủ tiệm hủ tiếu
mừng rỡ. “Hai trăm là nửa cây vàng đó. Không ít đâu” “Vậy hả. Nhưng tôi
giao hẹn trước, xuống đó, ra mắt bà con dự tiệc xong là tôi dẫn con nhỏ
về Sài Gòn ngay chứ không có lộn xộn gì cả. Chịu không?” “Được mà bà
chị. Bà chị đòi gì tôi cũng chịu hết, miễn là có cô dâu về dưới tỉnh là
được” Thế là tất cả cứ rối lên như chạy giặc. Bàn ghế, nồi niêu, son
chảo của bà bún bò Huế được lùa hết vào gậm cầu thang tiệm hủ tiếu. Mẹ
con bà hàng bún được đẩy gấp lên lầu. Quần áo, phấn son, nữ trang, tròng
vào, bôi trét hết cho cô hàng cà phê. Bà hàng bún bò thì diện bộ đồ vía
của bà hủ tiếu. Chỉ mười phút sau là các diễn viên đã xong y trang.
Tiền trao cháo múc, bà hàng bún đòi ngay hai trăm đô lận lưng cho chắc
ăn. Thế là cô dâu giả cũng e lệ, lúng túng bước xuống thang lầu, theo
sau là bà bún bò Huế và các cô phụ dâu. Rồi thì cũng lễ gia tiên, cũng
diễn văn ngắn gọn của nhà trai, nhà gái, cũng nhẫn cưới đeo tay, đủ mọi
thủ tục. Cuối cùng cô hàng cà phê bước lên xe hoa cùng với đoàn hộ tống
của nhà gái. Bà chủ tiệm hủ tiếu cũng tháp tùng phái đoàn để khi xong
bữa tiệc sẽ thu hồi trang phục, vòng vàng mà bà đã sắm cho con gái là cô
Muối. Khán giả tụ tập trước tiệm hủ tiếu ngạc nhiên khi thấy cô dâu
không phải là A Muối mà là cô hàng cà phê. Họ bàn tán rồi phịa chuyện
nầy nọ để ra điều ta đây biết hết “từ lâu rồi”! Nào là cô Muối bị ép
duyên, đòi tự tử nên phải thay người khác làm cô dâu, nào là cô hàng cà
phê dụ dỗ được anh chàng Việt kiều, nhưng nhà nghèo quá mới thuê tiệm hủ
tiếu làm nhà gái.
Khi xuống dưới tỉnh, quan khách, bà con đều trầm trồ cô dâu đẹp quá. Mà
cô đẹp thiệt! Khi là cô hàng cà phê, cô đẹp một, giờ đây, đóng vai cô
dâu, cô đẹp mười. Giá như tỉnh tổ chức một cuộc thi sắc đẹp, chắc chắn
cả tỉnh sẽ bầu cô là hoa hậu. Hai con mắt và miệng cười của cô, đẹp đến
độ anh chàng Dick ngắm mà chóng mặt, không nghĩ rằng đó là cô hàng cà
phê. Trong bữa tiệc, theo đúng tập tục của người văn minh tiến bộ, cô
cậu đến từng bàn cám ơn quan khách dự tiệc, uống chút rượu bà con ép mời
và ôm nhau hôn trước mặt mọi người. Rồi cũng vỗ tay, gõ muỗng lên ly,
chén leng keng, tiếng cười nói, la hét của mấy tay say rượu…đủ thứ. Dick
đã hoàn toàn quên cô Muối rồi. So với cô hàng cà phê, cô Muối thua xa.
Sắc đẹp của cô hàng cà phê hớp hồn chàng Dick còn mạnh hơn cô Muối rất
nhiều. Nhưng giây phút thần tiên cũng qua mau. Tối đó, sau khi tiệc tan,
ai về nhà nấy thì bà hàng bún bò bảo cô con gái cởi trả nữ trang, áo
quần đẹp, (nhất quyết) ra ngủ phòng ngủ ở bến xe để sáng hôm sau về Sài
Gòn sớm. Cô hàng cà phê nhìn chàng Dick rơm rớm nước mắt.
Ngay
lúc đó lại xảy ra chuyện rắc rối mà không ai có thể ngờ được. Dick
không cho cô hàng cà phê về lại Sài Gòn. Cậu lớn tiếng với cha mẹ cậu,
đòi cưới thật cô hàng cà phê chứ không phải cưới kiểu giỡn chơi như vậy.
Cha mẹ chàng ta lại phải điều đình với bà hàng bún bò Huế, xin cưới
thật cô con gái của bà ta. Mấy người buôn bán bao giờ cũng linh mẫn
chuyện đầu cơ. Bà ta lạnh lùng lắc đầu, vì bà biết con cá đã cắn câu rồi
thì bà cứ thế mà kéo con mồi lên, chiên, kho là quyền của bà. Cha mẹ
chàng Dick thấy cô hàng cà phê đã đẹp còn hiền lành, dễ thương nên lại
càng quyết tâm cưới cô ta cho con mình. Sau khi được năn nỉ, bà bún bò
Huế phán mấy câu. “Ông bà nói vậy chẳng khác gì bắt tôi bán con gái tôi
cho ông bà. Mà vợ chồng tôi chỉ có nó là đứa con duy nhất, tôi chỉ muốn
nó lấy chồng gần chúng tôi để sau nầy, về già còn nhờ vả được. Ngay hiện
tại, nó cũng phụ giúp tôi trong việc buôn bán sanh nhai. Nay ông bà đòi
bắt nó về Mỹ, tôi mất con mà chẳng còn ai để nương tựa lúc tuổi già.
Hơn nữa, nếu tôi gả con gái tôi cho ông bà thì chẳng khác gì con tôi
giành chồng của cô Muối. Thử hỏi tôi có yên ổn mà buôn bán ở đó không?
Rồi tôi phải làm sao đây?”
Chỉ
mấy lời thôi mà bà hàng đã nêu vấn đề một cách minh bạch. Câu đầu bà
gợi ý cho đối phương thấy “chủ đề” ở đây là tiền, mấy câu sau bà quảng
cáo món hàng của bà và bà bắt chẹt.
Cha
mẹ chàng Dick hiểu ngay điều đó nên đưa ra một cái giá mà họ nghĩ có
thể thuyết phục đối phương. Tuy nhiên họ cũng biết văn hoa một chút. Đại
ý là họ hiểu tình cảnh bà hàng bún bò, nhưng xin bà yên tâm, khi cô con
gái qua Mỹ, nó sẽ gửi tiền về nuôi bà, chồng nó là kỹ sư, tiền bạc dư
dã, hiện tại, họ sẽ gửi bà một số tiền để bà tìm chỗ khác, hoặc có thể
sang một sạp hàng trong chợ mà buôn bán. Nói trắng ra, họ chồng một số
tiền lớn để mua cô gái cho con trai họ. Bà hàng bún không ngờ con gái
mình lấy Việt kiều một cách ngon lành, khỏi tốn công, tốn thì giờ mà
mình lại ẳm được mấy nghìn đô. Thế là nhà trai lại điều đình với bà sui
hụt, mua lại tất cả nữ trang, áo quần mà họ đã sắm cho cô Muối.
Tối đó, Dick và cô hàng cà phê ngủ chung một phòng (riêng).
Kể
câu chuyện chồng tôi lấy vợ trên đây để quí vị thấy, rõ ràng vợ chồng
đến với nhau là do “tiền định!”. Có ai nghĩ rằng cô Muối lại mất chồng
sau bao nhiêu công sức, cố mồi chài cho được anh chàng Dick, để rồi
“công trình kể biết mấy mươi” trở thành công cốc. Nhưng nguyên nhân vì
đâu? Tại sao cô lại không về làm cô dâu để thực hiện chương trình đánh
lừa anh chàng Dick ngơ ngáo kia?
Số
là tối đó, sau khi nhậu nhẹt say sưa, nhảy nhót tưng bừng cho đến gần
sáng, cô Muối cùng tình nhân thuê khách sạn ngủ, dự định sáng mai về
cũng còn kịp chán. Muốn cho đêm ân ái thêm nồng nàn, họ phi một đợt xì
ke (ma túy), sau đó họ lăn ra ngủ. Đến gần chiều cả hai mới giật mình
tỉnh dậy. Cô Muối hối hả lên xe, chạy về.
Xe hoa đã lên đường được hơn nửa giờ rồi.
Phạm Thành Châu
No comments:
Post a Comment