Sunday, 24 October 2021

Tây Sơn Bi Hùng Truyện

Lê Đình Danh
Tây Sơn bi hùng truyện (2003)


[1] Nguyễn Huệ đại thắng quân Tiêm La (Xiêm)

[2] Quang Trung đại thắng quân Thanh

[3] Quang Trung mất, Gia Long trả thù
 

Chương 26
...

Nói về Nguyễn Nghi đem quân ra khiêu chiến bị tướng Tây Sơn là Đô đốc Tuyết bắn vỡ vài chiếc đại thuyền liền quay đầu chạy một mạch về Thất Kỳ Giang. Không thấy quân Tây Sơn đuổi theo, Nghị đến đại bản doanh gặp Phúc Ánh, tâu:
- Thưa Thượng vương, quân Tây Sơn thuyền to súng lớn. Đạn thuyền của thần bắn chưa đến được thuyền giặc, thì đã bị đại bác Tây Sơn bắn vỡ mất hai đại thuyền. Thần vội chạy về đây, không rõ vì lý gì giặc chẳng đuổi theo!
Khi ấy Mạn Hòe (Manuel) vì nóng lòng lập công khoe tàu đồng súng lớn. Mạn Hòe theo Nguyễn Nghi vào gặp Phúc Ánh, thưa:
- Tôi xin đem hai chiếc tàu đồng ra cửa biển dụ giặc. Nếu chúng đuổi theo thì ta dụ vào Thất Kỳ Giang mà đánh. Nếu chúng sợ thì tôi sẽ bắn vỡ thuyền chúng ở cửa Cần Giờ cho khỏi nhọc sức Thượng vương.
Phúc Ánh y lời phong Mạn Hòe làm tiên phong, đem hai chiếc tàu đồng và hai mươi đại thuyền cùng hai ngàn quân ra cửa Cần Giờ khiêu chiến. Mạn Hòe hùng hổ kéo quân đi ngay. Đến gần thuỷ trại Tây Sơn, vua Thái Đức trong thấy bảo:
- Quá đúng như Nguyễn Huệ tiên đoán, ngoài cả quân Nguyễn lại ra khiêu chiến, lần này chúng có hai chiếc tàu đồng lớn, có phải của người Pháp Lang Sa chăng?
Nguyễn Huệ nói, giọng rền như sấm:
- Cái lũ người mắt xanh mũi lõ này, mượn tiếng truyền đạo có ý đồ dòm ngó nước ta. Trận này phải đốt hai chiếc tàu đồng này cho chúng biết quân Tây Sơn ta hùng mạnh thế nào!

Nói rồi sai Nguyễn Văn Tuyết làm tiên phong, phò mã Trương Văn Đa làm hậu quân Đô đốc, bảo vệ vua Thái Đức, còn mình đem toàn quân giáp chiến. Tiến vừa tầm đạn, quân Tây Sơn nhất tề khai hoả, đại bác nổ ầm ầm, đạn bay tới tấp trên thuyền quân Nguyễn. Mạn Hòe cầm đầu hai chiếc tàu đồng đi trước liền bắn trả. Nhưng quân Tây Sơn đông quả lại tập trung hoả lực vào hai chiếc tàu đồng của Mạn Hòe, chẳng mấy chốc súng đại bác trên tàu đồng của Mạn Hòe đều bị đạn quân Tây Sơn bắn hỏng cả. Mạn Hòe liền hạ lệnh lui binh. Quân Tây Sơn ồ ạt đuổi theo. Vừa đến Thất Kỳ Giang, Nguyễn Huệ ra lệnh:
- Đặng Văn Long đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ nhất. Nguyễn Văn Lộc đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ hai. Ngô Văn Sở đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ ba. Phan Văn Lân đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ tư, Trần Quang Diệu lãnh hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ năm.

Các tướng lãnh lệnh chia quân đi ngay. Nguyễn Huệ cùng Bùi Thị Xuân cầm trung quân đốc chiến thúc quân tiến lên vây hai chiếc tàu đồng của Mạn Hòe vào giữa. Quân Pháp Lang Sa trên tàu thấy Tây Sơn giáp chiến liền lấy súng nhỏ mà bắn. Quân Tây Sơn lấy khiên đồng đỡ đạn lầm lũi tiến lên. Đến gần tàu đồng Mạn Hòe, quân Tây Sơn tung hoả hổ mà đốt. Nguyên nhựa hoả hổ của Tây Sơn văng đâu dính đó, sức nóng vô cùng. Hoả hổ bắn tung tóe như mưa lên tàu Mạn Hòe, hai chiếc tàu đồng của quân Pháp Lang Sa bốc cháy. Mạn Hòe cùng hai trăm quân người Pháp Lang Sa đều bị chết cháy cả. Các cánh quân mai phục của Nguyễn Gia Miêu đều bị Tây Sơn đánh tan tác, chiến thuyền đắm vỡ gần hết, quân chết thôi vô số. Các tướng Nguyễn Phúc Ánh là Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương, Hồ Văn Lân, Nguyễn Nghi đều theo lạch nhỏ mà chạy trốn. Lúc ấy Nguyễn Phúc Ánh thấy thuyền Tây Sơn lọt vào Thất Kỳ Giang trong bụng mừng lắm nói:
- Anh em Nhạc, Huệ quả nhiên trúng kế, chờ chúng vào hết trong trận sẽ nhất tề tiến đánh.
Nói vừa dứt câu lại thấy quân Tây Sơn chia thuyền làm sáu cánh, mỗi cánh tiến vào một ngả sông. Ánh giật mình nói với Bá Đa Lộc rằng:
- Sao quân Tây Sơn lại bố trận như thế. Không lẽ quân cơ của ta đã lộ rồi chăng?
Bá Đa Lộc lại thất sắc kêu Ánh:
- Quân Tây Sơn vây hai chiếc tàu đồng của Mạn Hòe. Xin Thượng vương mau hạ lệnh tiến quân giải vây cho Mạn Hòe.
Phúc Ánh liền hô quân xung trận. Thuyền quân Nguyễn vừa mới xông ra đã bị đạn đại bác Tây Sơn bắn chìm liền mấy chiếc. Quân Nguyễn thấy vậy hoảng sợ không dám tiến, Ánh ở phía sau tuốt gươm hét:
- Quân bay mau tiến lên liều chết mà đánh, đứa nào sợ lui ta chém chết không tha.
Ánh hết vừa dứt lời nhìn vào giữa trận thấy hai chiếc tàu đồng của Mạn Hòe bốc cháy, quân sĩ cả kinh đều quay thuyền chạy cả. Ánh ngăn không nổi đành cũng Bá Đa Lộc tất tả chạy theo.



***
Chương 27

Khuyên Đỗ Nhàn Trập, Võ Tánh một dạ trung quân
Trốn Bùi Thị Xuân, Nguyễn Vương hai lần thoát hiểm

Nhắc lại Nguyễn Phúc Ánh đánh cùng quân Tây Sơn ở Thất Kỳ Giang bị thua trận, bèn cùng Bá Đa Lộc quay thuyền mà chạy.
Nữ Đô đốc Tây Sơn Bùi Thị Xuân trông thấy nói với Nguyễn Huệ:
- Chiếc thuyền rồng kia chắc của Nguyễn Phúc Ánh, tôi xin đuổi bắt giết chết nó cho rồi.
Nói xong Xuân qua một chiếc dài thuyền dẫn đầu nữ binh đuổi theo Phúc Ánh. Phúc Ánh trông thấy hồn phi phách tán, nghĩ thầm rằng: Con tiện tỳ này võ nghệ siêu quần sức khỏe vô song. Nếu phen này mà nó bắt được ta thì dù cố vạn lậy mòn đầu gối nó cũng chẳng tha.
Nghĩ xong hối quân chèo gấp. Thị Xuân đuổi theo, Ánh liệu bề ở trên thuyền không chạy khỏi, bảo quân ghé thuyền vào bờ lên đất liền mà trốn. Bùi Thị Xuân cũng lên bờ đuổi theo. Bá Đa Lộc dẫn Ánh chạy vào trong một xóm đạo, đến nhà thờ lớn Lộc bảo máy đạo sĩ:
- Mau mau tìm chỗ cho vua nấp, kẻo giặc đuổi tới nơi.
Nói vừa xong người canh cổng vào bảo rằng;
- Có đạo binh toàn là con gái, gươm giáo lăm lăm đang lùng sục khắp nơi.
Đạo sĩ giữ nhà thờ nói:
- Xin vua và giám mục mau ra trốn nơi hậu quân.
Ánh và Lộc liền chạy ra hậu quân. Vừa vào trong đã nghe tiếng Bùi Thị Xuân quát ở ngoài rằng:
- Các ngươi hay lục soát khắp nơi bắt kỳ được Phúc Ánh cho ta.
Ánh chẳng còn hồn vía nào, nhận thấy mấy người đàn bà đang hộ sanh cho một phụ nữ đang trở dạ, liền cùng Bá Đa Lộc chui xuống gầm giường ấy mà trốn. Bùi Thị Xuân mở cửa bước vào thì vừa lúc đứa trẻ chào đời khóc oa oa. Thị Xuân thấy vậy liền vội vã lẩn ra ngoài. Bùi Thị Cúc hỏi:
- Vì sao chị vừa vào đã vội ra ngày?
Xuân đáp:
- Trong ấy có người phụ nữ vừa sanh con. Ta làm người đẻ sợ hãi lên máu sản hậu mà chết nên phải ra ngày.
Cúc lại hỏi:
- Thế ngộ nhỡ Phúc Ánh chui xuống gầm giường ấy mà trốn thì sao?
Xuân cau mày đáp:
- Nguyễn Phúc Ánh đến nỗi nào mà hèn như thế được! Vả lại nếu ta vào lục soát, người mẹ mới sanh con kia sẽ sợ hãi lên sản hậu mà chết. Lòng ta sao nỡ! Thôi! Mau đi tìm ở hướng khác.
Tìm đến tối vẫn không thấy tăm dạng Phúc Ánh đâu, Bùi Thị Xuân đành quay về báo cùng Nguyễn Huệ:
- Thưa tướng quân, Phúc Ánh chạy thoát chính la lỗi do tôi.

Huệ cười bảo:
- Việc gì mà cô Xuân phải tạ lỗi. Đất Gia Định sông ngòi chằng chịt, rừng rậm um tùm, hắn đã chạy trốn thì dễ gì mà kiếm cho ra. Vả lại số của Ánh chưa tàn mà thôi. Nay Phúc Ánh trốn thoát chạy vào thành Sài Côn, vợ chồng Diệu và Xuân hãy đem hai ngàn quân chia nhau chân ở hai cửa Cung Hậu và Hàm Luông do sông Tiền Giảng đổ ra. Đợi Vũ Văn Nhậm đem bộ binh tiến đánh Trấn Biên, Ánh tất bỏ Sài Côn mà chạy về Trường Đồn. Ta đã sai Nguyễn Văn Lộc tiến đánh Trường Đồn, Nguyễn Văn Tuyết đánh Long Hồ. Phúc Ánh chỉ còn một con đường là lợi dụng vùng sông ngòi chằng chịt theo sông Tiền Giang trốn ra hải đảo mà thôi. Lần này có thể vợ chồng Diệu Xuân lại lập công to như lần trước bắt hai chúa Thái Thượng vương và Tấn Chính vương của nhà Nguyễn vậy. Hai người nên cố gắng tiêu diệt được Phúc Ánh, xem như ta đã bình được đất Gia Định vậy.
Bùi Thị Xuân ân hận nói:
- Nguyễn Phúc Ánh thoát được là do lỗi ở Xuân này. Xin tướng quân trị tội.
Huệ cười hỏi:
- Ta chưa từng nghe nói có điều quân lệnh nào là bảo rằng không bắt được tướng giặc là có tội. Cô Xuân đừng nên bứt rứt như thế.
Bùi Thị Xuân không dám kể rằng chính mình đã tha mạng cho Phúc Ánh năm xưa lúc bắt hai chúa Nguyễn, bên cáo từ Nguyễn Huệ rồi cùng chồng là Trần Quang Diệu lãnh lệnh ra đi.

Nhắc lại Nguyễn Phúc Ánh thấy Bùi Thị Xuân dẫn nữ binh đi rồi, liền cùng Bá Đa Lộc chui ra khỏi gầm giường. Ánh bồng đứa bé mới sinh trên tay và nói:
- Ngươi chính là người trời sai xuống cứu vua. Và ta phong cho ngươi làm hộ giá đại tướng quân. Ngày sau phục quốc nhất định tìm mà ban thưởng.
Đoạn Phúc Ánh chia tay với Bá Đa Lộc rồi tìm đường về thành Sài Côn. Đến nơi thấy Lê Văn Quân cũng kéo quân về tới. Ánh giật mình hỏi Quân:
- Khanh đang thủ thành Trấn Biên sao lại kéo quân về đây?
Vâm Quân quỳ tạ lỗi:
- Giặc Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy từ Bình Thuận kéo vào đánh rất dũng mãnh. Binh ta không địch nổi, thần đành phải chạy về đây hợp quân cùng Thượng vương cố thủ đất Sài Côn.
Ánh bảo:
- Binh ta đã bị quân Tây Sơn đánh tan ở Thất Kỳ Giang. Mạn Hòe tử trận, các tướng Nguyễn Nghi, Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương, Hồ Văn Lân đều thất lạc cả. Nay nếu giặc ba bề đánh tới thì làm gì mà cố thủ Sài Côn. Bây giờ chỉ còn có một đường là bỏ thành mà chạy vào Trường Đồn với Mạc Thiên Tứ mới mong bảo toàn tính mạng.
Vừa dứt lời nghe quân hớt hải vào báo:
- Thưa Thượng vương, Vũ Văn Nhậm đem quân đánh đến cửa Bắc thành.
Phúc Ánh cả kinh liền sai Lê Văn Quân đem một ngàn quân đoạn hậu, còn mình đích thân dìu mẹ và em lên xe tứ mã mở cửa thành Nam mà chạy.

Nhắc lại từ khi Đỗ Thành Nhân bị Phúc Ánh giết chết, thuộc hạ của Đỗ Thành Nhân là Đỗ Nhàn Trập và Võ Tánh dẫn ba ngàn quân Đông Sơn bỏ Trường Đồn về tránh ở căn cứ là rừng Tam Phụ.
Ngày ấy quân thám mã về báo cùng Đỗ Nhàn Trập:
- Thưa tướng quân, vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc đem quân thuỷ bộ vào đánh Gia Định. Thượng vương Phúc Ánh bị thua to ở Thất Kỳ Giang. Bộ quân Tây Sơn do phò mã Vũ Văn Nhậm đã đánh chiếm thành Trấn Biên. Hiện Thượng vương và tướng quân Lê Văn Quân đã lui về cố thủ Sài Côn.
Đỗ Nhàn Trập nghe xong liền quay sang Võ Tánh nói:
- Từ ngày anh ông là Võ Nhân và chú tôi bị Phúc Ánh bắt giết chết, tôi và ông phải về ẩn náu ở nơi này, lúc nào tôi cũng nuôi chí báo thù. Nay quân Tây Sơn sắp sửa đánh chiếm thành Sài Côn, Phúc Ánh không thể nào địch nổi sớm mượn gì thành Sài Côn cũng mất về tay quân Tây Sơn. Tôi với ông đều là bậc hào kiệt, vậy ta nên theo về với Tây Sơn đánh Phúc Ánh báo thù cho chúa. Chẳng hay ý ông thế nào?
Võ Tánh lắc đầu nói:
- Nếu ta đầu Tây Sơn đánh Thượng vương thì không phải là ta báo thù mà sẽ phụ lòng chủ tướng nói suối vàng vậy.
Nhàn Trập hỏi:
- Phúc Ánh giết chủ tướng. Nay ta đánh Phúc Ánh để báo thù sao lại bảo là phụ lòng chủ tướng.
Tánh không đáp, hỏi lại Nhàn Trập:
- Xin hỏi ông vì sao chủ tướng ứng nghĩa cần vương giúp chúa Định Vương lại lấy tên quân ta là Đồng Sơn.
Trập đáp:
- Chú tôi lúc ấy lấy tên Đông Sơn là tỏ ý đối nghịch với Tây Sơn.
Tánh hỏi:
- Vậy nay ta đầu hàng Tây Sơn thì chẳng phải là phụ lòng chủ tướng sao?
Trập đáp:
- Ngươi xưa có nói: Chim khôn chọn cây mà đỗ, tôi hiền chọn chúa mà thờ. Nay Phúc Ánh tâm địa nhỏ nhen, mượn tay người rồi lại giết người, mới đặng chim đã vội vàng bẻ ná. Vả lại Phúc Ánh muốn tranh lấy ngôi vàng nhà chúa mà không màng đến điều hại của quốc dân, nên mới mượn binh của nước Pháp Lang Sa, đổi lại cho Bá Đa Lộc được tuyên truyền tà đạo, người như thế đâu phải là minh quân. Vả chăng Phúc Ánh vốn có lòng muốn giết hai ta ở tiệt trừ hậu hoạ nên mới sai Mạc Thiên Tứ từ Hà Tiên đánh ra, Lê Văn Quân và Hồ Văn Lần từ Sài Côn đánh vào lúc hai ta còn trấn thủ ở Trường Đồn. Nay nếu ông ra phò Phúc Ánh có dám chắc rằng bảo toàn tính mạng được chăng? Tôi có nghe vua Thái Đức Tây Sơn là người nhân nghĩa, ban quân pháp không được giết hàng quân, đi đến đâu đều cứu giúp dân nghèo. Đến như năm xưa chúa Định Vương bỏ Quảng Nam vượt bể vào Gia Định, vua Tây Sơn bắt được Tính Điệp hầu Nguyễn Đăng Trường, cảm mến lòng trung hiếu của Tính Điệp hầu, vua Tây Sơn lại cấp ghe thuyền cho Tính Điệp hầu vào Gia Định theo chưa. Người như thế không phải là đại nhân dài đức hay sao? Này nếu ta cứ câu nệ hai chữ trung quân không đầu quân Tây Sơn, thì đối với Phúc Ánh cũng mang tiếng là phản chúa. Chẳng lẽ ông lại để cho mấy ngàn quân Đông Sơn ở mãi trong rừng Tam Phụ này sao?

Võ Tánh bác lời của Đỗ Nhàn Trập:
- Thượng vương giết chủ tướng là do chủ tướng cậy công mà xem thường tiểu chúa, làm anh tôi phải bị chết oan, thì sao lại đổ lỗi cho Thượng vương được. Ấy là một lẽ! Thượng vương mượn binh Pháp Lang Sa mong khôi phục cơ đồ ấy là điều đúng. Đạo do Bá Đa Lộc tuyên truyền cũng dậy người làm điều thiện thì sao lại bảo lả tà đạo? Ấy là hai lẽ. Thượng vương muốn giết chết hai ta để trừ hậu hoạ vì hai ta là thuộc hạ của chủ tướng, ở trong cương vị này ai cũng phải làm như thế mà thôi. Phận làm tôi không được đem lòng oán chúa. Ấy là ba lẽ! Vả lại tôi không ở trong thành Trường Đồn để Thượng vương bắt làm tội cho trọn câu: "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" mà về ẩn thân nơi rừng Tam Phụ vì nghĩ rằng thân này còn có ngày giúp chúa đánh Tây Sơn. Tôi cũng như Tính Điệp hầu Nguyễn Đăng Trường chỉ biết câu: "Tôi trung không thờ hai chúa" mà thôi. Lẽ đâu lại đi hàng thằng buôn trâu Nguyễn Nhạc, vả lại quân Tây Sơn mượn tiếng tôn phò giả nhân giả nghĩa nên mới thả cho Tính Điệp hầu để lấy lòng hiền sĩ. Nếu không thế, tại sao lúc bắt Tính Điệp hầu lần thứ hai lại không cảm lòng trung hiếu tha cho mà bắt giết đi. Xin ông chớ có lầm anh em thằng buôn trâu là người nhân nghĩa.
Đỗ Nhàn Trập nghĩ thầm rằng: Võ Tánh đã quyết như thế ta có nói thế nào cũng không lay chuyển được, chi bằng ta làm hoà rồi thừa cơ trốn đi là hơn. Nghĩ xong làm như giật mình tỉnh ngộ, Tráp nói:
- Nếu không nhờ ông phân giải, tôi đã làm quân Tây Sơn. Nhưng Thượng vương cứ muốn giết hai ta thì làm sao mà ra giúp chúa cho được?
Tánh bàn rằng:
- Hiện giờ ta chưa thể chứng minh lòng trung của ta được. Nay tôi và ông hay kéo quân đến thành Sài Côn giúp chúa chống Tây Sơn. Lẽ nào chúa chẳng tin ta?
Trập vội can:
- Nếu làm như thế tôi e rằng quân ta chưa đến nơi thì Thượng vương đã bỏ thành mà trốn.
Tánh ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao ông lại nói thế?
Trập vờ lo lắng nói:
- Nay Sài thành mặt Bắc thì bộ binh Vũ Văn Nhậm đang uy hiếp, mặt Đông thì thuỷ binh Nhạc, Huệ tấn công. Nếu quân do thám về báo với chúa rằng có Võ Tánh và Đỗ Nhàn Trập đem quân Đông Sơn tiến đánh mặt Nam thì Chúa thượng lại ngồi yên trong thành được sao? Ông làm thế thành ra hại chúa vậy!
Tánh gật đầu hỏi:
- Theo ông nay tôi phải làm sao?
Trập hiến kế:
- Nay chỉ còn có cách là chờ có chúa thất thủ Sài Côn ắt phải chạy vào Trường Đồn cùng Mạc Thiên Tứ, vào Trường Đồn tất phải chạy ngang qua rừng Tam Phụ của ta. Khi ấy ta kéo quân ra đánh Tây Sơn đang đuổi theo để cứu chúa. Chỉ có như vậy mới chứng tỏ được lòng trung của mình cho chúa biết mà thôi.
Tánh thở dài nói:
- Biết chúa lâm nguy mà không ra giúp được, phải chờ cho chúa bại binh. Nhưng không còn cách nào khác đành phải vậy thôi!
Trập bảo:
- Tôi xin đem một ngàn quân bản bộ làm tiên phong ra ngoài rừng đến ven đường mai phục. Ông chỉnh đốn hàng ngũ vạn chuyển binh lương cũng toán binh đến sau.
Nói rồi Trập từ biệt Võ Tánh đi ngay.

Nói về Nguyễn Phúc Ánh bỏ thành Sài Côn mà chạy đến gần khu rừng Tam Phụ, xảy thấy vài tên quân mình từ hướng Nam chạy đến bảo:
- Thưa Thượng vương, tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Lộc đem quân theo đường bé vào cửa Hàm Luông chiếm lấy Trường Đồn. Nguyễn Văn Tuyết theo sông Tiền Giang đánh chiếm Long Hồ. Tổng trấn Mạc Thiên Tứ đã bỏ Trường Đồn chạy về cố thủ Hà Tiên.
Phúc Ánh thất kinh than:
- Nay hai đầu địch quân đánh tới biết phải chạy về đâu?
Vừa than dứt lời bỗng thấy một đạo binh trong rừng xông ra. Viên tướng cầm đầu đạo binh ấy hết lớn:
- Nguyễn Phúc Ánh chạy đâu cho thoát. Hôm nay ta quyết giết ngươi để trả thù cho chúa ta là Đỗ Thành Nhân.
Nguyễn Phúc Ánh tâm thần bấn loạn nói:
- Quân Đông Sơn lại kéo đến đánh, Lê Văn Quân mau chặn Đỗ Nhàn Trập lại cho ta.
Quân vội vàng nói:
- Chúa thượng mau phò quốc mẫu chạy vào con đường nhỏ ở hướng Đông lánh nạn. Thân xin ở lại liều mình chết cùng Đỗ Nhàn Trập.
Văn Quân nói xong hô quân cự chiến với Đỗ Nhàn Trập. Binh Nguyễn bị Tây Sơn đuổi chạy tướng sĩ người ngựa mệt mỏi đều quẳng giao bỏ trốn. Lê Văn Quân cũng vài mươi tuỳ tùng quất ngựa chạy theo Phúc Ánh. Đỗ Nhàn Trập quyết chí báo thù thúc ngựa đuổi theo. Văn Quân chạy một hồi thấy xa giá quốc mẫu và Phúc Ánh phía trước mà sau lưng Đỗ Nhàn Trập vẫn rượt nã theo. Trong cơn nguy khốn bỗng nghe một tiếng hét vang:
- Quân giặc kia không được hại chúa!

Người vừa hét mặt đen như than, thân hình cao lớn tay cấm đại đao từ đâu xông đến chặn Nhàn Trập mà chém. Nhàn Trập giơ thương lên đỡ nghe rủn cả tay, hoảng kinh quát ngựa mà chạy. Nhờ vậy nên Nguyễn Phúc Ánh và Lê Văn Quân mới thoát nạn. Phần Đỗ Nhàn Trập thì dẫn quân về thành Sài Côn đầu hàng quân Tây Sơn.
Nói về viên tướng mặt đen sau khi đuổi Đỗ Nhàn Trập đi rồi bèn quay ngựa lại ra mắt Phúc Ánh. Ánh hỏi:
- Tráng sĩ tên họ là gì, quê quân ở đâu? Sao biết ta lâm nạn nơi này mà cứu?
Tướng ấy đáp:
- Thần dân tên Trương Tấn Bửu, quân làng Hiệp Hưng, Tổng Tân An, Châu Định Viễn ở gần đây. Nay quân Tây Sơn bủa vây bọn phía, xin mời chúa hãy lẩn về nhà thần dân nghỉ tạm qua đêm rồi sẽ liệu sau!
Phúc Ánh và Lê Văn Quân liền đưa quốc mẫu về nhà Trương Tấn Bửu. Mẹ con Phúc Ánh và Lê Văn Quân mỏi mệt quá đánh nằm trên giương rơm, dưới ánh đèn dầu leo lét, trong túp lều tranh lụp xụp ngủ vùi. Sáng sớm hôm sau nghe Trương Tấn Bửu gọi:
- Đỗ Nhàn Trập về hàng quân Tây Sơn, hiện đang dẫn giặc đi lùng sục khắp nơi. Xin Chúa thượng mau đi tránh.
Phúc Ánh mệt mỏi lo lắng hỏi:
- Nay quân ta tan tác chỉ còn có vài người tuỳ tùng. Giặc đuổi đến biết tránh đi đâu?
Bửu trấn an rằng:
- Xin Chúa thượng chớ lo. Thân dân ở vùng này rất rành địa thế, xin đưa chúa qua ở cồn vắng bên kia sông thì không lo giặc tìm ra tông tích.
Nói xong Bửu dùng thuyền nhỏ đưa mẹ con Phúc Ánh qua cù lao giữa sông mà tránh. Đến nơi quốc mẫu lại kêu đói. Ánh bảo Tấn Bửu:
- Phiền ngươi đi tìm thức vật cho mẹ con ta lót dạ.
Tấn Bửu đi một hồi quay lại nói:
- Thần dân định về nhà lấy cơm dâng quốc mẫu và Chúa thượng, nhưng ngắt nỗi quân Tây Sơn đang lùng sục trong làng nên không tiện quay về. Xin chúa cùng quốc mẫu dùng tạm quả này cho đỡ đói.
Nói xong Bửu dâng quả rừng cho Phúc Ánh. Ánh cắn thử một miếng thấy vị vừa chưa vừa chát liền hỏi Trương Tấn Bửu:
- Quả này tên gọi quá gì?
Bửu thưa:
- Cây này thường mọc bên bờ sông, tên gọi cây bần.
Ánh tò mò hỏi:
- Vì sao gọi là cây bần?
Bửu đáp:
- Vì quả này thương những người nghèo khó thiếu cơm mới ăn qua bữa, nên có tên lá cây bần.
Ánh bèn bảo:
- Họ nhà ta làm chúa cả thiên hạ, nay phải ăn trái bần lót dạ. Từ nay cấm không gọi là trái bần nữa.
Bửu hỏi ngày:
- Thưa chúa vậy phải gọi là trái gì?
Ánh ngẫm nghĩ rồi đáp:
- Từ nay phải gọi là cây Thuỷ Liễu!
Ánh nói xong liền dâng trái Thuỷ Liễu cho mẹ dùng. Hôm sau Trương Tấn Bửu lại đem về một chiếc thuyền lớn nói với Phúc Ánh:
- Nay giặc Tây Sơn đi lùng sục khắp nơi, sớm mượn gì cũng đến nơi này. Vậy mới Chúa thượng mau lên thuyền chạy ra ngoài hải đảo lạnh nạn mới yên.
Phúc Ánh nói:
- Năm xưa hai chúa cũng vì chạy ra hải đảo lánh nạn nên mới bị nữ tướng của giặc là Bùi Thị Xuân bắt ở cửa Hàm Luông. Nay nếu ta chạy theo đường đó làm gì mà không bị đón bắt như hai lần trước?
Bửu đáp:
- Xin Chúa thượng chớ lo, kênh rạch vùng này thân dân rất rành. Thân dân sẽ cho thuyền theo rạch nhỏ mà đi ra ngoài biển. Giặc Tây Sơn không thể nào biết được.

Phúc Ánh và Lê Văn Quân nghe lời đưa quốc mẫu và công chúa Ngọc Du lên thuyền theo Trương Tấn Bửu mà đi. Bửu cho ghe luồn lách trong rạch nhỏ quả nhiên không gặp quân Tây Sơn. Nhưng vừa ra cửa bể bỗng gặp nữ tướng Tây Sơn Bùi Thị Xuân đem vài chiến thuyền đi tuần tiễu trông thấy. Bùi Thị Xuân gọi lớn:
- Chiếc thuyền kia mau dừng lại cho quân ta tra xét.
Trương Tấn Bửu không đáp, giong buồm cho thuyền chạy ra khơi. Thị Xuân nói:
- Long Nhương tướng quân đoán không lầm. Quả nhiên là thuyền Phúc Ánh chạy trốn. Mau đuổi theo!

Phúc Ánh trông thấy Bùi Thị Xuân đuổi theo liền trương cũng lắp tên bắn một phát. Thị Xuân lẹ mắt chụp được mũi tên ấy, rồi lấy cung bắn trả. Tên bay xé gió trúng dây buồm dứt lìa. Thuyền Phúc Ánh đứt dây buồm không chạy được. Ánh cả kinh than:
- Lần nào ta chạy trốn cũng bị con tiện tỳ này rượt đuổi. Số của ta phải chết dưới tay đàn bà sao?
Than vừa dứt lời bỗng trời mây vần vũ, rồi mưa tờ gió lớn nổi lên. Bùi Thị Xuân liền hối quân chạy thẳng vào bờ nấp bão, lạ lùng thay chiếc thuyền nhỏ của Phúc Ánh trong giông bão giữa biển khơi lại chẳng hề hấn gì. Bão tan chẳng thấy thuyền quân Tây Sơn đâu nữa. Nhờ vậy Nguyễn Phúc Ánh và Lê Văn Quân, Trương Tấn Bửu thoát được chạy ra đảo Phủ Quốc ẩn náu.
Nữ tướng Tây Sơn là Bùi Thị Xuân sau cơn bão không thấy thuyền Phúc Ánh bèn thu quân về thành Sài Côn ra mắt vua Thái Đức, tâu:
- Thần dẫn quân đi tuần ngoài cửa bể Hàm Luông, gặp thuyền Phúc Ánh chạy trốn thần đuổi theo gần kịp, bỗng một cơn bão nổi lên thần đành cho thuyền vào bờ núp bão. Khi bão tan không thấy Phúc Ánh, đành kéo quân về ra mắt Bệ hạ.
Vua Thái Đức nói:
- Ở giữa biển lại gặp bão tố, thuyền Phúc Ánh làm gì mà không bị đắm. Phen này ắt là đã diệt xong dòng họ chúa Nguyễn. Phúc Ánh chết các tướng sĩ quân Nguyễn chạy trốn ắt là như rắn mất đầu ta có lo gì nữa.
Đoạn vua bảo các tướng:
- Hay chuẩn bị quân trang định ngày xa giá hồi kinh!
Nguyễn Huệ hỏi vua:
- Vậy hoàng huynh đệ Đặng Văn Long trấn thủ Gia Định chứ?
Vua Thái Đức suy nghĩ giây lâu rồi đáp:
- Đỗ Nhàn Trập vừa mới hàng ta. Trập là người Gia Định ắt hiểu rõ nhân văn địa lý vùng này, ta cho Trập trấn thủ Gia Định là hợp lý. Vả lại, Trập vừa mới hàng ta, ta trọng dụng Trập lại càng tỏ rõ đức độ của ta. Thế chẳng phải là nhất cứ lưỡng tiện hay sao?
Vua Thái Đức nói xong liền để hàng tướng là Đỗ Nhàn Trập trấn thủ đất Gia Định. Nguyễn Huệ không dám cãi đành theo Nguyễn Nhạc đem đại binh về Quy Nhơn!

Nói về chúa tôi Nguyễn Phúc Ánh nhờ cơn bão mà thoát khỏi tay nữ tướng Tây Sơn là Bùi Thị Xuân chạy ra đảo Phủ Quốc. Hay tin vua Thái Đức và Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ rút đại binh về, Lê Văn Quân bàn:
- Nay anh em Nhạc, Huệ đã rút đại binh về Quy Nhơn, để hàng tướng là Đỗ Nhàn Trập trấn thủ đã Gia Định. Ta nên thừa cơ hồi này hưng binh khôi phục đất Gia Định.
Ánh buồn rầu hỏi:
- Nay ta ở đây chỉ có ngươi và Trương Tấn Bửu cùng mấy tên quân. Còn các tướng Nguyễn Nghi, Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương, Hồ Văn Lân không biết đang lẩn trốn nơi nào thì làm sao hội quân mà khôi phục đất Gia Định?
Quân hiến kế:
- Nay Chúa thượng nên viết chiếu chỉ mời mọi người đem quân vào Gia Định. Các tướng của ta hiện đang lẩn trốn nghe người ấy có mệnh của chúa ta hội tàn quân về theo thì có thể chiếm lại Gia Định.
Ánh hỏi ngay:
- Người ấy là ai?
Quân đáp:
- Ngươi này tên là Chu Văn Tiếp, quê ở huyện Phù Ly phủ Quy Nhơn. Lúc Nguyễn Nhạc làm loạn ở Tây Sơn, Tiếp mộ quân ở núi Bô Chinh Sơn kéo vào cứu quan trấn thủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên, chẳng may thua trận, anh của Tiếp là Châu Đoan Chữ tử trận. Tiếp bèn đem quân về đóng ở núi Trà Lang phủ Phú Yên. Sau Nguyễn Huệ lại đem quân vào Phú Yên đánh lão tướng Tống Phước Hiệp. Tiếp lại cứu được con Tống lão tướng quân là Tống Viết Phước. Trận ấy chẳng may em Tiếp là Châu Đoan Hãn lại bị tướng Tây Sơn là Phan Văn Lân giết chết. Chu Văn Tiếp có thù sâu với giặc Tây Sơn. Hiện Chu Văn Tiếp còn hơn ngàn quân ở núi Trà Lang giữa lòng đất địch mà vẫn giữ vững núi ấy thật đáng là danh tướng. Nay Chúa thượng nên viết mật chiếu triệu Chu Văn Tiếp vào Gia Định mới mong khôi phục cơ đồ.
Phúc Ánh nghe lại liền viết mật thư sai người ý tâm phúc đi đường bằng lên ra Phú Yên đến núi Trà Lang trao cho Chu Văn Tiếp.

ooo


Phần Nguyễn Huệ dẫn quân Tây Sơn đến ngoài khơi cửa Cần Giờ, nhìn vào núi Cấp thấy khói bốc lên nghi ngút, Huệ cười bảo:
- Lại đốt lửa báo hiệu trên núi Cấp rồi phục binh ở Thất Kỳ Giang như cũ chớ gì!
Nói rồi Huệ hạ lệnh:
- Đặng Văn Long và Đặng Xuân Bảo đem ba mươi đại thuyền và ba ngàn quân vào cửa Hàm Luông theo sông Tiền Giang tiến đánh Trường Đồn chặn đường Nguyễn Phúc Ánh từ Sài Côn chạy về Hà Tiên.
Hai tướng Long và Bảo lãnh lệnh đi ngay. Huệ lại tuốt gươm chỉ vào cửa Cần Giờ bảo:
- Trương Văn Đa lãnh ấn tiên phong, lệnh toàn quân tiến đánh Sài Côn.
Quân Tây Sơn hùng dũng tiến lên!
Vào đến cửa Cần Giờ bỗng gặp thuyền quân Nguyễn do Châu Đoan Chân tiến ra. Hai bên giáp chiến, vừa mới giao phong Châu Đoan Chân hô quân tháo lui. Nguyễn Huệ thấy vậy cười bảo:
- Lại giả thua dụ ta vào trận mai phục như lần trước chứ gì! Truyền đánh trống thu binh!
Nguyễn Lữ nghi ngại hỏi:
- Nay là mùa khô, gió chướng từ bờ thổi ra, quá ta nghịch gió. Nếu tiến binh ngộ nhỡ Chu Văn Tiếp đánh hoả công thì làm thế nào? Bởi thế anh mới đánh trống thu binh chớ gì?
Nghe Lữ nói xong, Nguyễn Huệ gật đầu rồi bảo:
- Truyền lệnh dừng quân lập thuỷ trại!

Quân Tây Sơn neo thuyền ngoài cửa Cần Giờ nghỉ ngơi. Đến lúc nước lớn đầy, gió bấc chướng vẫn lồng lộng từ đất liền thổi ra. Nguyễn Lữ nói:
- Nếu lúc này ta tiến quân ắt giờ này vào Thất Kỳ Giang đã bị Chu Văn Tiếp dùng hoả công mà đốt mất rồi!
Nguyễn Huệ chỉ mỉm cười mà không nói. Nước triều lên đầy rồi lại chảy, bấy giờ Nguyễn Huệ lại truyền lệnh tiến quân. Nguyễn Lữ bèn can:
- Nước vẫn còn đang chảy, gió bấc chướng thổi ra; phần tiến quân ngược nước gió, phần thì địch thuận lợi dùng hoả công, sao anh lại tiến binh vào lúc này?
Nguyễn Huệ cười đáp:
- Chu Văn Tiếp thì biết gì mà đánh hoả công. Vả lại nếu nói gió bấc chướng sợ giặc đánh hoả công chẳng lẽ lại rút quân về? Cứ truyền lệnh ta lập tức tiến quân.
Nguyễn Lữ vội can.
- Xin anh đừng nên khinh địch. Hãy sai quân do thám rồi tiến binh cũng chẳng muộn nào.
Nguyễn Huệ gạt đi báo:
- Địch tình ta đã nắm rõ thì cần gì do thám.
Nói rồi không nghe lời Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ bảo quân:
- Ngược nước chèo đổ mồ hôi. Gặp giặc, không đổ máu mã giặc phải tan!
Quân sĩ Tây Sơn không rõ vì cớ gì, nhưng vốn tin phục Nguyễn Huệ nên gắng sức mà chèo!


° ° °

Nói về Chu Văn Tiếp thấy Châu Đoan Chân giả thua chạy về mà không thấy quân Tây Sơn đuổi theo. Tiếp bảo Chu Đoan Chân rằng:
- Bây giờ nước đang lớn hãy cho quân nghỉ ngơi, đợi sang ngày mai nước chảy sẽ đem quân ra dụ địch.
Nước lên đến trưa thì đầy; đầy xong lại chảy; chảy đến chạng vạng tối thì đã gần cạn kiệt. Trong bóng đêm chập choạng, bỗng thấy thuyền Tây Sơn lừ lừ tiến vào trận Thất Kỳ Giang, Chu Văn Tiếp ngạc nhiên nói:
- Nguyễn Huệ sao lại tiến binh vào lúc nước đang chảy. Chắc hẳn sợ mai phục nên ngược nước để đánh bất ngờ chăng?
Đoạn Tiếp ngước nhìn trời, trời còn gió bấc chướng, cúi nhìn nước, nước vẫn chạy riu riu. Tiếp mừng rỡ nói:
- Quân Tây Sơn cậy mạnh, Nguyễn Huệ cậy có tài mà khinh địch, phen này ắt bại dưới tay ta.
Đoạn Tiếp truyền lệnh:
- Quân bay thuận nước thuận gió phóng hoả bẻ cỏ đẩy ra giữa sông!
Quân Gia Miêu lập tức thi hành! Một ngàn bè cỏ cất cao ngọn lửa rần rật trôi về phía quân Tây Sơn. Nguyễn Lữ thất kinh than:
- Em đã can rồi mà anh còn khinh địch. Giờ giặc đánh hoả công phải chạy cho mau.
Nguyễn Huệ lại cười nói:
- Chu Văn Tiếp làm nội ứng cho ta đốt thuyền quân Nguyễn đây. Em chớ lo!
Lúc ấy gió bấc chướng mỗi lúc một giảm dần, bè lửa trôi chầm chậm về phía quân Tây Sơn. Nguyễn Huệ vỗ tay cười ngất bảo quân:
- Truyền đánh trống thu binh!
Chu Văn Tiếp thấy quân Tây Sơn lui, liền xua đại binh theo sau bè lửa mà tiến. Tiếp bảo các tướng:
- Chờ bè lửa đốt thuyền giặc xong, hay tiến truy bắt Nguyễn Huệ.

Tiếp vừa dứt lời trời bỗng nhiên lặng gió, mặt sông phẳng lặng như tờ. Bấy giờ nước thuỷ triều lại lớn lên, bè lửa theo nước trôi ngược về thuyền quân Nguyễn.
Chu Văn Tiếp con đang bàng hoàng ngơ ngác, bỗng trời nổi gió nồm nam từ biển thổi vào rất mạnh. Ngàn bè lửa thuận gió, thuận nước chạy ào ào về đốt thuyền quân Nguyễn. Chu Văn Tiếp ở phía sau thấy vậy ngửa mặt lên trời hét rằng:
- Trời hại ta rồi! Trời hại ta rồi!
Hét xong vội vã cùng các tướng quay thuyền mà chạy.

Thuyền quân Nguyễn Gia Miêu bị đốt cháy tan tác, khói lửa ngút trời. Bên quân Tây Sơn, Nguyễn Huệ bảo Nguyễn Lữ:
- Anh đã bảo Chu Văn Tiếp làm nội ứng cho ta đốt quân chúa Nguyễn giờ em đã thấy chưa?
Nói rồi Huệ truyền quân thúc trống tiến binh. Các tướng Nguyễn tan hàng mạnh ai nấy chạy trốn, Chu Văn Tiếp được em mình là Châu Đoan Chân hộ vệ chạy về hướng Sài Côn. Bỗng thấy một chiếc thuyền Tây Sơn giong buồm đuổi theo, một viên tướng Tây Sơn đứng trên mui thuyền quát lớn:
- Tướng giặc kia chớ chạy, có ta là phò mã Trương Văn Đa đến đây!
Chu Đoan Chân bảo Tiếp:
- Anh hãy dùng thuyền nhỏ chèo vào bờ lên đất liền mà chạy. Em ở đây chặn giặc rồi sẽ theo sau.
Tiếp nghe lời liền cùng Phạm Văn Sở xuống thuyền nhỏ vào bờ. Đến nơi, nhìn ra sông thấy Chu Đoan Chân đã bị Trương Văn Đa đâm chết, Tiếp khóc lớn rằng:
- Ba anh em của ta đều bị giặc Tây Sơn giết chết. Thù này không trả được, Chu Văn Tiếp ta đâu đáng là người. Đoạn Chân em ới, trời đổi gió đã hại chết em rồi!

Tiếp đau lòng than khóc mãi. Phạm Văn Sở can gián một hồi, Tiếp gạt nước mắt bảo:
- Quân Tây Sơn đi thuyền tiến đánh Sài Côn, ta đi đường bộ về thành không kịp. Vậy phải làm sao?
Phạm Văn Sở hiến kế:
- Theo tôi ta nên băng rừng đến thành Trấn Biên hợp cùng Hồ Văn Lân và Nguyễn Nghi đem binh và chiếm lại Sài Côn.
Chu Văn Tiếp khen phải liền tất tả đi ngay. Đến đoạn đường lớn giữa thành Sài Côn và Trấn Biên, bỗng thấy vài tên quân từ hướng Bắc chạy vào, Tiếp chặn lại hỏi:
- Các ngươi là quân ở đâu lại chạy đến đây?
Tên quân đáp:
- Chúng tôi ở dưới trướng tướng quân Nguyễn Nghi và Hồ Văn Lân. Thành Trấn Biên bị tướng Tây Sơn là Đặng Xuân Phong và Đỗ Nhàn Trập chiếm mất, hai tướng Nguyễn Nghi và Hồ Văn Lân không biết trốn tránh nơi nào.
Lại thấy vài tên quân từ hướng Nam chạy đến bảo:
- Thưa đại Đô đốc, Nguyễn Huệ đem quân đánh thành Sài Côn, các tướng giữ đồn Thảo Câu, Thị Nghè, Bến Nghé, Dác Ngư đều tử trận. Chúa thượng đã bỏ thành Sài Côn chạy vào Trường Đồn.
Chu Văn Tiếp thất kinh than:
- Quân ta bại trận khắp nơi. Thành Sài Côn và Trấn Biên đều mặt về tay giặc, ta biết phải đi đâu?
Phạm Văn Sở lại hiến kế:
- Tôi có nghe ngày trước chúa ta và vua nước Tiêm La kết giao sẽ cứu giúp nhau khi hoạn nạn. Nay ta hãy tìm đường sang Tiêm quốc. Xin Tiêm vương đem thuỷ quân sang Hà Tiên đến Trường Đồn hợp cùng Chúa thượng đánh Tây Sơn.
Chu Văn Tiếp khen phải liền cùng Phạm Văn Sở và vài mươi tên quân băng rừng nhằm hướng Tây tìm đường sang Tiêm quốc.
Nói về Nguyễn Phúc Ánh trong thành Sài Côn nghe quân ở đồn Thị Nghè về báo:
- Thưa Chúa thượng, Nguyễn Huệ đánh tan quân của Chu nguyên soái ở Thất Kỳ Giang. Chu nguyên soái chưa biết sống chết thế nào.

Nguyễn Huệ lại chia quân làm bốn cánh đánh bốn đôn Thảo Câu, Thị Nghè, Bến Nghé, Dác Ngư Tướng của ta giữ đồn Thị Nghè là Hồ Công Siêu tử trận.
Quân đồn Bến Nghé về báo:
- Thưa Chúa thượng, tướng quân giữ đồn Bé Nghé là Dương Công Trừng bị Nguyễn Lữ chém chết. Quân Tây Sơn đã chiếm lấy đồn.
Phúc Ánh con đang bàng hoàng, lại nghe quân đồn Dác Ngư về cấp bảo:
- Thưa Chúa thượng, tướng Tây Sơn là Lê Trung tiến đánh đồn Dác Ngư, tướng quân Nguyễn Văn Quý tử trận, hiện quân Tây Sơn đang ồ ạt tiến về thành Sài Côn.
Phúc Ánh hoảng hốt hối quân:
- Hai tướng Lê Văn Duyệt và Trương Tấn Bửu lãnh ba ngàn quân đi đoạn hậu. Mau mở cửa Nam thành chạy về cố thủ Trường Đồn.

Nguyễn Huệ và các tướng dẫn quân chiếm thành Sài Côn bỏ trống. Nguyễn Lữ hỏi Huệ:
- Trận Thất Kỳ Giang sao anh biết rằng Chu Văn Tiếp sẽ đánh hoả công mà lợi dụng sức gió đốt thuyền quân Nguyễn?
Huệ đáp:
- Nay là tháng hai ở Quy Nhơn là mùa xuân, mưa thuận gió hoà, khí hậu mát mẻ. Nhưng ở đất Gia Định lại là mùa nắng to khô ráo thì làm gì Chu Văn Tiếp lại không dùng hoả công mà đánh ta. Nên ta mới nói đùa cũng Nguyễn Lữ rằng Chu Văn Tiếp là nội ứng cho ta đốt thuyền quân chúa Nguyễn đấy.
Trương Văn Đa lại hỏi:
- Thúc phụ đã biết Chu Văn Tiếp dùng hoả công sao còn tiến quân? Nếu lúc đó trời không trở giờ có phải là quân ta đã bị đốt thành tro bụi rồi chăng.
Nguyễn Huệ cười to nói:
- Ấy là ta biết trước giờ đổi gió nên mới tiến binh, sao Văn Đa lại bảo là may gặp lúc trời đổi gió.
Trương Văn Đa và Lệ Trung đồng thanh hỏi:
- Làm cách nào thúc phụ biết trước giờ đổi gió?

Nguyễn Huệ liền treo trên vách một tờ lịch và nói:
- Các ngươi hãy nhìn cho rõ, sẽ biết giờ đổi gió.

Lịch viết rằng:
Tháng 2 và tháng 8 thuỷ triều là ngày: 03, 17, 29.
Tháng 3 và tháng 9 thuỷ triều là ngày: 13, 27
Tháng 4 và tháng 10 thủy triều là ngày: 11, 25
Tháng 5 và tháng 11 thuỷ triều là ngày: 09, 23
Tháng 10 và tháng chạp thuỷ triều là ngày: 07, 21
Tháng 7 và tháng giêng thuỷ triều là ngày: 05, 19

Nguyễn Lữ xem xong thắc mắc hỏi:
- Thuỷ triều là ngày gì? Sao biết được giờ đổi gió?
Huệ giải rằng:
- Đất Gia Định chỉ có hai mùa. Từ tháng ba để tháng tám là mùa mưa gió nồm Nam từ biển thổi vào. Từ tháng chín đến tháng hai là mùa khô gió bấc chướng từ đất thổi ra. Chu Văn Tiếp định lợi dụng mùa khô gió bấc chướng dùng hoả công đốt thuyền ta đó.
Nguyễn Lữ nôn nóng hỏi:
- Nhưng vì sao anh lại biết giờ đổi gió mà tương kế tựu kế đốt lại thuyền quân chúa Nguyễn?
Nguyễn Huệ chỉ vào tờ lịch đáp:
- Ngày thuỷ triều là ngày chuyển giao giữa hai con nước, mỗi tháng có hai con nước nên có hai ngày thuỷ triều. Riêng tháng hai và tháng tám lại có ở ngày thuỷ triều là ngày 3, ngày 17 và ngày 29. Con nước thứ ba mà ngày thuỷ triều là ngày 29 gọi là nước giao mùa. Gặp nước giao mùa gió bị ảnh hưởng của thuỷ triều, hệ nước chảy thì gió bấc chướng từ bờ thổi ra, hễ nước triều lên gió nồm Nam từ biển thổi vào. Ta chọn thời gian vào Cần Giờ lúc hạ tuần tháng hai, tức là nhằm con nước giao mùa. Ta lựa ngày nước phát lên xuống mạnh nhất trong con nước giao mùa mới tiến binh, vì ngày đó khi nước lên sẽ có gió nồm Nam. Bởi thế ta phải tiến quân vào lúc nước chảy, trời con bấc chướng, tất đến Thất Kỳ Giang khi nước sắp lên. Ấy là ta nhử Chu Văn Tiếp thấy cơn bấc chướng mới dùng hoả công. Tiếp phóng bè lửa xong, lúc sẩm tối nước thuỷ triều sẽ lớn lên, trời tất đổi gió nồm Nam quay lại đốt thuyền quản Gia Miêu. Bởi lúc sấm tối nước lên, lặng bấc trở nồm, nên dân vùng biển thường có câu vè rằng "Bắc lặng hôm, nồm lặng mai" đó. Đánh trận này ta đã tính trước cả sao lại bảo lá may gặp lúc trời trở gió!

Nghe Huệ nói xong, các tướng bấy giờ mới vỡ lẽ đồng thanh khen:
- Long Nhương đánh giặc liệu cả việc nắng mưa, nước gió, dụng binh thật quỷ thân cũng không tính trước. Chúng tôi xin bái phục.
Vừa lúc ấy quân do thám vào báo rằng:
- Thưa tướng quân, trấn thủ Bình Thuận là Đăng Xuân Phong và Đỗ Nhàn Trập đem quân đến chiếm Trấn Biên. Tướng Nguyễn là Nguyễn Nghi và Hồ Văn Lân thua binh bỏ trốn.
Nguyễn Huệ ra lệnh:
- Nguyễn Lữ lãnh hai ngàn binh ở lại giữ Sài Côn. Ta cũng Trương Văn Đa, Lê Trung đem bốn ngàn quân truy kích quân Nguyễn. Trận này phải bắt cho được Nguyễn Phúc Ánh. Giống cỏ gấu này không nhổ tận gốc cứ nảy ra hoài thật là đáng ghét.

Nói rồi Nguyễn Huệ liền đem quân đuổi theo Nguyễn Phúc Ánh.
Nói về Phúc Ánh dẫn quân chạy về đến Trường Đồn (Mỹ Tho), tướng giữ Trường Đồn là Mạc Thiên Tứ mở cổng thành đón vào. Vừa lúc ấy Nguyễn Huệ dẫn quân đuổi theo thấy Phúc Ánh đã vào thành bèn nói với Trương Văn Đa và Lê Trung:
- Trước khi vào cửa Cần Giờ ta đã sai Đặng Văn Long và Đặng Xuân Bảo vào cửa Hàm Luông theo sông Tiền Giang tiến đánh Trường Đồn, chắn đường rút binh của Nguyễn Phúc Ánh. Chúa Phúc Ánh đã sai tướng giỏi chắn cửa Hàm Luông, nên Long và Bảo chưa đến được nơi này. Vạy ta mau đánh lấy Trường Đồn rồi đem quân xuôi đồng Tiền Giang đánh vào sau lưng địch ở cửa Hàm Luông.
Nói rồi Nguyễn Huệ hạ lệnh tấn công Trường Đồn.
Quân Tây Sơn đặt đại bác bắn phá thành. Lê Văn Quân nói với Phúc Ánh rằng:
- Chúa thượng mau đem gia quyến theo Mạc Thiên Tứ lui về Hà Tiên. Thân cùng Lê Văn Duyệt, Trương Tấn Bửu thủ thành cản đường tiến quân của giặc.

Nguyễn Phúc Ánh nghe lời theo Mạc Thiên Tứ chạy về Hà Tiên, Lê Văn Quân lên mặt thành thúc quân cố sức chống trả. Một lúc sau thành vỡ, quân Tây Sơn tràn vào thành chém giết. Quân Nguyễn chết thôi không biết bao nhiêu mà kể, số còn lại lớp hàng, lớp quăng gươm giáo bỏ trốn. Lê Văn Quân, Lê Văn Duyệt, Trương Tấn Bửu vội vàng lên ngựa chạy về Hà Tiên theo Phúc Ánh.
Nguyễn Phúc Ánh về Hà Tiên vừa vào dinh phủ chưa kịp ngồi đã thấy Lê Văn Quân, Văn Duyệt, Tấn Bửu theo đến nơi. Người nào cũng mang thường tích trên mình, quần áo tả tơi mặt mày hốc hác. Ánh giật mình hỏi:
- Ta vừa mới đến đây, các khanh đã thua trận chạy về, quân Tây Sơn sao lấy được thành nhanh thế?
Lê Văn Quân quỳ thưa:
- Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ đích thân chỉ huy công thành rất dữ. Chúng thần không chống nổi, thành vỡ thua binh phải chạy thoát thân. Xin Chúa thượng trị tội.
Ánh đứng dậy và nói:
- Mất Trường Đồn thì quân của Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành ở Hàm Luông nguy mất. Các tướng mau thu thập tàn quân chỉnh đốn hàng ngũ theo ta tái chiếm Trường Đồn.
Ngô Tùng Châu bước ra nói:
- Xin Chúa thượng bình tâm. Quân ta ở trong thành, giặc từ xa kéo đến, ta còn không giữ nổi thành, huống gì quân ta nay mười phần còn một tướng sĩ đều mệt mỏi, thương tích đầy mình. Nếu bây giờ giặc đem quân đánh tới, thành Hà Tiên e rằng không giữ nổi nói gì đến việc tái chiếm Trường Đồn.
Phúc Ánh nghe xong ngồi xuống hỏi:
- Vậy nay ta nên chống giữ thế nào?
Tùng Châu đáp:
- Nguyễn Huệ vừa chiếm được Trường Đồn ắt là chuẩn bị đánh ta ở Hà Tiên, sớm muộn gì cũng kéo binh đến đây. Vậy Chúa hãy mau sai người lên mất báo cho Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Huỳnh Đức đang trấn giữ cửa Hàm Luông, kéo quân về đánh vào sau lưng Trường Đồn. Nếu lúc ấy Nguyễn Huệ kéo đại binh đến đánh Hà Tiên, thì Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành có thể chiếm lại Trường Đồn. Nếu Đức và Thành chiếm lại được Trường Đồn thì Nguyễn Huệ lại lâm vào thễ lưỡng đầu thọ địch. Khi ấy Nguyễn Huỳnh Đức từ Trường Đồn đánh tới, ta từ Hà Tiên đánh ra thế nào cũng phá được giặc.
Phúc Ánh khen:
- Ấy thật là diệu kế.


° ° °

Lúc ấy Nguyễn Huệ vào thành Trường Đồn, Lê Trung nói:
- Tôi xin đem quân đuổi theo Phúc Ánh đến Hà Tiên bắt Phúc Ánh về cho Long Nhương trị tội, cho tiết nòi cỏ gấu ấy đi!
Huệ bảo:
- Hà Tiên là thành trì cuối cùng của Phúc Ánh. Nếu ta đem quân đánh tới, Ánh chỉ con đường chạy ra biển mà thôi. Hiện Phúc Ánh như cả nằm trong chậu, ta muốn bắt lúc nào chẳng được, việc đánh Hà Tiên chẳng vội gì. Kế hoạch của ta là cho Đặng Văn Long và Đặng Xuân Bảo đánh chiếm Trường Đồn trước, chặn đường về Hà Tiên để sớm bắt được Phúc Ánh. Nhưng Lòng và Bảo vẫn chưa đến được nơi này ắt là Phúc Ánh đã cho tướng giỏi chặn Văn Long ở cửa Hàm Luông. Vậy Lê Trung hay lãnh hai ngàn tinh binh theo sông Tiền Giang ra cửa Hàm Luông dẫn vào sau lưng trại địch. Phá giặc ở Hàm Luông xong, Trung cùng Văn Long đem quân về đây hợp sức đánh Hà Tiên bắt Phúc Ánh cũng chẳng muộn gì!
Lê Trung lãnh mệnh đi ngay.



***
Chương 31

Cậy thế Tiêm La, Chu Văn Tiếp báo thù mà bỏ mạng
Mượn oai Long Nhương, Đặng Văn Long doạ giặc để cứu dân

Nói về Nguyễn Phúc Ánh, nhờ bão chạy thoát khỏi tay tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa ở đảo Côn Lôn, đang lênh đênh giữa biển bỗng thấy một chiếc tàu lớn tiến lại gần. Hoá ra đó là thuyền của giáo sĩ Bá Đa Lộc. Bá Đa Lộc đem chúa tôi Nguyễn Phúc Ánh lên tàu xong, nói:
- Từ ngày thoát khỏi tay con nữ tặc Bùi Thị Xuân ở Thất Kỳ Giang, thấy quân Tây Sơn mạnh quá ta bèn chạy về nước cầu cứu vua nước tôi giúp chúa khôi phục cơ đồ. Xin chúa hãy về đất liền ta sẽ bàn kỹ việc này.
Phúc Ánh bảo:
- Từ ngày chia tay với giáo sĩ ta phải chạy trốn ra đảo Côn Lôn gian nan cực khổ trăm bề. Sau Nguyễn Huệ rút binh về Quy Nhơn, nhờ các tướng dấy binh lấy lại đất Gia Định. Nào ngờ Nguyễn Huệ lại dẫn đại binh vào đánh quân ta tan tác cả. Nay ta không một mảnh đất dung thân biết phải về đâu?
Mạc Thiên Tứ nói:
- Trương Văn Đa bỏ đảo Phú Quốc đuổi theo ta đến đảo Côn Lôn. Vậy ta lại chạy về Phú Quốc ắt an toàn.
Bá Đa Lộc khen phải, cho tàu cập bến đảo Phú Quốc. Đến nơi tìm hang đá tạm trú xong, Ánh hỏi Bá Đa Lộc:
- Giáo sĩ cầu cứu vua nước ngài thế nào? Xin ngài mau phân tỏ.
Bá Đa Lộc đáp:
- Vua nước tôi đồng ý giúp chúa tàu đồng, súng ống lương thực và binh sĩ. Những khi lấy được nước rồi chúa phải để phố Hội An cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn được thuộc quyền cai trị của nước tôi, và chỉ cho người của nước tôi được độc quyền buôn bán và truyền đạo trên đất An Nam. Chẳng hay ý chúa thể nào?
Phước Ánh cả mừng đáp:
- Nếu lấy lại được nước đã mất, bấy nhiêu ấy nào có nghĩa gì? Ta xin viết giấy làm bằng nhờ giáo sĩ về tâu cùng vua của ngài mau đem binh sang giúp.
Phúc Ánh viết xong trao cho Bá Đa Lộc. Lộc lại nói:
- Đành rằng lòng chúa ngay thực, nhưng e vua tôi ngài rằng khi lấy lại nước rồi chưa nuốt lời thì là thế nào?
Ánh suy nghĩ giây lâu rồi đáp:
- Nay ta đã mất tất cả lấy gì cho vua của ngài là tin được! Hoạ chăng ta chỉ có một đứa con duy nhất lá Thế tử Cảnh mới vừa bốn tuổi. Nay ta cho Thế tử Cảnh sang ở với vua nước ngài để làm con tin. Vậy có được chăng?
Bá Đa Lộc cả mừng nói:
- Nếu được vậy vua tôi nhất định cho quân sang giúp.
Ánh năm tay Lộc bảo:
- Vậy ngài hay ra tàu nghỉ ngơi rồi định ngày về nước, tâu cùng vua nước ngài. Ta sẽ sửa soạn cho Thế tử Cảnh theo ngài sang nước Pháp Lang Sa.

Bá Đa Lộc đi rồi, Lê Văn Quân quỳ tâu:
- Thần xem Bá Đa Lộc không phải là người tốt, Chúa thượng nên khá đề phòng!
Ánh phật ý hỏi:
- Giáo sĩ Bá Đa Lộc sang nước ta giảng truyền đạo giáo, vì thương ta bị giặc Tây Sơn cướp nước, nên mới lặn lội thỉnh cầu vua nước Pháp Lang Sa sang giúp sao người lại bảo ông ấy không phải là người tốt?
Lê Văn Quân đáp:
- Thần thấy có hai điều đáng ngờ. Một là nếu Bá Đa Lộc không có lệnh của vua nước Pháp Lang Sa sao dám tự quyền đặt điều kiện trao đổi đất đai với ta? Hai là nếu Bá Đa Lộc chỉ vào Gia Định giảng truyền đạo giáo sao biết được phố Hội An và Đà Nẵng là nơi giàu có sầm uất nhất ở Đàng Trong mà đặt điều đánh đổi. Chính vì vậy mà thần ngờ rằng Bá Đa Lộc được lệnh vua nước Pháp Lang Sa cố ý dòm ngó nước ta.
Ánh nghiêm giọng hỏi:
- Nếu vậy thật thì sao?
Lê Văn Quân đáp:
- Xin chúa nói với Bá Đa Lộc rằng sau khi lấy lại nước, ta sẽ trả bằng vàng ngọc châu báu chứ đừng đánh đổi đất đai.
Ánh nén giận hỏi:
- Ngỡ như họ không chấp thuận thì sao?
Văn Quân nhẫn nại đáp:
- Thì ta tự lo lấy việc nước, không cần phải nhờ viện binh của họ.
Ánh gằn giọng rằng:
- Tự lo lấy làm sao! Nguyễn Huệ đã ba lần vào đánh Gia Định, hai chúa Thái Thượng vương và Tân chính vương phải chết. Ta ba lần trốn chui trốn nhủi hết nơi này sang nơi khác, còn các tướng phải bỏ thành mà chạy thoát thân. Văn thì Ngô Tùng Châu và Gia Định Tam Gia còn lẩn trốn ở Hà Tiên. Võ thì Nguyễn Huỳnh Đức là một trong Gia Định Tam Hùng bị Tây Sơn bắt sống, Ta thì cơm không có ăn, nước không có uống, may nhờ bão đánh đắm thuyền giặc hai lần mà thoát chết. Còn người đã có kế sách gì phá giặc hay chưa mà bảo rằng tự lo lấy?

Lê Văn Quân thấy chúa giận nhưng gắng gượng quỳ tâu:
- Thưa, Chúa thượng có chân mệnh Đế vương. Ở đảo Côn Lôn không có nước uống chúa cầu nước, trời liền cho nước, ấy là điềm được nước. Giặc đến đánh trời làm bão nhấn chìm thuyền. Lòng trời đã giúp chúa như thế, trước sau gì cũng lấy lại nước Nếu bây giờ đổi đất lấy viện binh Pháp Lang Sa, e người sau đàm tiếu rằng chúa tôi ta bán nước cầu vinh. Xin Chúa thượng xét lại.
Phúc Ánh xua tay bảo:
- Ngươi hãy ra ngoài cho ta suy nghĩ lại.
Lê Văn Quân đi rồi Ánh nghĩ thầm rằng: Thằng tướng già này lúc ở đảo Côn Lôn ta đặt tên trái bần là trái Thuỷ Liễu, thì bảo ta là tham vọng phụ phó. Nay ở đảo Phú Quốc lại bảo ta là bán nước cầu vinh, thật là quá quắt. Nếu ta không đang cần người phò tá nhất định giết chết không tha.
Vừa lúc ấy lại có quân vào báo rằng:
- Kính Chúa thượng, tướng quân Chu Văn Tiếp sau khi thua trận ở Thất Kỳ Giang chạy sang nước Tiêm La, nay Chu tướng quân sai người về nước tìm Chúa thượng dâng mật thư.
Phúc Ánh tiếp thư, xem xong bảo quân:
- Hãy mau đi mời Bá Đa Lộc đến chỗ ta bàn việc.

Bá Đa Lộc đến, Ánh hỏi:
- Nay một viên tướng của ta là Chu Văn Tiếp chạy sang Tiêm La cầu viện. Vua Tiêm La đã đồng ý cho quân sang giúp. Ta nghĩ đường về nước ngài xa xôi cách trở, mà nước Tiêm La lại ở gần bên, nên ta định sang gặp vua Tiêm La cầu viện trước để sớm dẹp giặc Tây Sơn khôi phục cơ đồ. Nếu việc không thành sẽ nhờ đến ngài, chẳng hay ý ngài thế nào?
Bá Đa Lộc đáp:
- Vậy xin Chúa thượng hãy kịp đi ngay. Tôi cùng theo chúa sang Tiêm La, xin vua Tiêm La cho lập giáo sớ để truyền đạo. Một là vì đất Gia Định đã bị quân Tây Sơn chiếm, tôi vì giúp chúa nên có thù với họ không thể đến nơi ấy được, hai là được ở gần chúa, nếu việc cầu viện vua Tiêm không thành, tôi sẽ lên đường về Pháp quốc cầu viện vua tôi.

Nói xong chúa tôi Nguyễn Phúc Ánh và giáo sĩ Bá Đa Lộc xuống thuyền sang nước Tiêm La, đến kinh đô Vọng Các (Băng Cốc).

Tiêm vương được tin sai người đi đón, rồi mời Phúc Ánh vào nội điện bày yến tiệc khoản đãi. Bỗng Chu Văn Tiếp ở ngoài chạy vào ôm chân Phúc Ánh mà khóc. Ánh động lòng ứa nước mắt, Tiếp vừa khóc vua nói:
- Thần được Chúa thượng trọng dụng phông là Bình Tây đại Đô đốc lại không chống nổi giặc, để nỗi chúa tôi mọi người thất lạc một nơi, ấy là tội của thần. Nhà thần có bốn anh em theo phò tá chúa, nay ba người đều bị giặc Tây Sơn đánh chết, Chúa thượng hãy cầu viện binh của Tiêm vương, thần xin đem ta quân đi trước. Trước là trả nợ nước sau là báo thù nhà cho tỏ chí khí của người trung nghĩa trượng phu.
Phúc Ánh đỡ Văn Tiếp dậy nói:
- Ta nhận được mật thư của khanh sang đây cũng vì việc ấy.
Tiêm vương thấy chúa tôi Phúc Ánh ôm nhau khóc, động lòng liền thuận ý viện binh.

Tiêm vương sai Chiêu Tăng làm đại tướng quân, Chiêu Sương làm tiên phong thống lĩnh ba vạn thuỷ quân và trăm chiến thuyền. Đạo quân này do Nguyễn Phúc Ánh và Chu Văn Tiếp đem một ngàn quân đích thân dẫn đường. Tiêm vương lại sai Sa Uyển và Lục Côn đem hai vạn quân bộ thẳng đường sang Chân Lạp họp với tướng Chân Lạp là Chiêu Thuỷ Biện rồi cùng tiến sang đường Châu Đốc đánh nước An Nam.


ooo

Mùa hạ năm Giáp Thìn (1784) niên hiệu Thái Đức thứ bảy, quân Tiêm La thuỷ bộ gồm năm vạn rầm rộ tiến sang làm cỏ đất Gia Định.

Lúc ấy ở thành Sài Côn, Trương Văn Đa nhắn tin cấp báo liền hỏi Đặng Văn Long:
- Nay quân Tiêm La năm vạn do Phúc Ánh đương hùng hổ tiến sang xâm lược nước ta. Theo tướng quân nên tiến thủ thế nào?
Long đáp:
- Hiện thành Sài Côn ta có năm ngàn quân, còn lại đều chia nhau giữ các nơi hiểm yếu ở Trường Đồn, Hà Tiên, Châu Đốc. Tính cả thẩy không đầy một vạn, e không thể nào chặn giặc ở biên cương được!
Trương Văn Đa hỏi:
- Trước khi về Quy Nhơn, thúc phụ có dặn rằng: Sông Tiền Giang là ranh giới, thành Trường Đồn là cửa ngõ của hai dinh Long Hồ và Phiên Trấn. Ý tướng quân muốn bảo rằng nên bỏ dinh Long Hổ hợp binh về cố thủ Trường Đồn để giữ Phiên Trấn, Sài Côn chăng?
Đặng Văn Long đáp:
- Trường tướng quân thật là tuổi trẻ tái cao. Ý của tôi chính là như vậy.
Nói rồi Đặng Văn Long và Trương Văn Đa vào Trường Đồn lập đón luỹ canh phòng cẩn mật, động thời sai quân mang lệnh cho quân các trấn Châu Đốc, Hà Tiên, Trấn Giang (Cần Thơ), Ba Thắt kíp bảo toàn lực lượng đem quân về hội ở Trường Đồn (Mỹ Tho).


Nói về thuỷ, quân Tiêm La tiến đến đâu quân Tây Sơn lui đến đấy.

Tiến một mạch đến Đông Khẩu gặp lúc trời tối liền dừng quân đóng trại.
Trong đại bản doanh Chiêu Tăng tự đắc nói với chúa tôi Nguyễn Phúc Ánh:
- Tôi nghe chúa Nguyễn vương nói rằng quân ta rất mạnh, thế mà quân ta tiến sang giặc chỉ lui mà không dám đánh, chẳng mấy chốc đã chiếm hết cả một vùng đất rộng lớn từ sông Tiền Giang trở vào. Chẳng qua là do chúa tôi Nguyễn vương không có người tài mà thôi chứ quân Tây Sơn đối với quân Tiêm ta thật là hữ danh vô thực.
Nói xong cả cười. Phúc Ánh can:
- Xin tướng quân đừng nên khinh địch. Ngươi Huệ đã đem đại binh về Quy Nhơn, chỉ để Trương Văn Đa và Đặng Văn Long trấn thủ đất Gia Định, quân chưa đầy một vạn nên Đặng Văn Long mới đổ quân cố thủ Trường Đồn chặn đường tiến quân của ta về Sài Côn. Ấy là quân Tây Sơn đã có kế sách phòng thủ để chờ Nguyễn Huệ đem đại binh vào rồi phản công lại ta. Vậy tướng quân nên kịp phá giặc Trường Đồn. Ta chiếm được Trường Đồn coi như đã chiếm xong toàn cõi Gia Định. Xin tướng quân hãy khá tiến binh.
Chiêu Tăng cười lớn nói:
- Nguyễn Huệ tài cán gì mà xem ra chúa sợ Huệ đến thế, hãy thư thả cho quân ta nghỉ ngơi dưỡng sức, chờ Nguyễn Huệ từ Quy Nhơn kéo vào bây giờ ta mới tiến đánh bắt hết cả, khỏi phải nhiều lần nhọc sức, thế chẳng hơn sao.

Chúa tôi Phúc Ánh thấy Chiêu Tăng không nghe lời mình, đành về doanh trại chờ quân Tiêm La muốn đánh lúc nào thì đánh chứ chẳng biết phải làm sao. Chiêu Tăng, Chiêu Sương thả quân hãm hiếp đàn bà con gái, cướp bóc vơ vét của cải dân lành, dân chúng phải bỏ làng mạc trốn vào bưng biền rừng rậm, tiếng oán thán vang dậy đất trời. Nguyễn Phúc Ánh nghe tin ấy liền sang doanh trại Chiêu Tăng nói:
- Thưa tướng quân, lẽ được thua là cốt ở lòng dân. Quân ta chỉ tiến một mạch chiếm được nửa đất Gia Định, quân Tây Sơn chỉ lui mà không dám phục binh chặn đường tiến binh của ta, vì sợ rằng nếu phục binh sẽ bị nhân dân tố giác. Nay tướng quân thả binh sĩ cướp bóc của dân, trong thì quân khinh nhờn binh pháp, ngoài thì trăm họ oán ghét, làm sao mà thắng giặc cho được. Xin tướng quân xét lại.

Chiêu Tăng bảo:
- Vậy tôi hỏi chúa, vua tôi sai tôi kéo năm vạn binh sang đây biết bao nhiêu là nhân mã, khí giới quân lương để được cái gì? Nếu chỉ để đưa chúa lên ngai vàng mà thôi, thì ai làm vua ở nước Nam này chẳng được, việc gì mà nước tôi phải nhọc sức? Binh pháp có nói làm tướng giỏi thưởng phạt phải nghiêm minh. Nay binh sĩ có công mà không thưởng thì sao cho họ hết lòng đánh giặc. Nếu không để quân ta cướp của dân, vậy nhà chúa lấy gì để nuôi quân và thường cho binh sĩ của ta đây.
Phúc Ánh nghe Chiêu Tăng nói càn như thế, đánh bấm bụng ra về than cùng các tướng:
- Quân Tiêm La ngày càng tàn ác, e rằng mà lòng dân thật bất lợi cho ta!
Lúc Nguyễn Phúc Ánh dẫn quân Tiêm La về nước, Ngô Tùng Châu và Gia Định Tam Gia là Ngô Nhơn Tĩnh, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định kéo đến theo phò. Nghe Phúc Ánh than thở, Ngô Tùng Châu bước ra thưa rằng:
- Nhân dân Gia Định vẫn một lòng chung với chúa. Cướp bóc của nhân dân là tội của quân Tiêm La, trăm họ có oán là oán quân Tiêm La cớ gì oán chúa được.
Lê Văn Quân bàn:
- Nếu ta cứ lệ thuộc quân Tiêm mãi ắt họ muốn làm gì thì làm. Nay quân của ta mộ được đã đến hai ngàn người, vậy thần xin đem thuỷ binh tiến đánh Trường Đồn, ắt Chiêu Tăng sẽ cho quân theo giúp, nhờ vậy mà quân Tiêm sẽ không được rảnh rang cướp bọc của nhân dân.
Ngô Tùng Châu hỏi:
- Hiện quân Tiêm La đang ham lợi mà quên nghĩa vụ lân bang. Vậy lấy gì làm chắc rằng họ sẽ cho quân theo giúp? Nếu họ không giúp thì hai ngàn quân của ta đi đánh Trường Đồn khác gì lấy trứng mà chọi đá. Nếu họ không giúp, ta lại không dám tiến quân Chiêu Tăng lại cười ta là nói khoác mà thôi.
Lê Văn Quân ung dung nói:
- Xin Chúa thượng hay sai người sang nói với Chiêu Tăng rằng ngày mai quân ta sẽ tiến về Trường Đồn đánh Tây Sơn. Nếu Chiêu Tăng không cử tướng theo giúp, Lê Văn Quân xin dâng đầu trước án.
Nguyễn Phúc Ánh nghĩ thầm rằng: Lê Văn Quân một lần bảo ta tham sang phụ khó, một lần bảo ta bán nước cầu vinh, ta đang muốn giết đi mà không có cớ gì. Nay ta nghe theo kế của nó, nếu đúng như thế thì ta đỡ mang tiếng với dân. Nhược bằng không thì ta đã giết được nó vậy. Nghĩ xong Ánh cả mừng nói:
- Được! Cứ ý theo lời Văn Quân mà làm. Nếu Chiêu Tăng không giúp, ta tất không thể tiến binh thì ta kẻ tội tướng quân tự ý làm để quân Tiếp không cười ta được. Khi ấy tướng quân có chết cũng đừng oán ta đấy nhé!
Lê Văn Quân đáp:
- Phận làm tôi tận trung vì chúa, chẳng dám oán hờn.
Nguyễn Phúc Ánh liền viết thư sai người sang doanh trại quân Tiêm báo cho Chiêu Tăng biết ngày mai sẽ xuất binh. Chiêu Sương bàn với Chiêu Tăng:
- Nay chúa tôi Nguyễn vương nóng lòng xuất binh, ngày mai họ tiến đánh Trường Đồn. Nguyễn Vương chỉ cơ hai ngàn quân trong tay, nếu để họ thua quân Tây Sơn mà chết hết thì lấy ai làm hướng đạo cho ta. Sau đó nếu quân Tây Sơn lại tiến đánh ta, ta không rành địa hình thì biết tiến thủ thế nào?
Chiêu Tăng cười bảo:
- Phúc Ánh chỉ giả vờ làm thế để buộc ta phải tiến đánh mà thôi, chứ làm gì dám mạo muội xua quân. Ta cứ án binh bất động cướp của chở về nước, xem thử ngày mai Phúc Ánh có dám tiến quân chăng?
Chiêu Tăng nói:
- Hiện vùng đất từ sông Tiền Giang trở vào quân ta vơ vét của cải chở về nước cũng đã hết. Vả lại Phúc Ánh vì sợ mang tiếng với dân e cùng đường liều lĩnh. Nếu chúa tôi Phúc Ánh chết cả thì ta không người hướng đạo cũng thật bất lợi. Vậy ngày mai tôi xin đem quân giúp Nguyễn vương tiến đánh Tây Sơn. Chiếm được đất mới ta có lợi mới, lại có ân với chúa tôi họ, chẳng phải là nhất cử, lưỡng tiện hay sao?
Chiêu Tăng khen phải, liền sai người sang báo cho Phúc Ánh ngày mai hội quân tiến đánh Tây Sơn.

Được tin, Phúc Ánh liền từ tay rót rượu thưởng Lê Văn Quân. Ánh nói:
- Lê tướng quân đám lấy cái chết bảo đảm bày kế hay cho chúa. Ly rượu này thưởng cho lòng trung của tướng quân.
Lê Văn Quân bưng rượu uống cạn. Ánh rót ly thứ hai nói:
- Ly rượu này thưởng cho tướng quân bày điệu kế khiến Chiêu Tăng phải chịu xuất binh đánh Tây Sơn.
Lê Văn Quân liền uống cạn. Ánh rót ly thứ ba nói:
- Nhờ kế của tướng quân nên muôn dân thoát cảnh bị quân Tiêm cướp bóc. Ly rượu nay ta thây mặt bá tánh cảm tạ Lê tướng quân.
Lê Văn Quân cần nốt ly thứ ba. Ánh lại truyền:
- Nay ta phong Chu Văn Tiếp làm Bình Tây đại Đô đốc, Lê Văn Quân làm phó tướng, chuẩn bị ngày mai hợp quân cùng Chiêu Tăng phá giặc.
Lúc bây giờ có một tên quân Nguyễn quê quán ở Hà Tiên bị quân Tiêm là hãm hiếp vợ mình đến chết nên đem lòng oán hận. Nhân biết được việc liên minh Tiêm, Nguyễn chuẩn bị đánh Tây Sơn, trong đem ấy tên quân bèn trốn sang doanh trại Tây Sơn ở đồn Trà Tân cách thành Trường Đồn hai mươi dặm bẩm báo.

Lúc ấy Đặng Văn Long và Trương Văn Đa đang thị sát đồn Trà Tân. Hay tin ấy Đặng Văn Long nói với Văn Đa:
- Tướng quân hãy sai Đô uý Đặng Văn Trấn về Quy Nhơn cấp báo cùng Hoàng thượng xin viện binh. Tôi và ông đem quân mai phục ở rách Mân Thít chờ giặc đến đó ra mà đánh để làm tiêu hao lực lượng và chặn đường tiến quân của địch.
Trương Văn Đa liền viết mật thư sai Đô uý Đặng Văn Trấn về Quy Nhơn cấp báo, Đặng Văn Trấn nói:
- Tôi thân làm tướng ngoài biên ải giặc đến chưa kịp đánh đã được lệnh tướng quân rút một mạch về đây. Nay hai tướng đã đến những tưởng được ra trận đánh giặc cứu dân bảo quốc, nào ngờ lại bị sai về Quy Nhơn đưa thư. Việc đưa thư thì thiếu chi người sao là sai tôi?
Văn Đa an ủi Đặng Văn Trấn rằng:
- Ta thưa biết lòng trung dũng của Đô uý cũng như toàn quân ta trước cảnh non sông đang bị giặc xăm lăng tàn phá. Nhưng ngoài việc đưa thư Đô uý còn phải trình bày tình hình chiến sĩ của quân ta và quân địch ở Gia Định. Nếu không phải Đô uý thì ai làm được việc này. Đại Long Nhương tướng quân kéo đại binh vào đây ông đi theo đánh giặc Tiêm nào có muộn gì?
Đặng Văn Trấn nghe xong vỡ lẽ liền lãnh thư đi ngay. Trong đem ấy Đặng Văn Long và Trương Văn Đa đem chiến thuyền mai phục ở các rạch nhỏ trên sông Mân Thít chờ quân Tiêm - Nguyễn.

Nói về quân Nguyễn do Chu Văn Tiếp và Lê Văn Quân thống lĩnh, được tướng Ngm là Thát Si Đa đem năm ngàn quân và năm mươi chiến thuyền đi sau phô trương thanh thế, liên quân Tiêm - Nguyễn ào ạt theo sông Tiền Giang tiến xuống. Vừa đến sống Mân Thít bỗng nghe pháo lệnh nổ vang, quân Tây Sơn dùng thuyền nhỏ xông ra. Bên phải Trương Văn Đa thống lĩnh, bên trái Đặng Văn Long chỉ huy đổ ra đánh rất hăng, tướng Tiêm La là Thát Si Đa trong thấy liền nói với tả hữu:
- Cứ để hai bên đánh nhau, đợi Tây Sơn để thuyền lớn xung trận bây giờ ta sẽ tiến binh.
Nói xong Thát Si Đa truyền quân dừng thuyền ở ngoài xa thị chiến. Khi ấy tướng Nguyễn là Chu Văn Tiếp nói với Lê Văn Quân:
- Ta đã lọt vào trận mai phục của giặc Tây Sơn, tôi và ông chia quân làm hai cánh chống đỡ. Lát nữa quân Tiêm trợ chiến ắt giặc phải tan.

Nói rồi Lê Văn Quân đón đánh Đặng Văn Long, Chu Văn Tiếp chặn Trương Văn Đa cự chiến. Hai bên đánh nhau dữ dội, quân Nguyễn thúc quân khua chiêng, quân Tây Sơn đốc binh nổi trống tiếng hò reo rền trời. Chu Văn Tiếp thấy tướng Tây Sơn là phò mã Trương Văn Đa tuổi còn rất trẻ mặt trắng môi son nghĩ thầm rằng, tháng con nít này thúc quân đánh hăng quá, nếu ta không giết nó e binh ta phải bại trận. Nghĩ xong bèn tiến lên áp sát thuyền Trương Văn Đa. Trương Văn Đa trông thấy thuyền quân Nguyễn có đề bốn chữ "Lương sơn tá quốc" lại có dải kỳ đề "Bình Tây đại Đô đốc", Đa nghĩ thầm rằng, ta nghe nói Chu Văn Tiếp khởi binh ở núi Trà Lương nên trương cờ "Lương sơn tá quốc". Tá quốc sao con rước giặc Tiêm La về giầy xéo non sông. Quân Tiêm La sang tàn hại dân ta, cũng do thằng bất tài tham công này gây ra. Phen nay ta quyết giết chết nó trừ hại cho dân. Nghĩ xong chờ thuyền Chu Văn Tiếp gần, Đa quát hỏi:
- Thằng giặc kia, mí có phải là Chu Văn Tiếp đó chăng?
Tiếp trấn mặt hét:
- Thằng con nít kia đã biết oai ta sao không xưng danh rồi chịu chết.
Đã nạt:
- Xưng danh với thằng cầu viện ngoại bang buôn dân bán nước như ngươi ta thật lấy làm xấu hổ. Nhưng ta e rằng lát nữa chết đi xuống âm phủ gặp anh em ngươi hỏi ngươi bị ai giết lại không biết đường trả lời thì cũng tội cho ngươi. Hay lắng tai mà nghe cho rõ, ta là Tây Sơn phò mã Trương Văn Đa mà quyết giết loại chó săn như ngươi đấy!

Chu Văn Tiếp nghe lời nhục mạ, khí uất xông lên. Lại nghe đánh xưng là phò mã Trương Văn Đa, Tiếp chợt nhớ mùa xuân năm trước khi dùng hoả công bị gió thổi ngược, em mình là Chu Đoan Chân cũng bị người xưng phò mã Trương Văn Đa giết chết. Không dằn được lửa hận, Tiếp hét vang vung đao nhảy qua thuyền địch. Văn Đa chờ Tiếp vừa đáp xuống sân thuyền liền đâm một thương nhằm giữa bụng. Đã rút thương, Tiếp tế nhào xuống nước. Bộ tướng của Tiếp là Phạm Văn Sở nghĩ thầm: Tướng Tây Sơn thằng nào cũng giỏ võ, đến thằng con nít này cũng múa thương như rồng bay phượng múa. Năm trước quân Pháp Lang Sa là Mạn Hòe bị Nguyễn Huệ đánh chết ở Thất Kỳ Giang ta có lấy được một cây súng dài. Để ta bắn xem nó có đỡ gạt được không?

Nói rồi lấy súng nạp đạn mà bắn. Trương Văn Đa trúng đạn bị thương, liền hối quân đánh trống thu binh. Nhờ vậy Phạm Văn Sở sai quân vớt được Chu Văn Tiếp lên thuyền. Khi ấy bên trái Đặng Văn Long thúc quân đánh rát quá, quân Nguyễn chết rất nhiều. Lê Văn Quân chống không nối lại chẳng thấy quân Tiêm La ứng chiến bèn truyền lui quân. Thát Si Đa đang ở xa thị chiến thấy thuyền Tây Sơn toàn là thuyền nhỏ mới truyền lệnh tiến quân cứu quân Nguyễn. Đặng Văn Long thấy tướng kỳ trên thuyền quân Tiêm, lại thấy một viên tướng đứng trên thuyền ấy, cạnh những thùng gỗ lớn. Đặng Văn Long nghĩ thầm, mấy thùng gõ kia chắc là thùng thuốc súng chăng? Nghĩ rồi rút tên lửa nhằm vào thùng ấy mà bắn. Tên lửa bắt thuốc súng cháy bùng lên, Thát Si Đa đứng gân đó bị lửa táp cháy vào phồng mình liền nhảy xuống sông. Chiếc soái thuyền của Thát Si Đa chạy lui. Quân Tiêm La vớt Thát Si Đa lên thuyền mình mẩy đều phồng hết cả, đau đớn rên la. Hai bên đều đánh trống thu binh.

Nhắc lại Phạm Văn Sở vớt Chu Văn Tiếp lên thuyền thấy mau loang đó cả vạt áo. Văn Sở liền cởi áo Chu Văn Tiếp, băng bó vết thương ở bụng Tiếp. Văn Sở lo lắng hỏi:
- Đại đô đốc thấy trong người thế nào?
Chu Văn Tiếp ngồi bắt dậy hét lên:
- Trời chưa cho ta bình Tây tặc hay sao?
Văn Tiếp hét to quá đến nỗi ruột lòi ra ngoài vết thương nơi bụng mà chết. Phạm Văn Sở ôm thây khóc mãi không thôi, rồi cùng Lê Văn Quân và Thát Si Đa lui binh về đại bản doanh ở Đông khâu (Sa Đéc).

Nói về tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa bị thương cùng Đặng Văn Long thu binh về đồn Trà Tân.
Đặng Văn Long bàn với Trương Văn Đa:
- Nay quân Tiêm - Nguyễn cả thuỷ lẫn bộ hùn binh năm vạn, quân ta ở đón Trà Tân này có mấy ngàn người. Vả lại tướng quân bị thương, theo tôi ta nên bỏ đồn Trà Tân lui về cố thủ Trường Đồn mới là thượng sách.
Trương Văn Đa vung tay hỏi:
- Tôi chỉ bị thương ở vai nào có hề hấn gì mà Đặng tướng quân phong ngại. Vả chăng giặc tiến ta lại lui, nếu bỏ đón Trà Tân, giặc lại tiến đánh Trường Đồn ta lui nữa hay sao?
Long ôn tồn nói:
- Trường Đồn thành cao hào sâu, quân Tiêm Nguyễn muốn đánh chỉ có hai con đường độc đạo mà thôi, một là đường bộ từ Trà Tân tiến xuống, hai là đường thuỷ theo sông Tiền Giang đánh tới. Trương tướng quân lãnh bộ binh về giữ Trường Đồn, tôi để thuỷ binh án ngữ sông Tiền Giang, thì giặc không ở gì đánh được. Nếu chúng đến đánh ta chỉ có chết chẳng có lùi. Nếu Trường Đồn mà mất, thành Sài Côn dinh Phiên Trấn không thể nào giữ nổi.
 
Bàn bạc xong Đặng Văn Long và Trương Văn Đa lệnh quân chuẩn bị quân trang để ngày mai bỏ đồn Trà Tân lui về cố thủ Trường Đồn. Chẳng ngờ dân chúng trong vùng hay tin đó, trong đêm ấy rủ nhau kéo đến đồn Trà Tân xin gặp quan trấn thủ. Đặng Văn Long và Trương Văn Đa nghe báo liền ra trước dân hỏi:
- Đang đêm các ngươi kéo đến đây có việc gì?
Một cụ già bước ra đáp:
- Quân Tiêm La đi đến đâu cũng tàn sát người già, con nít, hãm hiếp đàn bà con gái, cướp bóc của cải dân lành. Nay tướng quân định bỏ đồn mà đi, thì quân Tiêm kéo đến chúng tôi ắt là phải chết. Xin tướng quân hãy ở lại đánh giặc. Nhân dân chúng tôi già trẻ lớn bé xin tình nguyện làm lính đánh quân Tiêm La.
Dân chúng đồng thanh hô vang:
- Xin tướng quân ở lại đánh giặc! Xin tướng quân ở lại đánh giặc!
Chờ dân chúng lắng im, Đặng Văn Long ứa nước mắt nói:
- Nguyễn Phúc Ánh rước giặc Tiêm La về tàn hạ dân ta. Hiện binh của chúng đông hơn ta gấp bội, đồn Trà Tân lại trống trải không thể giữ được lâu dài nên ta định lui về cố thủ Trường Đồn, chờ Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đem đại binh vào sẽ đánh đuổi chúng đi. Xin bá tánh hiểu cho chúng tôi không phải là sợ giặc, chỉ tránh thế mạnh giặc lúc đầu đề bảo toàn lực lượng mà thôi.
Dân cũng nói:
- Nếu tướng rút quân về Trường Đồn, dân chúng tôi đành phải bỏ xóm làng theo về thành Trường Đồn lánh nạn vậy.
Nói rồi dân chúng về nhà thu dọn hành ly, già trẻ lớn bé gồng gánh đều dìu nhau chạy về thành Trường Đồn. Trương Văn Đa nói với Đặng Văn Long rằng:
- Nay dân chúng bỏ làng mạc theo quân ta, vậy tôi và ông phải tạm thời ở lại trấn thủ Trà Tân cho khi dân chúng đến nơi rồi ta sẽ rút binh sau.
Đặng Văn Long gật đầu bảo:
- Sáng ngày mai quân Tiêm - Nguyễn sẽ tiến đánh ta, ắt đêm nay chúng sẽ cho quân do thám đến gần đồn dò xét. Vậy ta dùng kế nghi binh, giặc tạm thời sẽ không dám tiến quân.
Trương Văn Đa hỏi:
- Sao tướng quân dám chắc rằng ngày mai chúng sẽ tiến đánh ta?
Văn Long trầm ngâm đáp:
- Chu Văn Tiếp bị tướng quân đâm chết, Thát Si Đa bị tôi đốt cháy khắp mình, Chiêu Tăng tất nổi giận mà đánh báo thù. Ngặt vì đêm nay nước thuỷ triều đang lớn, chúng tiến xuống sẽ ngược dòng nước chảy. Rạng sáng ngày mai nhân lúc nước rút chúng sẽ xuôi dòng tiến đánh quân ta. Ngay bây giờ ta cứ làm như vậy... như vậy... Nguyễn Phúc Ánh ắt sợ mà khuyên Chiêu Tăng án binh bất động dò xét thực hư khi ấy nhân dân quanh vùng đã về đến Trường Đồn rồi. Bấy giờ ta có rút binh cũng chẳng muộn gì.
Trương Văn Đa khen:
- Long Nhương tướng quân thật là sang suốt mới để Đặng tướng quân ở lại cùng tôi trấn đất Gia Định.
Nói xong Trương Văn Đa đến các doanh trại bộ binh. Đặng Văn Long xuống nơi thuỷ trại. Hai người bảo quân sĩ đồng thanh họ lớn: Long Nhương tướng quân đã đến, quân Tiêm - Nguyễn ắt phải tán. Long Nhương tướng quân đã đến, quân Tiêm - Nguyễn ắt phải tàn.
Trong đem tĩnh mịch tiếng hô vang dội xa hàng mấy dặm.

Nói về Nguyễn Phúc Ánh ở Đông Khẩu nghe tin quân bại trận, Đô đốc Chu Văn Tiếp bỏ mạng, Thát Si Đa bị thương bỏng nặng. Phúc Ánh khóc Tiếp rằng:
- Thương thay Chu Văn Tiếp, khi thì từ Phú Yên vào Gia Định giúp chúa, khi thì lặn lội sang Tiếm quốc viện binh. Nhà có bốn anh em đều vì ta mà chết cả. Ôi thương thay Chu Văn Tiếp!
Khóc rồi sai quân mai táng trọng thể. Chiêu Tăng thấy Thát Si Đa bị bỏng khắp mình nổi giận quát rằng:
- Lũ giặc có Tây Sơn dám đốt tướng của ta. Nay ta sai Chiêu Tăng đem một vạn thuỷ binh tiến đánh thuỷ trại của giặc, và Lục Côn, Sa Uyển đem một vạn bộ binh tiến đánh đồn Trà Tân. Vậy phiền chúa hạ cho tướng theo dẫn đường.
Phúc Ánh mừng rỡ nói:
- Tướng quân tiến đánh Tây Sơn là may cho ta lắm, việc dẫn dường nào có khó gì.
Nói xong Ánh bảo tướng của mình rằng:
- Nay ta phong Lê Văn Quân thay Chu Văn Tiếp làm Bình Tây đại đô đốc, dẫn đường bình thuỷ đánh Tây Sơn. Phong Lê Văn Duyệt làm tả quân đô đốc dẫn đường binh bộ đánh Trà Tân.
Phúc Ánh và Chiêu Tăng phân công đâu đó xong xuôi chờ ngày mai xuất kích.

Rạng sáng hôm sau quân Tiêm - Nguyễn, thuỷ bộ hai đạo hàng ngũ chỉnh tề chờ có nước xuống sẽ xuất quân. Bỗng quân do thám hớt hải về báo rằng:
- Thưa Chúa thượng, quân Tây Sơn trong đồn Trà Tân và thuỷ trại trên sông Tiền Giang đồng hô vang rằng: Long Nhương tướng quân đã đến, quân Tiêm - Nguyễn ắt phải tan. Chúng thần nghe thấy vội về báo cùng Chúa thượng được rõ.
Phúc Ánh giật mình:
- Nay Nguyễn Huệ đã đem binh vào đến Trà Tân, ắt là có phòng bị. Theo ý ta nên dồn binh để xem thực lực của Huệ thế nào rồi xuất binh tiến đánh cũng chẳng muộn gì.
Chiêu Tăng cau mày bảo:
- Lúc ta chưa muốn tiến binh thì chúa hối thúc để đến nỗi tướng của ta bị cháy bỏng khắp mình. Nay ta muốn đánh báo thù thì chúa lại ngăn trở là ý là sao? Thì ra là chúa sợ Nguyễn Huệ đến thế ư?
Ánh chống chế:
- Chẳng phải là ta sợ Nguyễn Huệ không đã tiến binh. Nhưng binh pháp có câu: Biết người biết ta trăm trận trăm thăng. Quân Tây Sơn có Nguyễn Huệ thật là kiết hiệt đa mưu túc trí, dụng binh rất lạ không ai có thể lường trước được. Nhớ năm xưa sông Lại Dương hắn bày mưu đốt lửa ngăn sông, chỉ dùng có năm ngàn quân tiêu diệt ba vạn quân ta do Tôn Thất Hương thống lĩnh. Rồi ở thành Phú Yên hắn cũng chỉ dùng năm ngàn binh lập kế nghi binh đánh tan hai vạn quân ta do Tống Phước Hiệp chỉ huy. Sau đó hắn ba lần đem quân vào Gia Định, lần đấu bắt sống hai chúa Thái Thượng vương và Tân chính vương, lần thứ hai đốt cháy tàu quân Phá Lang Sa sang cầu viện cho ta, lần thứ ba đợt thuyền Chu Văn Tiếp ở Thất Kỳ Giang. Hắn lại biết trước ta thế nào cũng chạy ra Phú Quốc mới sai tướng phục sẵn nơi đảo này, ta chạy thoát sang đảo Côn Lôn tướng của hắn là Trương Văn Đa, đem chiến thuyền vậy đảo. May nhờ trời giúp cho, nổi gió đánh đắm gần hết thuyền giặc nên ta mới thoát chết sang cầu viện Tiêm vương. Nay hắn lại kéo đại binh vào đây ta không thể không đề phòng. Xin tướng quân nghĩ lại.

Chiêu Tăng nghe Ánh nói xong bực mình bảo:
- Truyền lệnh ta bãi binh. Sai quân do thám tình hình quân địch xem sao rồi sẽ liệu.
Nói xong Chiêu Tăng quày quả ra về đại bản doanh. Bên doanh trại Tây Sơn, Trương Văn Đa nghe tin ấy khen Đặng Văn Long:
- Quá đúng như tướng quân dự đoán, quân Tiêm - Nguyễn không dám tiến binh. Đặng tướng quân thật liệu việc hơn người.
Văn Long nhún nhường nói:
- Trương tướng quân khen quá lời, tôi nào có tài cán gì. Chẳng qua ấy là nhờ uy danh của Long Nhương tướng quân mà thôi.
Nói xong Trương Văn Đa và Đặng Văn Long bỏ đồn Trà Tân đem binh lui về giữ Trường Đồn.


***
Chương 32

Bùi Thị Xuân bắn tên mắng Nguyễn Vương
Nguyễn Long Nhương sai sứ hoà Tiêm quốc

Nhắc lại Đô đốc Đặng Văn Trấn vâng lệnh Trương Văn Đa về Quy Nhơn cấp báo cùng vua Thái Đức.
Vua Thái Đức liền sai quân nổi trống thiết triều. Đủ mặt bá quan văn võ, vua nói:
- Đô uý Đặng Văn Trấn từ Gia Định về báo rằng: Phúc Ánh cầu viện nước Tiêm La. Hiện quân Tiêm La đem thuỷ bộ binh năm vạn tiến sang. Phò mã Trương Văn Đa và đại Đô đốc Đặng Văn Long lui binh về giữ Trường Đồn. Nghe giặc Tiêm La sát hại đồng bào, hãm hiếp phụ nữ, vơ vét của cải, ta thật thương lương dân gặp nạn, giận lũ giặc tham tàn. Vậy nay ta lệnh cho Long Nhương Nguyễn Huệ làm chánh tướng, Tiết chế Nguyễn Lữ làm phó tướng được trọn quyền điều động binh lương. Huệ và Lữ hãy lập tức xuất binh đuổi ngoại xâm ra khỏi biên thuỳ, cứu muôn dân thoát vòng nước lửa, chớ phụ lòng mong đợi của ta.
Các tưởng cũng quỳ tâu:
- Xin Bệ hạ an lòng, chúng thần nguyện một lòng quét sạch quân Tiêm ra ngoài bờ cõi, bắt Phúc Ánh về cho Bệ hạ trị tội bán nước buôn dân.
Bỗng Vũ Văn Dũng từ ngoài chạy vào nói lớn:
- Xin Bệ hạ cho thần vào Nam đánh quân Tiêm - Nguyễn chứ thần làm võ tướng mấy năm nay trấn thủ Quảng Nam, không được đánh đấm gì cả, thật là chân ngứa ngáy vô cùng.

Nguyễn Huệ bước ra hỏi:
- Tam sư để Vũ Văn Dũng đang cùng Võ Đình Tú trấn thủ Quảng Nam vì sao lại có mặt ở kinh thành?
Dùng vung tay đáp:
- Tôi từ Quảng Nam về đây bẩm báo tình hình biên ải. Từ ngày Phạm Ngô Cầu vào trấn thủ Phú Xuân, Thuận Hoá, lấy đèo Hải Vân làm ranh giới án binh bất động, không có ý dòm ngó đất Quảng Nam ta. Nào ngờ mới về đến đây nghe Phúc Ánh cõng rắn cắn gà nhà, rước giặc Tiêm La giày xéo nước ta. Tôi nghe như lửa đốt trong lòng. Xin Bệ hạ và đại sư huynh cho tòng chinh vào Nam đánh giặc.

Nguyễn Huệ ôn tồn khuyên Vũ Văn Dũng:
- Quân Trịnh ở Phú Xuân, Thuận Hoá còn hai vạn binh tinh nhuệ đang chờ có dịp xâm phạm đất Quảng Nam ta, thế nên việc trấn thủ đất Quảng Nam phòng quân Trịnh, ngoài Vũ Văn Dũng và Võ Đình Tú có ai làm nổi. Dũng nên nhớ rằng có yên được mặt Bắc thì mới đánh thắng mặt Nam. Vậy Văn Dũng hãy trở về cùng Võ Đình Tú trấn thủ Quảng Nam, ấy là đã lập nên công lớn đó.
Vũ Văn Dũng vâng lệnh lui ra.

Hôm sau Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh hai trăm chiến thuyền và hai vạn tinh binh cùng các tướng Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc, Đặng Văn Trấn đi đường bể vào Nam đánh giặc. Vua Thái Đức đích thân ra đến tận cửa Thị Nại tiễn đưa. Vua tự tay rót rượu cho Huệ và Lữ rồi nói:
- Hai em đã vì anh xông pha nơi hòn tên mũi đạn chinh Nam phạt Bắc. Chuyến này vào Gia Định hãy gắng công mau báo tiệp khải hoàn cho an lòng anh.
Huệ và Lữ cùng nâng chén uống cạn. Huệ nói:
- Xin hoàng huynh chớ nên lo lắng. Em đi đánh giặc phen này xin hứa sẽ quay về ăn tết Ất Tỵ.
Vua Thái Đức nghi ngờ hỏi:
- Nay đã là ngày hai mươi tháng mười một năm Giáp Thìn, chỉ còn bốn mươi ngày nữa là đến tết Ất Tỵ. Tính thời gian đi ra đi vào mắt hết hai mươi ngày, chỉ còn hai mươi ngày em nghĩ răng có thể phá được giặc sao?
Huệ đáp giọng tự tin:
- Khi hay tin Đặng Văn Long và Trương Văn Đa đem toàn quân về cố thủ Trường Đồn thì kế sách đánh giặc em đều tính toán cả rồi. Quân ta vào phen này chỉ đánh một trận là tiêu diệt xong quân Tiêm - Nguyễn mà thôi. Xin hoàng huynh chớ ngại.

Nói rồi bái biệt toan bước xuống thuyền, bỗng nghe tiếng gọi lớn:
- Long Nhương tướng quân xin dừng bước!
Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra nữ đô đốc Bùi Thị Xuân đang lướt ngựa xông đến. Bùi Thị Xuân nhảy xuống ngựa thi lễ với vua Thái Đức. Xuân nói:
- Xin Bệ hạ cho thần được tòng chinh vào Nam đánh giặc Tiêm - Nguyễn.
Vua bảo:
- Ta đã trao quyền điều binh khiển tướng cho Nguyễn Huệ, việc này do Huệ định đoạt vậy.
Nguyễn Huệ nói đùa cùng Xuân rằng:
- Ta vào Nam chuyến này tinh binh hai vạn, hổ tướng có thừa. Cô Xuân là nữ nhi anh kiệt thiên hạ đểu biết tiếng còn xin theo chinh chiến làm gì?
Bùi Thị Xuân nét mặt đau đáu đáp:
- Chẳng phải tôi muốn làm nữ nhi anh kiệt. Nhưng Nguyễn Phúc Ánh rước quân Tiêm La về tàn hại dân ta là do tội của tôi. Nay tôi xin theo tướng quân đánh giặc, quyết trừ Phúc Ánh mới lấy công chuộc tội của tôi được. Nếu Long Nhương không cho tôi quyết quỳ mãi nơi này.

Nguyễn Huệ hỏi Trần Quang Diệu:
- Có Xuân đã quyết lòng như thế, ý Trần Quang Diệu thế nào?
- Năm xưa phu nhân tôi hai lần truy đuổi đều để cho Phúc Ánh chạy thoát, nên trong lòng áy náy tự cho rằng mình có tội. Nay Phúc Ánh rước giặc Tiêm La tàn hại dân lành, phu nhân tôi lại càng bị lương tâm cắn rứt. Xin tướng quân hay cho phu nhân tôi tòng chinh ắt trong lòng sẽ thảnh thơi hơn. Ấy là tướng quân đã ban ơn cho vợ chồng tới đó. (Nguyên lần tha Nguyễn Phúc Ánh, Bùi Thị Xuân giấu cả chống mình là Trần Quang Diệu nên Diệu chỉ biết có hai lần, một lần Phúc Ánh chui xuống giường sản phụ mà trốn, một lần ở cửa Hàm Luông, Phúc Ánh nhờ bão thoát thân).

Nghe Diệu nói xong, Nguyễn Huệ vui vẻ cho Bùi Thị Xuân tòng chinh. Xuân mừng rỡ khóc lậy tạ ơn. Nguyễn Huệ cảm động hỏi:
- Ta đã bao lần nói với cô Xuân rằng: xưa nay có sách binh thu nào nói không bắt được tướng giặc là có tội bao giờ. Sao cô lại cố chấp tự làm khổ mình như vậy!
Bùi Thị Xuân chỉ gạt lệ không đáp.

Nguyễn Huệ hạ lệnh xuất binh. Hai trăm chiến thuyền và hai vạn quân Tây Sơn giong buồm ra cửa bể thẳng đường Nam tiến. Nguyễn Huệ đi rồi thái giám Vũ Tâm Can tâu với vua Thái Đức:
- Long Nhương tướng quân vào Nam phen này đem theo các tướng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân đều là tay chân của Long Nhương cả. Điều ấy không đáng ngại hay sao?
Vua Thái Đức giận lắm nạt:
- Giặc Tiêm La đang hại dân ta, nếu không phải là Nguyễn Huệ cầm quân thì liệu ai có thể phá được năm vạn binh lang sói ấy. Trong lúc bá quan tướng sĩ đều vì nước vì dân, xả thân chinh chiến ngoài biên ải ngươi lại bướng lời gièm xiểm, thật là đáng chết.
Nói xong vua truyền quân lôi Vũ Tâm Can ra chém. Võ sĩ lôi Vũ Tâm Can đi xong, vua Thái Đức nghĩ lại rằng: Năm xưa cha nó là Huyền khê Vũ Tất Thận vì uống rượu phạm vào quân lệnh bị ta xử tội trước dân ở ấp Tây Sơn mà phải tự vẫn mà chết. Từ ấy ta tự nguyện nuôi nó như con. Nay nếu giết đi chẳng hoá ra ta là người bất nhân bất nghĩa hay sao?
Nghĩ xong liền hối quân xá tội cho Vũ Tâm Can, rồi quay về ngự điện. Vũ Tâm Can thoát chết về nhà hỏi mẹ:
- Những lần trước con nói gièm rằng, nên đề phòng Nguyễn Huệ đem nanh vuốt ra ngoài biên ải thì Nguyễn Nhạc giật mình liền cho người tam phủ theo để chia binh quyền với Nguyễn Huệ. Sao lần na Nguyễn Nhạc lại toan giết chết con?
Vũ mẫu đáp:
- Nguyễn Nhạc có tính hay đố kỵ người tài đức hơn mình, nhưng lại rất thương kẻ cùng đường cô thế. Lần này Nguyễn Nhạc chỉ nghĩ đến việc nhân dân Gia Định bị quân Tiêm La tàn hại, mà quên việc Nguyễn Huệ lấn quyền. Lần sau nếu muốn báo thù cha, còn phải lựa thời mà nói.
Vũ Tâm Can thưa:
- Con xin vâng lời mẹ dậy! Nguyễn Nhạc những ngày khởi binh ở Tây Sơn Thượng nhờ cha con đem hết gia đình của cải theo giúp. Cha con chỉ vì phạm tội uống rượu mà phải bị Nguyễn Nhạc xử tội chết. Con thề sẽ phá tan có nghiệp của anh em Nhạc, Huệ báo thù cha mới thoả lòng căm hận.

Nói về Nguyễn Huệ đem hai vạn binh vào Nam lần này Huệ không vào cửa Cần Giờ lên thành Sài Côn mà cho chiến thuyền vào cửa biển Hàm Luông theo sông Tiền Giang tiến vào thành Trường Đồn. Phò mã Trương Văn Đa và Đô đốc Đặng Văn Long hay tin tự trói mình ra đón Nguyễn Huệ. Trương Văn Đa quỳ thưa:
- Quân Tiêm sang xâm lược nước ta. Cháu và đại đô đốc Đặng Văn Long không chống nổi phải để toàn quân về cố thủ Trường Đồn, bỏ hết một nữa đất đai Gia Định về tay giặc. Xin thúc phụ trị tội!
Nguyễn Huệ sai quân mở trói cho hai tướng rồi an ủi:
- Tránh thế mạnh của địch lúc ban đầu, bảo toàn lực lượng quân ta lui về giữ nơi hiểm yếu, ấy thật là thượng sách. Lần trước rút binh về Quy Nhơn ta đã để Đặng Văn Long ở lại giúp Trương Văn Đa trấn thủ đất Gia Định, vậy kế này có phải của Đặng Văn Long chăng?
Trương Văn Đa đáp:
- Thưa thúc phụ, kế này chính là do Đặng đô đốc bày ra.
Nguyễn Huệ hạ lệnh:
- Trương Văn Đa đã lập nên công lớn giết chết thằng bán nước Chu Văn Tiếp, vả lại Đa đang bị thương và ta lệnh cho ngươi quay về trấn thủ thành Sài Côn để dưỡng thương - Đoạn quay sang Đặng Văn Long, Huệ nói - Đặng Văn Long quay về thành Trường Đồn trấn thủ. Các tướng sĩ không được nghĩ ngợi theo ta tiến lên đồn Trà Tân đánh quân Tiêm - Nguyễn.
Đặng Văn Long can rằng:
- Quân ta đi đường xa mới đến ắt có phần mỏi mệt. Quân Tiêm - Nguyễn đóng một nơi an nhàn mạnh khỏe, lấy quân mệt đi đánh quân khỏe e rằng bất lợi. Xin đại huynh xét lại.
Huệ cười đáp:
- Ta hẹn với hoàng huynh về Quy Nhơn ăn tết Ất Tỵ, mà này đã là mùng một tháng chạp! Ta gấp rút đem quân tiến đánh là muốn phô trương thanh thế quân ta và xem thực lực của giặc mà thôi. Ta đâu dại đem quân mình vào chỗ chết. Tứ sư đệ chớ lo!
Nói rồi không nghe lời Văn Long, Huệ lệnh quân thừa lúc nước thuỷ triều đang lớn thẳng tiến về đồn Trà Tân.


Nơi đại bản doanh Tiêm - Nguyễn, quân do thám về báo cùng Nguyễn Phúc Ánh và Chiêu Tăng.
- Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đang tiến đánh quân ta.
Phúc Ánh giật mình nói với Chiêu Tăng:
- Quân Tây Sơn chủ động tấn công trước chắc là Nguyễn Huệ đã đem đại binh vào đến nên chúng mới dám to gan như vậy.
Nói rồi Ánh liền cùng Chiêu Tăng đích thân ra ngoài thuỷ trại xem xét. Đến nơi thấy từ xa thuyền Tây Sơn lớp lớp, ào ào lướt sóng tiến về phía quân mình, lại thấy chiếc soái thuyền dẫn đầu đoàn quân Tây Sơn trương cờ đề "Long Nhương đại tướng quân", Phúc Ánh lại giật mình nói với Chiêu Tăng:
- Xin tướng quân hay lệnh quân sĩ giữ vững đoạn trái, dùng thuỷ trại và đồn Trà Tân làm thế ỷ giốc với nhau. Nếu quân Tây Sơn tiến đánh thuỷ trại, thì đại bác trên đồn Trà Tân bắn xuống giặc ắt phải lui.
Chiêu Tăng nhếch mép cười bảo:
- Việc gì mà chúa lại sợ Huệ đến thế. Lần trước Đặng Văn Long giả danh cho quân sĩ họ lên rằng: "Long Nhương tướng quân đến", khiến chúa sợ bóng sợ gió không dám tiến binh, nên Đặng Văn Long mới lui về Trường Đồn được an toàn. Rồi khi quân do thám của ta về bảo rằng giặc Tây Sơn ở đồn Trà Tân về cố thủ Trường Đồn thì chúa lại báo rằng: "E Nguyễn Huệ dùng kế không thành". Lần hồi mãi đến nay mới chiếm lấy Trà Tân bỏ trống. Ấy thật là chúa vì sợ, thấy gà hoá cuốc làm chậm bước tiến của quân ta mà thôi.
Phúc Ánh xấu hổ chẳng biết trả lời thế nào. Chiêu Tăng lại nói tiếp:
- Nay trời đã xế chiều xuất quân không tiện, ta cứ án binh phòng thủ xem Nguyễn Huệ làm gì được ta nào.
Chiêu Tăng vừa nói xong đã thấy chiến thuyền Tây Sơn tiến sắt thuỷ trại.


Nguyễn Huệ đứng trên soái thuyền hạ lệnh tiến công. Quân Tây Sơn bắn đại bác ầm ầm vào thuỷ trại quân Tiêm - Nguyễn. Chiêu Tăng phất cờ hiệu, đại bác trên đồn Trà Tân bắn xuống và đại bác trong thuỷ trại quân Tiêm bắn ra. Chiến thuyền nhỏ quân Tây Sơn trúng đạn vỡ mất vài chiếc. Nguyễn Huệ liền hô quân lui ra khỏi tầm đại bác. Huệ bảo các tướng:
- Quân Tiêm rất đông và mạnh, thuyền và súng đại bác của chúng chẳng kém quân ta. Chúng lại lấy thuỷ trại dưới sông Tiền Giang và bộ binh trên đồn Trà Tân làm thế ỷ giốc với nhau. Nếu chúng không ra đánh, ta thật khó mà thủ thắng. Phải làm sao dụ chúng ra khỏi trại mà tiêu diệt mới xong.
Nguyễn Văn Tuyết vểnh râu nói:
- Để tôi bảo quân sĩ gọi thằng bán nước ra mà chửi xem thử nó có chịu ra đánh hay chăng?
Nói xong Văn Tuyết bảo quân đồng thanh hô lên rằng:
- Thằng bán nước Phúc Ánh, có giỏi thì ra mà đánh với ta! Thằng bán nước Phúc Ánh, có giỏi thì ra mà đánh với ta!

Trong doanh trại, nghe quân Tây Sơn chửi, Phúc Ánh nói với các tướng:
- Cứ án binh bất động, lát nữa nước triều rút, chúng cũng sẽ rút theo.
Quân Tây Sơn chửi mãi mà quân Tiêm - Nguyễn vẫn không ra. Trời tối nước triệu rút, Nguyễn Huệ truyền lệnh thu binh. Khi quân lui về đến nửa đường từ Trà Tân đến Trường Đồn, lòng sông bắt đầu mở rộng chừng vài dặm, Huệ bảo:
- Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Lộc, hai người hãy lãnh ba ngàn quân và ba chục chiếc đại thuyền lập thuỷ trại giăng ngang sống cố thủ nơi này. Hễ sáng thuỷ triều lên thì đem binh đến trại địch khiêu chiến. Đến khi thuỷ triều rút thì lại lui về đây. Nếu giặc đem đại binh tiến đánh thì lập tức lui quân về Trường Đồn. Khi chưa có lệnh ta cứ như vậy mà làm.
Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Văn Tuyết vâng lệnh đem chiến thuyền giăng ngang sông lập thuỷ trại.

Nguyễn Huệ lại tiếp tục đem chiến thuyền lui về Trường Đồn. Đến đoạn sông có một nhánh sông nhỏ đâm ngang nơi tả ngạn, lòng sông lại mà rộng hơn, giữa sông nổi lên một cù lao dài chừng mấy dặm. Huệ hỏi các tướng:
- Các tướng có biết sông và cù lao này tên gọi là gì chăng?
Đô uý Đặng Văn Trấn thưa:
- Nhánh sông nhỏ này tên gọi là sông Rạch Gầm. Cù lao này là cù lao Thới Sơn.
Huệ lại hỏi:
- Các ngươi có biết vì sao ta quân tâm đến đoạn sông này chăng?
Các tướng đều đáp:
- Chúng tôi không được biết! Xin Long Nhương giải cho!
Huệ trỏ tay xuống sông nói lớn:
- Nay là mùng một tháng chạp. Các ngươi hãy nhớ lấy lời ta, ngày mùng chín tháng chạp ta sẽ giết giặc ở đoạn sông này!
Nguyễn Lữ hỏi:
- Em không hiểu vì sao lại là ngày mùng chín. Xin anh cắt nghĩa rõ hơn?
Huệ nhíu mày, vầng trán đầy nếp nhăn rồi chậm rãi nói:
- Đợi chín ngày nữa tháng giặc rồi anh sẽ giải.
Nói xong Nguyễn Huệ xuôi về Trường Đồn lập đã bản doanh.

Hôm sau trời vừa hửng sáng nước thuỷ triều lên mạnh, Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Lộc lại đem chiến thuyền đến Trà Tân khua chiêng trống inh ỏi. Quân Tiêm - Nguyễn vẫn cố thủ không ra đánh. Quân Tây Sơn tiến đến gần lại bị súng đại bác trên đồn Trà Tân bắn xuống phải lui ra. Tuyết và Lộc lại bảo quân gọi tên Phúc Ánh mà chửi. Quân Tây Sơn hét vang:
- Thằng Phúc Ánh bán nước buôn dân, mau ra đã chịu chết!
Chửi mãi đến lúc nước triều rút chảy quân Tây Sơn phải kéo nhau về. Lộc bảo Tuyết:
- Quân Tiêm - Nguyễn chỉ thủ mà không đánh. Ta cứ tiến lên rồi lại lui về thật hoài công vô ích.
Văn Tuyết nhăn nhó nói:
- Long Nhương cần đến ta chưa có lệnh cứ như vậy mà làm. Ngày mai lại khiêu chiến nữa xem sao.
Lộc bảo:
- Đêm nay ta sai người về bẩm báo cùng Long Nhương xem người có kế gì chăng?
Nói rồi sai quân mang thư về Trường Đồn dâng Nguyễn Huệ. Huệ xem xong cười bảo:
- Tuyết và Lộc thấy giặc cố thủ không ra đánh nóng ruột xin lệnh tấn công. Quân bay quay về bảo đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc cứ y lời ta dặn mà làm. Nếu trái lệnh chém đầu.

Bùi Thị Xuân bước ra thưa:
- Xin Long Nhương cho tôi ngày mai theo đô đốc Tuyết và Lộc ra trận. Tôi có kế dụ Nguyễn Phúc Ánh phải ra đánh.
Huệ lắc đầu bảo:
- Phúc Ánh nghe ta đến đây, dù gan trời cùng chẳng dám xuất quân.
Bùi Thị Xuân hỏi:
- Nếu tôi khích được Phúc Ánh ra trận thì Long Nhương tính thế nào?
Huệ cả cười đáp:
- Nếu được thế ta nhường quyền điều bình khiển tướng cho có Xuân. Nhược bằng không từ giờ về sau ta sai đâu thì phải y lệnh không được xin xỏ gì cả!
Xuân cương quyết nói:
- Xin dượng rễ chớ có quên lời, phen này dượng rễ ắt là phải thua cuộc rồi.

Sáng ngày thứ ba, Bùi Thị Xuân theo Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Lộc ra trận. Đến thuỷ trại quân Tiêm - Nguyễn thấy soái thuyền Phúc Ánh từ xa, Bùi Thị Xuân quấn một phong thư quanh thân tên rồi nhằm thuyền Phúc Ánh mà bắn. Lúc ấy Lê Văn Quân đứng trên mui thuyền bắt được tên thư bèn giở ra xem. Thư viết rằng:

"Nay đô đốc Tây Sơn là Bùi Thị Xuân gửi Nguyễn vương Phúc Ánh.
Năm xưa Chúa ta hát được hai chúa Thái Thượng vương và Tân chính vương ở cửa Hàm Luông. Ta đuổi theo bắt được mẹ con ngươi. Thương mẹ và em ngươi làm phận đàn bà, lại thấy ngươi là thằng con nít nên ta mới tha chết cho ngươi; Ngờ đâu ngày trước ngươi quỳ lạy dưới gấu quần của ta nay lại giở thói hèn hạ ấy quỳ lạy Tiêm La rước giặc về tàn hại dân lành. Ta bảo ngươi, nay ta định đây quyết bắt ngươi để chuộc tội ngày xưa thả cho thằng tiểu nhân đê hèn bán nước cầu vinh. Ngươi hãy bảo quân Tiêm La đem binh thuyền ra giữa chiến trường huyết chiến một phen, đừng chui rúc trong hàng như loài chim chuột, thân nhi nữ khuê môn bất xuất như ta cũng lấy làm xấu hổ lắm thay!
Lê Văn Quân xem xong rồi đem vào dâng lên Phúc Ánh, Phúc Ánh giở thư ra đọc xong xé nát thư, đỏ mặt nói:
- Con tiện tỳ này ngày trước đuổi ta ở Hàm Luông, nhờ bão nên ta và ngươi cùng Trương Tấn Bửu mới chạy thoát. Nay Nguyễn Huệ thấy ta cố thủ không ra đánh, mới sai Bùi Thị Xuân đặt điều nói bậy để khích ta mà thôi.
Phúc Ánh nói xong xua tay ra hiệu cho Lê Văn Quân ra ngoài. Quân đi xong Ánh nghĩ thầm: Việc Bùi Thị Xuân tha chết cho ta chỉ có ba mẹ con ta biết. Nay thêm Lê Văn Quân, nữa là người thứ tư.
Bùi Thị Xuân bắn tên đứa thư cho Phúc Ánh xong, chờ mãi vẫn không thấy quân Tiêm - Nguyễn ra đánh bèn sai quân gào lên: "Nguyễn Phúc Ánh ra mà lậy, nữ đô đốc sẽ tha chết cho".

Trong doanh trại quân Tiêm - Là, Chiêu Tăng nghe vậy nói với thủ hạ:
- Quân Tây Sơn đã ba ngày liền kêu tên Phúc Ánh chửi mắng mà Phúc Ánh vẫn không xin ta ra đánh chứng tỏ Phúc Ánh sợ Nguyễn Huệ đến dường nào.
Chiêu Sương hỏi:
- Kế sách đánh Tây Sơn tướng quân như thế nào?
Chiêu Tăng đáp:
- Quân Tây Sơn mới tới khí thế đang hăng, ngả nào cũng ra khiêu chiến. Ta cứ án binh bất động, lau ngày chúng nản lòng ắt sinh lười nhác, khi ấy ta thừa cơ tiến đánh tất phải thắng.

Ngoài sông Tiền Giang quân Tây Sơn chửi mãi đến lúc nước rút lại kéo nhau về. Bùi Thị Xuân về Trường Đồn yết kiến Nguyễn Huệ, nói:
- Tôi dùng mọi cách để khiêu khích, Phúc Ánh vẫn cố thủ không ra đánh.
Nguyễn Huệ cả cười bảo:
- Con người của Phúc Ánh dám cam tâm lậy lục ngoại bang về tàn hại dân nước mình, thì chửi như nào mà không chịu được, có chửi mắng thế nào cùng vô ích mà thôi!
Nói rồi Nguyễn Huệ gọi tên quân đến bảo:
- Ngươi mau tới thuỷ trại đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc truyền lệnh ta: Bắt đầu từ ngày mai án binh bất động canh phòng cẩn mật không phải đến trại địch khiêu chiến nữa.
Quân lãnh lệnh đi ngay. Huệ lại hỏi:
- Nay ta muốn giảng hoà với quân Tiêm La, Phan Văn Lân có thể vì ta đi sứ được chăng?
Phan Văn Lân bước ra hỏi lại Nguyễn Huệ:
- Tôi thân làm võ tướng gặp giặc thì đánh, sao Long Nhương lại sai tôi đi sứ?
Huệ cười hỏi:
- Văn Lân có can trường của võ tướng những lại có vóc dáng của một thứ sinh, ắt Chiêu Tăng không nghi ngờ rằng ta sai tướng sang do thám địch tình. Văn Lân lại không làm được việc này sao?
Phan Văn Lân đáp:
- Nếu là tướng lệnh, há tôi lại sợ chúng hay sao!
Huệ cả mừng nói:
- Hay lắm! Vậy Văn Long hãy kíp sang doanh trại Tiêm La gặp Chiêu Tăng nói như vậy... như vậy... Chiêu Tăng ắt sẽ trúng kế của ta. Nhất định ngày mùng chín hắn sẽ đem binh tiến đánh.

Nơi về Chiêu Tăng, ngày hôm sau không thấy quân Tây Sơn đến khiêu chiến, liền mời Phúc Ánh đến nói:
- Nguyễn Huệ vừa kéo binh đến đây, ba ngày liền cho quân khiêu chiến, hôm nay lại không thấy để chẳng biết là có ý gì?
Phúc Ánh chưa kịp đáp xảy quân vào báo:
- Thưa đại tướng quân, có sử giả quân Tây Sơn xin vào ra mắt.
Chiêu Tăng hỏi:
- Sứ giả Tây Sơn xin vào gặp ta hay gặp chúa Nguyễn vương?
Tên quân đáp:
- Sứ giả nằng nặc đòi gặp riêng đại tướng quân.
Chiêu Tăng bảo Phúc Ánh:
- Phiền chúa hãy tạm lánh mặt để tôi tiếp sứ xem Nguyễn Huệ muốn gì.
Ánh liền đến nắp sau bức bình phòng, Chiêu Tăng cho gọi sử giả vào. Phan Văn Lân vào tới, Chiêu Tăng nạt thị oai:
- Tên học trò kia không sợ chết sao mà dám vào đồn đây gặp đại soái?
Phan Văn Lân điềm nhiên đáp:
- Long Nhương tướng quân tôi vì sợ chết nên mà sai tôi đến đây gặp đại soái xin giảng hoà.
Chiêu Tăng cười to nói:
- Nguyễn Huệ to gan dám phạm oai trời, ba ngày liền cho quân khiêu chiến chửi mắng suốt ngày. Nay thấy không thắng nổi quân ta mới giảng hoà chăng?
Văn Lân đáp:
- Quân Tây Sơn tôi chỉ kêu Phúc Ánh mà chửi chứ đâu phạm đến oai trời. Nay Long Nhương tướng quân sai tôi đến đây thưa với đại soái rằng: Việc của chúa Nguyễn Phúc Ánh và vua Tây Sơn là việc của nước tôi. Vua tôi với Tiêm Vương vốn không thù oán việc gì đại soái phải gây cuộc đại chiến cho tổn hại sinh linh. Nếu đại soái bằng lòng rút binh về nước để người nước tôi tự giải quyết lấy chuyện riêng thì sau khi an bình, vua nước tôi theo lệ hằng năm nộp cống. Ấy chẳng phải là được lợi cả đôi bên sao?
Nghe Văn Lân nói xong, Chiêu Tăng giả vờ ngẫm nghĩ rồi nói:
- Lời ông cũng hữu lý. Vậy phiền ông hãy về trước thưa cùng Long Nhương tướng quân chờ ta suy nghĩ lại rồi sẽ sai sứ sang bàn bạc với Long Nhương sau.

Nói rồi Chiêu Tăng ân cần sai quân tiễn đưa Phan Văn Lân ra về. Nguyễn Phúc Ánh từ sau bình phong bước ra lo lắng nói:
- Xin tướng quân chớ nghe lời dối trá của Nguyễn Huệ. Năm xưa hắn làm loạn ở đất Tây Sơn lấy danh nghĩa là đánh đổ Quốc phó Trương Phúc Loan, tôn phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương. Vậy mà về sau bắt được Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Huệ liền giết chết. Đến như việc cả thiên hạ đều biết họ còn trơ mặt, thì một lời hứa suông đã lấy gì làm chắc. Nay tướng quân lui binh về nước bỏ mặc tôi, nếu sau này Nguyễn Huệ nuốt lời, tướng quân lại một lần nữa đem binh sang hỏi tội hay sao? Khi ấy chúa tôi của Ánh này không còn nữa thì tướng quân lấy danh nghĩa gì để động binh. Và lấy ai dẫn đường cho tướng quân đánh Tây Sơn?
Nghe Phúc Ánh nói xong. Chiêu Tăng cười to bảo:
- Việc gì mà chúa phải hoảng lên như thế? Đời nào ta nghe lời Nguyễn Huệ rút binh. Nay Nguyễn Huệ thấy ta hùng mạnh liệu không thắng nổi mà phải xin hoà. Ta giả vờ ưng thuận làm kế hoãn binh rồi bàn với chúa xem có kế gì phá giặc hay chăng?
Phúc Ánh đáp:
- Tôi thật tình xin lỗi vì đã hiểu lầm ý tốt cứ tướng quân. Theo tôi tướng quân cứ giả vờ hoà cùng Nguyễn Huệ, hẹn ngày rút binh về nước, Nguyễn Huệ ắt lơ đễnh việc phòng bị, khi ấy ta bất ngờ đem thuỷ bộ binh hai đạo cũng tiến đánh tất phải phá được Nguyễn Huệ.
Chiêu Tăng vỗ tay nói:
- Ý của ta cũng như ý chúa vậy. Phen này phải phá tan giặc Tây Sơn để Nguyễn Huệ biết tài thao lược của ta.
Nói rồi Chiêu Tăng bèn sai tướng là Chiêu Thuỷ Biện sang doanh trại Tây Sơn gặp Nguyễn Huệ nói chuyện giảng hoà. Thấy sứ Tiêm La đến, Nguyễn Huệ và mừng rỡ sai quân bày yến tiệc tiếp đãi rất trọng hậu. Chiêu Thuỷ Biện nói:
- Nay đại tướng quân sai tôi sang đây nói với tướng quân, xin hẹn ngày rút binh về nước. Sau khi dẹp được Phúc Ánh, xin tướng quân chớ quên lời nộp cống hàng năm.
Huệ hỏi Chiêu Thuỷ Biện:
- Vậy Chiêu tướng quân định bao giờ sẽ rút binh về?
Biện đáp:
- Nay là ngày mùng năm tháng chạp, đại tướng quân tôi xin hẹn đến ngày mươi lăm sẽ rút binh.

Nghe Biển nói xong, Nguyễn Huệ cười thầm trong bụng, sai người tiễn sứ ra về. Chiêu Thuỷ Biện đi rồi, Nguyễn Huệ tủm tỉm cười mãi. Nguyễn Lữ hỏi:
- Vì cớ gì anh cười mãi thế?
Huệ vẫn cười vui vẻ đáp:
- Đúng như ta dự đoán, Chiêu Tăng hẹn mười lăm sẽ rút binh, ắt trong đêm mùng chín chúng sẽ tiến binh đánh ta. Phen này ta quyết tiêu diệt năm vạn quân Tiêm La, trả thù cho dân ta mới hả dạ. Nguyễn Lữ lại hỏi:
- Vì sao anh lại quyết đoán rằng chúng sẽ tiến đánh vào đem mùng chín?
Các tướng đồng thanh hỏi:
- Phải! Vì sao tướng quân đoán chắc là ngày ấy?
- Đến hôm ấy các em sẽ rõ vì sao chúng sẽ tiến quân đánh ta vào đem mùng chín. Khi ấy ta sẽ phục binh ở đoạn sông Rạch Gầm và cù lao Thới Sơn tiêu diệt quân Tiêm - Nguyễn.

Nói xong Nguyễn Huệ cùng các tướng xuống thuyền đi thị sát trên sông Tiền Giang. Đến thuỷ trại đô đốc Lộc và Tuyết, Huệ bảo hai tướng rằng:
- Bắt đầu từ ngày nay trở đi Tuyết và Lộc cứ làm như vậy... như vậy... Đêm mùng chín Chiêu Tăng và Phúc Ánh sẽ đem thuyền tiến đánh. Hai tướng vờ như bị đánh bất ngờ giả thua mà chạy, đến đoạn sông Xoài Mút thì quay lại cố sức mà đánh. Ta sẽ đích thân đem quân tiếp ứng.
Đặng Văn Long hỏi:
- Vậy đại sư huynh hãy lệnh cho chúng tôi chia quân mai phục sẵn. Ngộ nhỡ chúng tiến đánh ta sớm hơn ngày mùng chín thì sao?
Huệ cười đáp:
- Liên quân Tiêm - Nguyễn chỉ có thể tiến đánh ta vào đêm của ngày mùng chín. Không thể sớm hơn hoặc muộn hơn được. Việc quân cơ phải tuyệt đối bí mật. Ta cho quân mai phục trước, nếu lộ việc quân thì kế ta ắt hỏng. Khi ấy ba vạn quân ta muốn thăng năm vạn quân Tiêm - Nguyễn tất phải hao binh tổn tướng rất nhiều. Ta muốn đánh thế nào cho năm vạn binh giặc không đường chạy thoát, còn quân ta vẫn bình yên vô sự ấy mới là phương châm đánh giặc của ta. Các tướng hãy yên tâm, điều ta tính toán không thể nào sai được. Đợi đến rạng sáng ngày mùng chín ta đem quân mai phục, đêm của ngày mùng chín sẽ tiêu diệt giặc cũng chẳng muộn gì!
Nguyễn Lữ thật thà hỏi:
- Ngày xưa em và anh cũng học với thầy Trương Văn Hiến, chưa nghe nói thầy dạy cho anh thuật bói toán bao giờ. Anh dựa vào đâu và dám cả quyết giặc sẽ tiến đánh ta vào đêm mùng chín?
Nguyễn Huệ cả cười bảo:
- Ấy là ta tính toán việc quân cơ, chứ ta nào có bói toán bảo giờ! Thôi không hỏi nhiều lời nào, cả tướng cứ y lệnh của ta mà làm.
Mỗi người đều thắc mắc nhưng chẳng dám hỏi. Nguyễn Huệ liền quay thuyền về đại bản doanh ở Trường Đồn.


° ° °

Nói về sứ Tiêm La là Chiêu Thuỷ Biện quay về gặp Chiêu Tăng thuật lại lời hẹn với Nguyễn Huệ rồi nói:
- Khi nghe tôi hẹn ngày mười lăm rút binh Nguyễn Huệ rất mừng bày yến tiệc thết đãi. Xem ra Nguyễn Huệ đã tin lời thuận hoà của ta.
Chiêu Tăng cả mừng nói:
- Hay lắm! Hãy cho quân do thám xem quân Tây Sơn động tĩnh thế nào?
Hôm sau quân do thám Tiêm La về báo với Chiêu Tăng:
- Tiền thuỷ binh của Tây Sơn do đô đốc Tuyết và Lộc thống lĩnh suốt ngày bày rượu thịt ăn uống, rủ nhau đờn ca hát xướng không đề phòng gì cả.
Chiêu Tăng cả mừng bảo quân:
- Hay lắm! Mau cho mời chúa tôi Nguyễn Vương đến thương nghị.
Chúa tôi Phúc Ánh đến. Chiêu Tăng phân ngôi chủ khách mới ngồi rồi nói:
- Nguyễn Huệ đã tin lời hẹn ước rút binh của ta nên tiền thuỷ binh Tây Sơn mới lơ đễnh việc canh phòng. Nay ta xuất kỳ bất ý đem đại binh ngay mà tiến đánh ắt là phá được Nguyễn Huệ. Nếu để lâu ngày e lộ việc quân cơ.
Nguyễn Phúc Ánh dè dặt nói:
- Theo ta Nguyễn Huệ có gian kế gì chăng, chứ lẽ đâu hắn lại đi mắc lừa như vậy?
Chiêu Tăng nóng nảy lớn tiếng:
- Gian kế như của Đặng Văn Long bày quân hô vang Long Nhương tướng quân đến, khiến chúa sợ bóng sợ gió không dám tiến đánh Trà Tân để Đặng Văn Long và Trương Văn Đa lui khỏi đón Trà Tân được an toàn. Lúc đồn Trà Tân đã bỏ trống chúa cũng không dám tiến binh sợ lầm kế thông thành của Nguyễn Huệ. Nếu chúa sợ hắn bày gian kế thì tôi rút binh về nước, tuỳ chúa muốn liệu thế nào thì liệu.

Phúc Ánh sợ Chiêu Tăng rút binh về thật, bèn nói hoãn:
- Xin tướng quân chớ vội giận. Ý ta muốn nó rằng ngày mai ta chưa thể tiến quân được thì nên tiếp tục cho quân do thám dò xem Nguyễn Huệ có gian kế gì chăng?
Chiêu Tăng kiên nhẫn hỏi:
- Vì sao ngày mai lại chưa thể tiến binh?
Ánh ôn tồn giảng giải:
- Nay là mùng bảy, đang là ngày đói con nước cứ thuỷ triều, nên mức nước sông không lên không xuống trong ba ngày là ngày mùng sáu, mùng bảy, mùng tám. Nếu ta xuất quân trong các ngày này thì không thể lợi dụng sức nước để tiến binh thần tốc được. Vì lẽ đó ta mới nói ngày mai chưa thể xuất quân được đó mà.
Chiêu Tăng nghe Phúc Ánh nói hợp lý liền hỏi tiếp:
- Vậy theo chúa ngày nào xuất quân được thuận lợi?
Ánh đáp:
- Chỉ cần ta hoãn lại một ngày, đến ngày mùng chín nước phát, thuỷ triều lên xuống rất mạnh ta sẽ tiến binh, Nguyễn Huệ bất ngờ ắt trở tay không kịp. Nếu ta tiến binh sớm hơn ngày mùng chín thì không lợi dụng được sức nước, muộn hơn ngày mùng chín thì e Nguyễn Huệ thấy nước chảy mạnh tất sẽ phòng bị.
Chiêu Tăng vỗ tay khen:
- Chúa thật liệu việc hơn người, sao lại còn e Nguyễn Huệ đến thế
Nói rồi truyền cho các tướng chuẩn bị hai ngày nữa là ngày mùng chín sẽ xuất quân. Nguyễn Phúc Ánh về đến doanh trại hỏi các tướng nói:
- Kế hoạch của ta thật là chu đào. Nhưng ta vẫn lấy làm lo lăm.
Ngô Tùng Châu hỏi:
- Xin hỏi chúa lo về việc gì?
Ánh nói giọng ngờ vực:
- Lần này sao Nguyễn Huệ lại dễ mắc lừa như thế?
Ngô Tùng Châu đáp:
- Lần này Nguyễn Huệ bị mắc lừa là vì hai lẽ: một là xưa nay Nguyễn Huệ ra trận chỉ có thắng chẳng có thua, nên ngờ rằng quân Tiêm La cũng sợ hắn mà chịu giảng hoà rút binh, hai là hắn thấy nay đang là ngày nước kém nên cho rằng ta chẳng thể tiến binh. Vì hai lẽ ấy nên Nguyễn Huệ mới không phòng bị.
Phúc Ánh lại bảo:
- Xưa nay Nguyễn Huệ dụng binh thần tốc lại rất là cẩn thận. Việc này dự tính của ta tuy rằng kỹ lưỡng nhưng ta vẫn lấy làm lo lắm.
Lê Văn Quân bước ra thưa:
- Năm xưa thần làm trấn thủ dinh Long Hồ, nên có biết ít nhiều địa thế vùng này. Nếu Nguyễn Huệ có gian kế thì chỉ có thể cho quân mai phục ở đoạn sông Rạch Gầm và cù lao Thới Sơn mà thôi. Nay ta đã tính ngày mùng chín sẽ tiến quân thì ngày mai sai quân đến đấy do thám xem có quân Tây Sơn mai phục chăng. Nếu ngày mai mùng tám không có quân Tây Sơn mai phục ở cù lao Thới Sơn, ắt lần này Nguyễn Huệ phải lâm mưu, ngày mùng chín ta tiến binh trăm phần chắc thắng.
Nguyễn Phúc Ánh khen phải liền cho quân do thám đi ngay.

Sáng sớm hôm sau mùng tám tháng chạp, Nguyễn Huệ đang ngủ trong trướng nghe phía ngoài lao xao tiếng người liền gọi quân hỏi:
- Việc gì mà người kia ồn ào thế?
Quân đáp:
- Thưa Long Nhương, tiết chế Nguyễn Lữ và các tướng Đặng Văn Long, Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Bùi Thị Xuân đều đến xin ra mắt.
Huệ ngồi dậy bảo quân:
- Mau mời em ta cùng các tướng vào đây!
Các tướng vào đến, Huệ cười vui vẻ hỏi:
- Các em vì nóng lòng phá giặc nên đến gặp ta chăng?
Nguyễn Lữ nói lẫy:
- Giờ này mà anh còn cười được sao? Hôm trước anh bảo rằng quân Tiêm - Nguyễn sẽ đánh ta vào đêm mùng chín, nay đã là mùng tám rồi sao không thấy anh bày binh bố trận nên chúng tôi rủ nhau để hỏi cho rõ.
Huệ vẫn cười bảo:
- Ấy là do các tướng nóng lòng quá mà thôi. Hôm trước ta có bảo là đêm mùng chín giặc sẽ tiến đánh ta, sáng mùng chín ta sẽ bày trận mai phục, nay mới là ngày mùng tám kia mà.
Đặng Văn Long cẩn thận hỏi:
- Sao đại sư huynh không cho chúng tôi đem quân mai phục trước một ngày nào có hại gì?
Huệ lại cười đáp:
- Ngày nay nếu ta cho quân mai phục, giặc sai người đến do thám thì sao. Nếu bắt quân do thám của giặc lại, Phúc Ánh không thấy quân trở về ắt không dám tiến binh. Còn nếu thả chúng quân cơ bại lộ Phúc Ánh lại dám tiến binh sao? Sáng nay các tướng đã đến đây hãy cùng ta uống rượu giết thời gian, sáng ngày mai sẽ bày binh giết giặc.
Nói rồi Huệ sai quân đem rượu thịt, lên mặt thành cùng các tướng ăn uống không lo lắng gì cả.


***
Chương 33

Trận Rạch Gầm, quân Tiêm La đại bại
Thành Vọng Các, Nguyễn Phúc Ánh lưu vong

Sáng sớm hôm sau, ngày mùng chín tháng chạp năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Huệ hội các tướng nói:
- Hôm này là ngày quân Tây Sơn ta giết giặc cứu dân. Các tướng hãy sẵn sàng nghe lệnh!
Các tướng đồng thanh nói:
- Chúng tôi xin chờ lệnh!
Huệ truyền:
- Cách thành Trường Đồn năm dặm có một cánh rừng dừa, đường đại lộ từ đồn Trà Tân đi đến Trường Đồn phải xuyên giữa cánh rừng dừa này. Vậy vờ chồng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân đem năm ngàn quân bộ đến rừng dừa mai phục. Quân Tiêm La kéo đến cứ để chúng đi qua, khi nào chúng thua trận chạy về thì Diệu, Xuân chặn đường về của chúng mà đánh.
Trần Quang Diệu bước ra lãnh lệnh. Bùi Thị Xuân hỏi:
- Thưa Long Nhương, trong đạo quân bộ này có Nguyễn Phúc Ánh hay chăng?
Huệ cười đáp:
- Hôm trước cô Xuân cuộc với ta nếu không khích được Phúc Ánh ra trận thì ta sai đâu phải tuân đó kia mà.
Bùi Thị Xuân đành làm thinh cùng chồng là Trần Quang Diệu đi ngay.
Nguyễn Huệ lại quay sang bảo Nguyễn Lữ:
- Em hay lãnh ba ngàn quân ở lại giữ thành Trường Đồn. Đêm nay quân Tiêm La đến đánh em cứ ở trên thành sai quân bắn tên xuống đừng ra đánh làm chi, đợi ta phá tan thuỷ binh của giặc trên sông Tiền Giang, quân bộ của chúng sẽ vội vã rút chạy. Em hay mở cửa thành đuổi theo truy sát, đã có Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân chặn đường về của chúng. Binh ta hai mặt giáp công giết cho hết loài lang sói cho ta. Đêm nay ta đích thân thống lãnh thuỷ binh tiêu diệt giặc trên sông Tiền Giang.

Phân công quân bộ xong Nguyễn Huệ lại truyền:
- Ngô Văn Sở đem một ngàn quân và một trăm khẩu đại bác đến phục ở cù lao Thới Sơn. Phan Văn Lân đem một ngàn quân và một trăm khẩu đại bác đến phục ở bờ sông phía bên kia cù lao Thới Sơn tả ngạn sông Tiền Giang, khi nào nghe pháo lệnh của quân ta thì hai người từ hai phía bắn đại bác xuống huyền quân Tiêm - Nguyễn.
Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân lãnh lệnh toan đi, Huệ gọi lại dặn:
- Hai tướng bố trận xong bảo quân nghỉ ngơi cho khỏe, đến lúc trăng gần lặn khoảng nửa đêm đầu giờ Tý gọi quân dậy sẵn sàng diệt địch. Không việc gì phải nôn nóng làm chi. Ngô Văn Sở hỏi:
- Thế ngộ nhỡ chúng đến trước nửa đêm trăng lặn thì sao?
Huệ cười đáp:
- Làm gì có việc đó! Mà nếu thật vậy thì ta không bắt tội hai tướng.
Sở và Lần nghe vậy an lòng lãnh lệnh đi ngay. Phân công Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân điều động pháo binh xong, Nguyễn Huệ đứng dậy toan đi. Đặng Văn Long kéo áo Huệ hỏi:
- Đại sư huynh đi đâu?
Huệ nén cười đáp:
- Ta phải đích thân đến tiền thuỷ binh của Lộc và Tuyết dặn dò hai tướng theo mưu hành động.
Đặng Văn Long tức tối hỏi:
- Nhị sư huynh Nguyễn Lữ và các tướng đều được phân công ra trận. Đặng Văn Long tôi đâu phải bất tài, sao đại sư huynh chê mà không dùng đến?
Nguyễn Huệ ôn tồn bảo:
- Ta đâu dám nói tứ sư đệ bất tài. Chẳng qua là còn một trọng trách lớn lao ngoài Văn Lộc ra không ai làm nổi.
Long nói:
- Tôi và Trương Văn Đa vì ít quân nên đành rút toàn quân về cố thủ Trường Đồn, chờ có đại sư huynh dẫn đại binh vào sống mái với giặc một phen. Đã có tới đây đại sư huynh còn đi gọi Nguyễn Văn Lộc làm gì?
Huệ xua tay đáp:
- Thắng giặc thì dễ, những tiêu diệt giặc mới là việc khó. Khi quân Tiêm - Nguyễn lọt vào trận mai phục của ta nhất định phải bại binh mà chạy. Ta sẽ đi gọi Văn Lộc đem thuỷ binh mai phục ở Rạch Gầm đợi khi giặc thua chạy thì đổ ra chặn đường về của chúng. Trận này phải bắt cho được thằng bán nước Nguyễn Phúc Ánh.

Đặng Văn Long lại hỏi:
- Việc như thế sao đại sư huynh không sai tôi mà lại đi gọi Nguyễn Văn Lộc?
Huệ cười đáp:
- Vì ngươi lãnh sứ mạng chặn đường về của giặc chỉ cần dùng sức chẳng phải dùng mưu. Năm xưa Nguyễn Văn Lộc theo Nguyễn Lữ vào đánh Gia Định lần thứ nhất, bị Đỗ Thành Nhân dùng kế điệu hổ ly sơn vây ấp Hoà Hưng. Nguyễn Văn Tuyết đã phá vây được mà Lộc vẫn không chịu rút quân, dũng mãnh chống trả giữa vòng vây giặc để Văn Tuyết quay là hợp sức thắng giặc. Nay giặc bị chặn đường về ắt cùng đường hung hãn. Trọng trách này nếu không ở Văn Lộc đảm đương thì con ai làm nổi.
Đặng Văn Long tức tối nói lớn:
- Cây kích của tôi đã từng chém đầu Tống Viết Nghĩa ở Phú Yên. Cửa Hàm Luông bắt sống một trong Gia Định Tam Hùng là Nguyễn Huỳnh Đức là không phải là dũng mãnh hay sao?

Làm như không quan tâm, Huệ đáp:
- Ở Phú Yên chém Tống Viết Nghĩa thì quân ta đang thắng thế. Cửa Hàm Luông bắt Nguyễn Huỳnh Đức là tứ sư đệ dùng mưu, chưa dũng mãnh bằng Nguyễn Văn Lộc giữa vòng vây của giặc.
Đặng Văn Long càng tức tối nói to lên rằng:
- Tôi xin biểu diễn một môn võ bí truyền để đại sư huynh xem thử Văn Long này có vũ dũng bằng Nguyễn Văn Lộc hay chăng?
Nói rồi Đặng Văn Long nắm tay Nguyễn Huệ kéo ra ngoài doanh trại. Long gọi tên quân đến bảo:
- Ta cho ngươi cầm côn mà đánh. Nếu đánh không hết sức lập tức chém đầu.
Tên quân vâng lệnh cầm côn đánh Văn Long. Long chỉ dùng hai tay không mà đỡ chẳng hề đánh trả. Tiếng côn đập vào đôi tay của Văn Long chan chát. Đánh một hồi tên quân đổ mồ hôi hột, mệt thở chẳng ra hơi mà Văn Long vẫn điềm nhiên như không. Bá quan mục kích reo hò vỗ tay như sấm dậy.
Nguyễn Huệ bảo Văn Long:
- Thầy của ta là Trương Văn Hiến thì giỏi về nhu công. Ta có nghe dòng họ Đặng của Văn Long chân truyền về môn cương công, những lâu nay chưa được chứng kiến. Nay ta mượn việc đi gọi Nguyễn Văn Lộc để khích Văn Long trổ tài, chứ phải đâu ta không biết tài vũ dũng của tứ sư đệ. Nay được tận mắt thấy quả nhiên là tứ sư đệ có cánh tay như sắt vậy. (Từ ấy về sau quân thường gọi Long là: Thiết thu đại đô đốc Đặng Văn Long).
Long hỏi Huệ:
- Vậy cái vũ dũng của tôi đã cầm binh chặn đường về của liên quân Tiêm - Nguyễn được chưa?
Nguyễn Huệ mừng rỡ nói:
- Hay lắm! Phen này có bắt được Nguyễn Phúc Ánh chăng là ở trọng trách này đây. Ta cấp cho Văn Long một trăm đại thuyền và một vạn quân. Và Long đem binh thuyền đến phục ở nhánh sông Rạch Gầm. Khi thuỷ binh Tiêm - Nguyễn tiến quân hãy chờ cho chúng đi qua. Lúc chúng lọt vào trận mai phục Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Lộc sẽ quay thuyền lại đánh, Phan Văn Lân và Ngô Văn Sở sẽ bắn đại bác xuống chiến thuyền địch. Đợi đến lúc đó Văn Long đem binh thuyền từ nhánh sông Rạch Gầm đổ ra chặn đường lui của giặc trên sông Tiền Giang. Bấy giờ chúa tôi Phúc Ánh và quân Tiêm La như cá nằm trong nơm. Có bắt được cá chăng là do người cầm nơm vậy, Văn Long nên cố sức lập đại công.

Đặng Văn Long lãnh lệnh đi ngay. Phân công đâu đó xong xuôi, Nguyễn Huệ lại xuống thuyền đến thuỷ trại của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc. Huệ bảo Tuyết và Lộc:
- Hai tướng cứ giả vờ lơ đễnh việc canh phòng. Đêm nay cuối giờ Tuất đầu giờ Hợi (tức 21-22 giờ ), chúng sẽ đến đánh. Tuyết và Lộc giả thua vừa đánh vừa chạy nhử cho quân Tiêm - Nguyễn lọt vào trận mai phục dùng vào giữa giờ Tý. Khi ấy là trăng lặn nước triều sẽ lớn, quân ta phản công xong sẽ thuận nước tiến đánh Trà Tân. Hai tướng nên gắng sức, trận này ta có tiêu diệt được năm vạn quân Tiêm La chăng là nhờ công của hai tướng vậy!

Dặn dò xong Nguyễn Huệ lại quay thuyền về đại bản doanh ở Trường Đồn.

Lúc ấy trong doanh trại quân Tiêm - Nguyễn, quân do thám về báo cùng Phúc Ánh rằng:
- Tâu Chúa thượng, chúng thần đi do thám ở Rạch Gầm và cù lao Thới Sơn mãi đến đêm hôm qua là ngày mùng tám vẫn không thấy quân Tây Sơn mai phục, lại thấy ở thành Trường Đồn, Nguyễn Huệ cùng các tướng lên mặt thành bày yến tiệc không phòng bị gì cả.
Phúc Ánh mừng rỡ reo lên với Chiêu Tăng:
- Nguyễn Huệ quả nhiên trúng kế giương đông kích tây của ta. Xin tướng quan hạ lệnh xuất quân.
Chiêu Tăng hạ lệnh:
- Lục Côn, Sa Uyển đem hai vạn quân bộ theo tả ngạn sông Tiền Giang tiến đánh Trường Đồn.
Lục Côn và Sa Uyển cùng bước ra lãnh lệnh. Chiêu Tăng lại dặn:
- Hai tướng đi đường bộ tất chậm hơn thuỷ quân vậy hãy lập tức xuất quân, chờ đến nửa đêm thuỷ binh ta theo nước triều tiến xuống đánh thuỷ trại của Nguyễn Huệ, hai người sẽ tấn công thành Trường Đồn, làm cho chúng thuỷ, bộ không thể cứu ứng lẫn nhau.
Nguyễn Phúc Ánh hạ lệnh cho tướng của mình rằng:
- Lê Văn Quân đem một ngàn quân đi tiên phong dẫn đường cho hai tướng Lục Côn và Sa Uyển tiến đánh Trường Đồn.
Hai tướng Tiêm là Lục Côn, Sa Uyển và tướng Nguyễn là Lê Văn Quân lãnh lệnh đi ngay.
Chiêu Tăng lại bảo:
- Chiêu Thuỷ Biện và Thát Si Đa lãnh năm ngã quân ở lại giữ doanh trại, ta cũng Chiêu Sương sẽ dẫn đại thuỷ binh tiến đánh thuỷ trại của giặc Tây Sơn.
Phúc Ánh hăng hái nói:
- Ta còn trong tay vài mươi viên đại tướng và năm ngàn quân sĩ, xin làm tiên phong dẫn đường cho đại binh của tướng quân. Phen này nếu không bắt được Nguyễn Huệ, cũng phải đánh cho quân Tây Sơn không còn manh giáp.


Đêm hôm ấy, trời vừa chạng vạng tối, trăng đứng giữa đỉnh đầu, nước thuỷ triều vừa rúng chảy, ba vạn thuỷ binh Tiêm - Nguyễn, trên ba trăm đại chiến thuyền xuất phát. Chiến thuyền thì tắt hết đèn đuốc, quân sĩ miệng ngậm tăm, âm thầm theo dòng nước chảy tiến đánh trại Tây Sơn.

Tiền thuỷ binh Tây Sơn do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết và đô đốc Nguyễn Văn Lộc thống lĩnh cho quân thắp đèn đuốc sang cả mặt sông, lại đem nước lã đổ vào bình rượu ngồi uống cười nói huyên thuyền. Đến gần hết giờ Tuất, Nguyễn Văn Lộc hỏi Nguyễn Văn Tuyết:
- Long Nhương dặn ta đêm nay cuối giờ Tuất đầu giờ Hợi quân Tiêm La sẽ tiến đánh. Vậy đã tới giờ sao không thấy chúng đến đánh?
Lộc vừa dứt lời, Nguyễn Văn Tuyết chỉ tay về thượng nguồn sông Tiền Giang nói:
- Long Nhương tướng quân thật là thánh nhân. Quả nhiên quân Tiêm La đến thật.
Phía xa xa dưới ánh trăng mờ mờ thuyền Tiêm -Nguyễn ào ào tiến tới. Chờ quân địch đến gần tầm súng, Tuyết và Lộc lệnh quân bắn vài phát đại bác rồi rút chạy. Nguyễn Phúc Ánh trông thấy thế nói với các tướng:
- Quân Tây Sơn quả nhiên không phòng bị. Mau đuổi theo.

Quân Tây Sơn vừa đánh vừa chạy. Liên quan Tiêm - Nguyễn rầm rộ đuổi theo, không hay rằng đang đi vào chỗ chết.

Lúc ấy Ngô Văn Sở phúc pháo binh ở cù lao Thới Sơn đợi đến nửa đêm nhủ thầm:
- Long Nhương dặn ta đến nửa đêm trăng lặn quân Tiêm - Nguyễn sẽ lọt vào trận, sao đến bây giờ vẫn chưa thấy?
Vừa nghĩ xong đã thấy tiền thuỷ binh Tây Sơn trá bại chạy về. Ngô Văn Sở buột miệng khen:
- Long Nhương của ta thật là bậc thánh. Ba quân cứ án binh bất động, bao giờ có lệnh ta mới được nổ súng.
Phan Văn Lân phục pháo binh trên tả ngạn sông Tiền Giang, thấy thuỷ binh Tiêm - Nguyễn bắt đầu lọt vào trận đúng giờ trang lên, Lân tấm tắc khen:
- Long Nhương tướng quân liệu việc như thần. Ba quân chờ pháo lệnh mới được nổ súng.

Đô đốc Tuyết và Lộc dẫn quân chạy đến sông Xoài Mút thì thấy Nguyễn Huệ đem đại binh đã đợi sẵn. Quân Tiêm - Nguyễn vô tình hăng hái đuổi theo. Bỗng nghe ba phát pháo lệnh nổ vang, chiến thuyền quân Tây Sơn nhả đạn về phía thuyền quân Tiêm -Nguyễn, pháo binh của Phan Văn Lân và Ngô Văn Sở ở tả ngạn sông Tiền Giang và cù lao Thái Sơn bắn xuống. Quân Tiêm - Nguyễn đang thừa thắng đuổi theo bỗng nghe súng nổ ầm ầm như sấm sét, đạn lớn đạn nhờ đổ xuống như mưa thì tán đởm, kinh tâm, hồn phí phách lạc không biết đường nào mà chống đỡ. Nguyễn Phúc Ánh rụng rời tay chân than:
- Thôi chết. Phen này lại thua mưu Nguyễn Huệ nữa rồi. Mau rút quân!

Quân Tiêm - Nguyễn thua to, ba trăm đại chiến thuyền bị đại bác Tây Sơn bắn chìm gần hết, quân sĩ chết không biết bao nhiêu mà kể. Đại bác bắn xong Nguyễn Huệ hạ lệnh tấn công. Chiến thuyền Tây Sơn lúc bấy giờ mới ào ạt tiến lên truy sát. Quân Tiêm -Nguyễn là khóc vang trời, thây người trôi lềnh bềnh đầy sông, mau loang đó nước.
Nguyễn Phúc Ánh và các tướng Tiêm La là Chiêu Tăng, Chiêu Sương vội vàng tháo chạy, ba vạn còn không đầy năm ngàn quân. Đến gần nhánh sông Rạch Gầm lại thấy chiến thuyền Tây Sơn giăng ngang sông chặn mất đường về. Trên soái thuyền Tây Sơn thấy cờ thêu năm chữ "Đô đốc Đặng Văn Long" bay phấp phới. Nguyễn Văn Thành than:
- Đặng Văn Long là danh tướng của Tây Sơn. Năm trước chính nó đã bắt sống Huỳnh Đức ở cứ Hàm Luông, nay nó lại chặn mặt đường về của quân ta, phen này e khó thoát.

Chiêu Tăng ôm Chiêu Sương ứa nước mắt nói:
- Nguyễn Huệ thật là ghê gớm. Không ngờ anh em ta lại bỏ thây ở xứ người.
Phúc Ánh nghiến răng bảo:
- Ta phải liều chết mà đánh, mới tìm ra đường sống mà thôi.
Nói rồi hô quân xông lên. Quân Tiêm - Nguyễn cùng đường chết hết lớp này tiến lên lớp khác. Văn Long nói lớn bảo bá quan:
- Giặc Tiêm La tàn hại dân ta, nay cùng đường liều chết mà đánh. Vậy ta phải giết nó báo thù cho dân ta.
Quân Tây Sơn hô vang:
- Giết quân xâm lược báo thù cho dân ta!

Đánh một hồi quân Tiêm - Nguyễn chết quá nửa. Chúa tôi Phúc Ánh và hai tướng Tiêm La sợ Đặng Văn Long trông thấy bèn vớt thây quân mình rồi cởi bỏ áo bào vua tướng, mặc áo quân sĩ vào toàn tìm đường chạy trốn, nhưng quân Tây Sơn vậy chặt quá không thể nào ra khỏi, phía sau lưng Nguyễn Huệ lại xua quân đánh tới. Quân Tây Sơn hô vang:
- Lệnh Long Nhương tướng quân phải giết cho được Phúc Ánh.
Phúc Ánh ngửa mặt than:
- Phen này ắt phải chết. Trời cứu ta ở đảo Côn Lôn làm gì để giờ đây phải chết thêm mấy vạn sinh linh!
Ánh vừa than dứt lời bỗng trời đổ mưa như trút. Trương Tấn Bửu nói:
- Trời mưa to đèn đuốc đều tắt cả, trong đem tối địch, ta không phân biệt được. Quân Tây Sơn thuyền lớn ở sau, vậy ta nên dùng thuyền nhỏ men theo bờ cạn ra khỏi vòng vây.

Phúc Ánh khen phải. Chúa tôi và hai tướng Tiêm La dầm mưa ngồi trên thuyền con men theo bờ cạn mà đi. Quân sĩ đi theo chỉ còn có vài mươi người thoát khỏi vòng vây quân Tây Sơn chạy về đồn Trà Tân. Nguyễn Phúc Ánh thoát rồi trời liền dứt mưa. Nguyễn Huệ ở phía trước, Đặng Văn Long ở phía sau hai đạo binh ập lại bắt hết quân Tiêm - Nguyễn. Kiểm điểm lại không thấy Phúc Ánh và các tướng Nguyễn đâu cả.
Đặng Văn Long nói:
- Chắc chúa tôi Phúc Ánh đều chết dưới dòng sông Tiền Giang cả rồi. Chứ vòng vây của ta con cá cũng không lọt lẽ nào Phúc Ánh lại chạy thoát được?
Không đáp lời Đặng Văn Long, Nguyễn Huệ hạ lệnh:
- Truyền quân thừa thắng tiến đánh Trà Tân truy kích Phúc Ánh!

Nói về đạo binh bộ Tiêm - Nguyễn do hai tướng Tiêm La là Lục Côn, Sa Uyển thống lĩnh và tướng Nguyễn là Lê Văn Quân dẫn đường theo tả ngạn sông Tiền Giang tiến đánh Trường Đồn. Hai vạn bộ binh Tiêm - Nguyễn đánh thành Trường Đồn lúc trăng gần lặn. Ngó lên mặt thành thấy quân Tây Sơn cờ xí nghiêm trang, quân canh hàng chỉnh tề, Lê Văn Quân nghĩ thầm: Nguyễn Huệ bị mắc mưu sao quân trong Trường Đồn canh phòng cẩn mật thế?
Vừa xong liền nghe Nguyễn Lữ trên mặt thành nói vọng xuống:
- Quân Tiêm - Nguyễn kia, phen này chúng bay đã lầm kế mai phục của ta, nếu không xuống ngựa quy hàng chỉ có còn đường chết mà thôi.
Nói rồi Nguyễn Lữ lệnh quân bắn tên đạn xuống như mưa. Lục Côn và Sa Uyển liền lui ra khỏi tầm tên, Sa Uyển nói:
- Ta tạm đóng bình ngoài thành, chờ có thuỷ binh của đại tướng quân tiến đánh thuỷ trại của địch, bấy giờ ta sẽ tấn công thành Trường Đồn.
Quân Tiêm - Nguyễn chưa kịp hạ trại bỗng nghe dưới sông Tiền Giang súng nổ rền trời, quân reo dậy đất, trống trận dập dồn, lửa cháy sáng cả một vùng. Lê Văn Quân thất kinh nói:
- Thôi chết, thuỷ binh ta đã lọt váo trận mai phục của Nguyễn Huệ ở Rạch Gầm và cù lao Thới Sơn. Đêm trước ta đã cho quân do thám thấy quân Tây Sơn vẫn án binh bất động nên ta mới tiến quân. Sao Nguyễn Huệ lại biết được quân cơ của ta mà điều binh tài tình thế, Bô binh ta phải lập tức rút quân.

Lê Văn Quân vừa dứt lời liền thấy quân Tây Sơn mở cổng thành xông ra, quân Tiêm - Nguyễn hoảng loạn rút chạy. Chạy về đến rừng dừa bỗng một phát pháo lệnh nổ vang, tên đạn quân Tây Sơn từ trong rừng dừa bắn ra như cát vãi, quân Tiêm - Nguyễn trúng tên chết không biết bao nhiêu mà kể. Lục Côn, Sa Uyển và Lê Văn Quân liều chết gạt tên mà chạy. Vợ chồng Trần Quang Diệu vung đại đao, Bùi Thị Xuân múa song kiếm xua quân xông ra đánh giết, sau lưng Nguyễn Lữ đuổi tràn tới, quân Tiêm - Nguyễn chết thây phơi như rạ, máu chảy thành khe. Các tướng Tiêm La là Lục Côn, Sa Uyển, tướng Nguyễn là Lê Văn Quân thoát được, quất ngựa chạy dài. Vợ chồng Xuân - Diệu đuổi theo truy sát. Trần Quang Diệu trương cung lắp tên bắn một phát nhằm chân con ngựa của Lục Côn. Lục Côn chạy không kịp bị Bùi Thị Xuân lướt đến chém một gươm đầu rơi xuống đất. Bỏ quân Tiêm - Nguyễn hai vạn còn lại mấy trăm quân theo chủ tướng chạy về đồn Trà Tân. Đến nơi, trái vừa hửng sáng bỗng thấy mấy tên quân đang cưỡi ngựa chạy như bay đến, Lê Văn Quân chặn lại hỏi:
- Các ngươi là thuỷ binh ta bại trận chạy về, và chúa ta và hai tướng Tiêm La quốc ở nơi đâu?
Mấy tên quân dừng ngựa, một tên nói lớn rằng:
- Ta là Thượng vương Phúc Ánh và các tướng chạy về đây, Văn Quân không nhận ra sao?
Lê Văn Quân và Sa Uyển thất kinh xuống ngựa quỳ lạy tả tơi:
- Bởi Chúa thượng và các tướng thay y phục quân sĩ, trên mặt lại đầy bụi đất nên chúng thần không nhận ra. Xin Chúa thượng và đại tướng quân tha tội.
Chiêu Tăng hổ thẹn nói:
- Ta lầm mưu Nguyễn Huệ, ba vạn thuỷ binh đã chết hết cả. Bọn ta may nhờ trời đổ mưa bên thay y phục quân sĩ, trát bùn lên mặt mới hòng chạy thoát về đây. Còn bộ binh hai tướng thế nào?
Sa Uyển cúi gằm mặt đáp:
- Hai vạn bộ binh ta bị quân Tây Sơn mai phục đánh chết hết cả. Lục Côn bị con nữ tặc Tây Sơn chém chết, tôi và Lê Văn Quân may thoát được về đây ra mắt đại tướng quân.
Nguyễn Phúc Ánh hỏi Lê Văn Quân:
- Con nữ tặc đó có phải là Bùi Thị Xuân chăng?
Lê Văn Quân đáp:
- Ấy chính là Bùi Thị Xuân!
Nguyễn Phúc Ánh liền nói với Chiêu Tăng:
- Thưa đại tướng quân, chúng ta hay mau mà đem mấy trăm quân trong đồn Trà Tân theo đường bộ bỏ chạy về Tiêm quốc. Nếu chậm trễ quân Tây Sơn theo hai đường thuỷ bộ đuổi đến thì nguy.
Chiêu Tăng vội vã dân tàn quân và chúa tôi Nguyễn Phúc Ánh lập tức lên đường, đêm ngày không dám nghỉ, theo đường bộ chạy sang nước Chân Lạp rồi tìm đường về Tiêm Quốc.

o o o

Thế là chỉ trong một đem, Nguyễn Huệ thống lĩnh hai vạn binh Tây Sơn đánh một trận tiêu diệt hết năm vạn quân Tiêm La hùm cọp, đuổi giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi.

Các đạo quân Tây Sơn đều toàn thắng, thu binh về thành Trường Đồn. Nguyễn Huệ bảo các tướng:
- Trước khi xuất quân vào Nam, ta đã hứa với hoàng huynh rằng sẽ thắng giặc rút binh về Quy Nhơn ăn tết Ất Tỵ. Nay ta đã quét sạch giặc Tiêm La ra ngoài bờ cõi, chỉ còn nửa tháng nữa là đến tết Ất Tỵ, ta phải kịp rút binh về Quy Nhơn. Vậy ta để Đặng Văn Long và Trương Văn Đa ở lại trấn thủ đất Gia Định. Văn Long nên dò xem Nguyễn Phúc Ánh trốn tránh nơi nào, kịp bắt giết đi để tiệt trừ hậu hoạ.
Đặng Văn Long hỏi:
- Thưa Long Nhương, chẳng phải là Nguyễn Phúc Ánh đã chết trong đám loạn quân làm mồi cho cá dưới sông Tiền Giang rồi sao?
Nguyễn Huệ đăm chiêu đáp:
- Đất Gia Định chỉ có hai mùa mưa và nâng. Từ tháng chín đến tháng hai là sáu tháng nắng không một giọt mưa. Nay trong đêm mùng chín tháng chạp lúc ta sắp bắt được chúa tôi Phúc Ánh trời bỗng đổ mưa như trút. Ta e rằng Phúc Ánh thừa cơ hội ấy trốn đi, nếu đúng như thế là cả ba lần trời đều làm mưa bão mà cứu Phúc Ánh cả. Thật ta vẫn lấy làm lo lắm!
Đặng Văn Long nói:
- Xin đại sư huynh yên tâm, tôi nguyện hết sức truy tìm tông tích của Phúc Ánh.
Bỗng Nguyễn Lữ bước ra hỏi:
- Long Nhương thật liệu việc như thần, lúc xuất bình đi đã định được ngày về. Nhưng trong trận Rạch Gầm vừa rồi sao Long Nhương biết được rằng lúc trăng lặn trong đêm mùng chín giặc sẽ tiến đánh ta?
Huệ đáp:
- Lúc xuất quân ở đất Quy Nhơn ta đã biết được rằng sẽ tiêu diệt giặc trong đêm mùng chín tháng chạp nên mới hẹn với hoàng huynh sẽ về Quy Nhơn ăn tết Ất Tỵ, chứ đâu phải kéo quân vào đất Gia Định này mới biết rằng giặc sẽ tiến đánh ta vào đêm mùng chín.
Các tướng đồng thanh hỏi:
- Dựa vào đâu mà Long Nhương biết trước để ngày giờ diệt giặc. Xin tướng quân phân giải?
Huệ đáp:
- Ba lần trước đem quân vào Nam đánh chúa Nguyễn, ta đã cho người vẽ bản đồ đất Gia Định đề phòng khi dùng tới. Đến khi nghe đô uý Đặng Văn Trấn về Quy Nhơn báo rằng: Đặng Văn Long và Trương Văn Đa rút quân các trấn về chặn giặc ở Trường Đồn, ta đã nghĩ đến việc mai phục diệt giặc quân bộ thì phục ở Rừng Dừa, thuỷ binh thì phục ở cù lao Thới Sơn và Rạch Gầm trên sông Tiền Giang. Nhưng để giặc lọt vào trận mai phục, ta phải giả vờ sợ giặc, xin giảng hoà với quân Tiêm La. Chiêu Tăng và Phúc Ánh ngờ rằng ta tin quân Tiêm La sẽ rút quân về Tiêm quốc mà không phòng bị nên bất ngờ tiến đánh ta. Ta tương kế tựu kế phục binh đánh một trận, quả nhiên chỉ trong một đêm mà tiêu diệt cả năm vạn binh thuỷ, bộ của liên quân Tiêm - Nguyễn.
Nguyễn Lữ nôn nóng hỏi:
- Nhưng em muốn hỏi anh rằng, vì cớ gì lại đoán trước được giặc sẽ tiến đánh ta vào đêm mùng chín tháng chạp.
Huệ cả cười hỏi lại:
- Chậm rãi rồi anh sẽ giải thích. Khi ta sai sứ giảng hoà với Chiêu Tăng lá ngày mùng mấy?
Nguyễn Lư đáp:
- Ấy là ngày mùng bốn tháng chạp.
Bấy giờ Nguyễn Huệ liền treo tờ lịch lên vách rồi chỉ tay vào tờ lịch, Huệ nói:
- Đây là lịch của các ngày thuỷ triều trong tháng. Các tướng hãy nhìn cho rõ.

Mọi người đều nhìn vào tờ lịch viết rằng:
Tháng 2 và tháng 8 các ngày thuỷ triều là 3, 17, 29
Tháng 3 và tháng 9 các ngày thuỷ triều là 13, 27
Tháng 4 và tháng 10 các ngày thuỷ triều là 11, 25
Tháng 5 và tháng 11 các ngày thuỷ triều là 9, 23
Tháng 6 và tháng chạp các ngày thuỷ triều là 7, 21
Tháng 7 và tháng giêng các ngày thuỷ triều là 5, 19

Chờ các tướng xem tờ lịch thuỷ triều xong, Nguyễn Lữ hỏi:
- Đây là tờ lịch thuỷ triều mà năm trước đốt thuyền Chu Văn Tiếp ở Thất Kỳ Giang, Long Nhương huynh đã đem ra để luận giờ đổi gió. Còn hôm na anh luận thế nào mà biết được ngày giờ giặc sẽ tiến đánh ta để phục binh diệt giặc?

Nguyễn Huệ cười rồi chậm rãi nói:
- Ngày thuỷ triều là ngày chuyển giao giữa hai con nước. Vào những ngày này nước thuỷ triều không lên không xuống nên việc lợi dùng sức nước để bất ngờ tiến binh cho nhanh không được thuận lợi. Ta đem quân đánh Trường Đồn nhằm ngày mùng một từ là thượng tuần tháng chạp, ắt thuỷ triều là ngày mùng bảy. Mùng bốn ta sai sứ giảng hoà với Chiêu Tăng, chúng liền cho quân do thám thấy ta chểnh mảng việc canh phòng mới lập mưu bất ngờ tiến đánh. Nhưng ngày mùng sáu và mùng tám là hai ngày cạn thuỷ triều, nước lên xuống rất kém không lợi cho việc thuỷ binh của chúng tiến đánh bất ngờ. Đến ngày mùng chín nước sẽ bỗng nhiên phát lên rất lớn, ắt đến đêm sẽ chảy rất mạnh. Giặc sợ để lâu e lộ việc quân cơ tất phải tiến đánh ta vào đêm mùng chín. Các tướng đã rõ vì sao ta biết được ngày giờ để phục binh tiêu diệt giặc hay chưa?
Các tướng đồng thanh thưa
- Long Nhương thật là bậc thánh, dẫu Tôn Ngô sống lại cũng chẳng bị kịp. Chúng tôi xin đập đầu bái phục!
Đặng Văn Long hỏi:
- Long Nhương liệu việc như thần thì lo gì không trừ được Phúc Ánh.
Nguyễn Huệ nói:
- Đánh thắng giặc là việc của ta. Nhưng giết được Phúc Ánh là mệnh của trời, ta không lường trước được.
Nói rồi Nguyễn Huệ để Đặng Văn Long và Trương Văn Đa trấn thủ đất Gia Định, rồi rút đại binh về Quy Nhơn. Vua Thái Đức sai mở tiệc khao quân nhằm vào tết năm Ất Tỵ.


o o o

Nhắc lại chúa tôi Nguyễn Phúc Ánh theo Chiêu Tăng và Chiêu Sương chạy sang Vọng Các là kinh đô của Tiêm quốc. Chiêu Tăng và Phúc Ánh quỳ tạ tội, vua Tiêm than:
- Nếu biết quân Tây Sơn hùng mạnh thế thì ta đâu vì ham lợi nhỏ mà khiến cho hơn bốn vạn quân của ta phải bỏ thây ở xứ người.
Phúc Ánh cố nói:
- Xin Tiêm Vương chớ lo buồn. Quân ta bại trận là do Chiêu tướng quân thả quân cướp bóc của dân khiến lòng người oán hận. Ta phục binh thì lộ, giặc phục binh thì không người nào tố giặc. Vì lẽ ấy nên ta mới bị Nguyễn Huệ mai phục đánh thua. Nay xin Bệ hạ ban hành quân lệnh nghiêm minh, cho quân sang đánh báo thù ắt là phải thắng!
Tiêm Vương nói:
- Được! Ta sẽ cấp binh lương cho Chiêu Tăng và Chiêu Sương sang nước An Nam lần nữa đánh Tây Sơn báo thù cho quân ta. Ý hai tướng thế nào?
Chiêu Tăng lưỡng lự rồi thưa:
- Bệ hạ đã xuống lệnh, hạ thần xin tuân mệnh.
Tiêm vương truyền bãi triều. Lúc ra về Chiêu Sương tìm đến nhà Chiêu Tăng hỏi:
- Tướng quân một lần nữa đem binh đưa Nguyễn vương về nước, liệu có thắng được quân Tây Sơn chăng?
Chiêu Tăng đáp:
- Quân Tây Sơn hùng mạnh, Nguyễn Huệ lại rất giỏi dụng binh. Nay họ vừa thắng trận khí thế đang hăng, quân ta vừa mới bại, nhuệ khí giảm sút, cái lẽ được thua là rõ, sao người còn phải hỏi.
Chiêu Sương ngạc nhiên hỏi:
- Vậy tại sao giữa triều, tướng quân lại tuân lệnh Bệ hạ đem quân sang đất An Nam lần nữa?
Chiêu Tăng thở dài nói:
- Ta thân làm đại tướng đem quân sang đánh đất người, bị lầm kế Nguyễn Huệ thua binh, quân nay vẫn còn lại mấy trăm người băng rừng chạy về nước. Giữa triều nếu chối từ thượng lệnh, e vua bắt tội thua binh chém tướng thì biết liệu làm sao? Bởi vậy nên ta mới tạm thời tuân lệnh vừa rồi sau sẽ tìm kế khuyên vua bãi binh. Nếu cãi lời vua không ra trận cũng chết, mà mang quân sang đánh với Nguyễn Huệ thì cũng chết mà thôi. Ta thật chưa biết phải tính sao cho thoát nạn này.
Chiêu Sương nói:
- Tôi có một kế khiến vua ta phải ra lệnh bãi binh mà không bắt tội tướng quân được.
Chiêu Tăng liền hỏi:
- Kế thế nào ngươi hãy mau nói xem. Nếu ta thoát khỏi nạn này thì ngươi là an nhân của ta vậy.
Chiêu Sương hiến kế:
- Tướng quân hãy vờ như hăng hái, lệnh cho quân các doanh trại chuẩn bị quân trang để chờ ngày kéo quân sang nước An Nam đánh báo thù. Quân sĩ của ta ắt sẽ như vậy... như vậy... Nhà vua hay được tin đó nhất định sẽ bại binh.
Chiêu Tăng mừng khấp khởi khen:
- Ấy thật là diệu kế.

Nói rồi liền theo kế thi hành. Đêm hôm ấy, Tiêm vương cũng Nguyễn vương đang đàm đạo, bỗng quân vào báo:
- Tâu Bệ hạ không hiểu vì cớ gì mà nghe quân cả trại nhốn nháo, than khóc om sòm. Xin tâu cùng Bệ hạ được rõ.
Tiêm vương và Nguyễn Phúc Ánh ngạc nhiên thân hành ra các doanh trại xem xét. Đến nơi nghe quân khóc lóc than thở với nhau:
- Quân Tây Sơn rất là hùng mạnh, chỉ trong một đếm đánh năm vạn quân, ta còn lại mấy trăm người mang đầy thương tích lủi thủi chạy về nước. Nay vua sai Chiêu đại tướng quân đem bọn ta sang An Nam đánh báo thù. Bọn ta xa vợ xa còn đi viễn chinh phen này chỉ có chết mà thôi.
Tiêm vương nghe thấy những lời ấy bèn quay về ngự điện nói với Nguyễn vương:
- Quả nhân những muốn cất quân sang đánh Tây Sơn báo thù thua trận ở Rạch Gầm và đưa Nguyễn vương về nước, không ngờ lòng quân khiếp sợ như thế thì còn đánh được ai. Thôi thì quả nhân xin cấp đất cho tướng sĩ Nguyễn vương nương náu chờ có cơ hội rồi sẽ liệu sau.
Nguyễn Vương buồn bã nói:
- Cám ơn lòng tốt của Bệ hạ. Phúc Ánh tôi cùng đành phải thế chứ chẳng biết làm sao hơn.
Nói rồi chúa tôi Nguyễn vương theo người hướng đạo ra trú ngụ ở đất phía Tây thành Vọng Các. Nguyễn vương nói cùng các tướng:
- Sau trận Rạch Gầm người Tiêm La sơ giặc Tây Sơn như cọp, không mong gì nhờ vả họ được nữa. Và ta nên mời Bá Đa Lộc đến bàn việc cầu viện người Pháp Lang Sa đem quân sang giúp mới mong khôi phục cơ đồ.

o o o

Nói rồi sai người đi mời Bá Đa Lộc. Bá Đa Lộc đến, Nguyễn vương nói:
- Vua Tiêm La từ khi thua trận, sợ Nguyễn Huệ không dám hưng binh giúp cho ta. Vậy xin Giám mục hãy đem con ta là Thế tử Cảnh sang nước ngài là tin cầu vua ngài đem quân sang giúp. Sau khi đuổi được giặc Tây Sơn lấy lại nước, vua nước ngài muốn gì Ánh này cũng xin vâng.
Bá Đa Lộc bảo:
- Vậy xin chúa hãy làm tờ cam kết có điều khoản rõ ràng, để về sau cứ theo tờ cam kết ấy mà thi hành.

Nguyễn vương bằng lòng cùng Bá Đa Lộc làm tờ cam kết gồm các điều khoản sau:

Nước Pháp Lang Sa đồng ý giúp Nguyễn Vương:
- Năm mươi chiếc tàu đồng, trên tàu trang bị đã đủ súng đại bác.
- Hai trăm khẩu súng đại bác trang bị cho quân bộ.
- Hai ngàn binh lính và vũ khí cá nhân để hướng dẫn sử dụng số tàu đồng và đại bác nói trên.
- Lương thực đủ để quân dùng trong 6 tháng.

Đổi lại Nguyễn vương bằng lòng giao cho nước Pháp Lang Sa:
- Trọn quyền sử dụng cửa Đà Nẵng, phố Hội An và đảo Côn Lôn.
- Để người Pháp Lang Sa được độc quyền sang buôn bán và truyền đạo trên lãnh thổ nước Nam.

Tờ cam kết viết xong, Bá Đa Lộc liền từ tạ Nguyễn vương đem Thế tử Cảnh lên đường về nước. Chúa tôi Nguyễn vương ở lại nước Tiêm La cày cấy nuôi nhau, chờ ngày Bá Đa Lộc đem binh thuyền đến giúp!

Quân Tiêm La năm vạn còn lại mấy trăm người trốn về nước, từ ấy không dám dòm ngó nước Nam nữa.


***
(xem tiếp - Quang Trung đại thắng quân Thanh)

No comments:

Post a Comment