Friday, 8 October 2021

Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím (1958) - Kiên Giang

Kiên Giang (1929 - 2014)

Tên thật Trương Khương Trinh, sinh tỉnh Kiên Giang. Còn là soạn giả cải lương Hà Huy Hà và ký giả kịch trường Kiên Giang Hà Huy Hà.  

Đã xuất bản các tập thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím (1962) (tái bản 1996), Lúa Sạ Miền Nam (1970), Quê Hương Thơ Ấu (1967), Tập Thơ Kiên Giang (1996). Ông đã soạn nhiều vở cải lương như Người vợ không bao giờ cưới (1958 với Phúc Nguyên), Ngưu Lang Chức Nữ, Áo cưới trước cổng chùa, Trương Chi Mỵ Nương, ...
 

Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím

I.
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường
 
Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh
 
Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! Chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! Chuông nhà trường
 
II.
Lần kia anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
 
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại, không đi
 
III.
Sau mười năm lẻ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy
 
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
- Hoa trắng thôi cài lên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh
 
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang, cách mấy sông
Anh vẫn yêu em người áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
 
IV.
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường
 
Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ
 
Màu gạch nhà thờ còn đỏ thẫm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím tình thơ đã nhạt màu
 
V.
Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang
 
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ
 
VI.
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa thánh đường
 
“Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng còn giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!”
 
Bến Tre, 14-11-1958


** Lúa sạ miền Nam

    Mời bạn về thăm quê hương lúa sạ
    Ngắm biển trời Đồng Tháp, đất An Giang.
    Gò Óc Eo còn dấu vết một kho tàng
    Nhớ thuở bòn vàng những năm đồ khổ
    Lặn dưới bùn sâu mở đường hơi thở
    Đưng1 Ba Thê nhớ cỏ lúa Láng Linh
    Bảy Núi gọi mây dựng bức tường thành
    Ngăn gió độc cho xanh màu lá mạ

    Mời bạn về ôm chân cây lúa sạ
    Để reo mừng đau xót với Hậu Giang
    Mẩy trăm năm từ thuở mới khai hoang
    Nhạc rừng trâu vượt trời nghe đồng vọng
    Gọi nhau về miền Tây chân trời mộng
    Chào tay chai rạch đất thế lưỡi cày

    Thủy triều lên xuống vơi đầy
    Mồ hôi đổ xuống, đất lầy trổ bông

    Mời bạn về thăm vùng trời đất đứng
    Để lắng nghe mạch sống chảy âm thầm
    Dưới mặt nước, nhạc ngầm gợn dư âm
    Chuyển thành sóng dập vờn theo tóc lúa
    Lúa yêu đồng nên dịu dàng ca múa
    Trên địa đàng thơm ngát hương phù sa
    Cá tôm kéo về đại hội hải hà
    Ca mừng lúa với trường ca sung túc
    Mặt đất rộng phơi da đầu dưới nước
    Cho rễ dày đan tóc lúa rối đoanh
    Gió gợn mặt biển xanh
    Sóng xao tóc lúa vây quanh xóm làng

    Lúa lên theo nước
    Lúa vượt lên mây
    Lá mỏng lá dày
    Bao la biển lúa
    Gió nghiêng gió ngửa
    Sóng bủa láng cò
    Cây lúa dật dờ
    Như áo lụa thủy cung chào đại hội
    Về Miền Tây với bàn tay vẫy gọi
    Chào An Giang Bảy Núi tiếp Láng Linh
    Chào kênh Vĩnh Tế nối mạch Giang Thành
    Cho nước bạc từ sông xuôi biển cả
    Bằng tay thép với đôi chân tượng đá
    Những người xưa khai phá địa đàng xanh
    Sừng sững Thất Sơn một dãy trường thành
    Chim mỏi cánh vẫn bay vào bóng mát
    Leo cột buồm nhìn ruộng đồng man mác
    Yêu làm sao, trời đất, nước miền Nam
    Vẹt màn rêu trên bia đá núi Sam
    Ghi công đức Thoại Ngọc Hầu thuở trước
    Người xưa bảo: “Đây là vùng đất phước
    Đất oai hùng toàn nhân kiệt địa linh”
    Khi trời xanh trở xám lửa đao binh
    Lúa lặn xuống tránh mùi tanh thuốc súng
    Thân lúa mềm nhưng dẻo mềm chân đứng
    Đứng cùng người cùng lịch sử miền Nam
    Dù đớn đau bầm dập chẳng rên than
    Khi gục xuống là hẹn hò quật khởi

    Cò trắng ngàn năm bay chẳng mỏi
    Lưng trâu, sáo đậu ngóng mây chiều
    Bếp un dệt khói đan mùng lưới
    Giấc ngủ ru theo tiếng sáo diều

    Nước càng cao lúa càng cao
    Lúa lên theo nước vẫy chào áng mây
    Mồ hôi chảy xuống đất lầy
    Cho dài lá lúa cho đầy chén cơm

    Chiều chiều chống chiếc xuồng cui nhỏ
    Người chống sào như danh tướng chống gươm
    Khoát nước giữa đồng thăm đọt lúa
    Thêm yêu đồng ruộng mến quê hương
    Tay chai sỏi đá
    Vuốt đọt lúa non
    Ngỡ bồng con nhỏ, ngỡ ôm vợ hiền
    Lúa là ngọc
    Lúa là tiền
    Lúa ru ta lớn trong niềm yêu thương

    Lớp người chết dựng mùa xuân chín
    Xác lạnh buộc dây bó đệm bàng
    Thịt rã tan từ mùa nước nổi
    Bón phân đất béo, hột cơm vàng

    Lúa sạ vượt trời cao đất đứng
    Bừng bừng hào khí ngút trăng sao
    Trái tim bằng thép, chân bằng đá
    Nước xoáy lòng sông cuộn máu đào

    Màu toóc nâu Nàng Tây2 gạo Điểm
    Ngàn năm bốc khói bếp phù sa
    Hãy về sông Hậu sông Tiền cũ
    Dựng lại quê hương dưới mái nhà

    Dầu ăn gạo Mỹ chở tàu binh
    Đừng phụ gạo quê đất nước mình
    Lúa sạ vẫn còn nguyên rễ mẹ
    Địa đàng còn rộng chân trời xanh.

Miền Tây mùa nước lụt 1964

 

** Màu Mực Tím

Tôi đã tương tư màu mực tím
Từ ngày mới viết chữ A, B
Cong queo dòng bút tình thơ dại
Chữ nghĩa đẹp trong nét vụng về

Mỗi lần trái mồng tơi chín
Anh hái làm mực tím
Tặng cô bạn nửa ve bầu
Cô đem mực tím nhuộm màu áo thơ

Từ ngày nhuộm áo màu tim tím
Bè bạn gặp em ở cổng trường
Thường gọi : nầy cô em áo tím
Cho anh nhểu mực viết văn chương

Mỗi lần tan học tung tăng bước
Em đụt mưa chiều, trú nắng trưa
Dưới lá mồng tơi râm bóng mát
Ngồi nghe mẹ kể chuyện đời xưa

Mẹ nghèo chăm bón vồng khoai tím
Hái lá mồng tơi bán chợ làng
Đổi gạo, mua đèn cùng giấy mực
Nuôi con ăn học, mấy năm trường

Từ lúc em vào trường áo tím
Riêng anh thi rớt học trường tư
Khác trường khác lớp, tình chia ngả
Ký ức ngày xanh ... lớp bụi mù

Mẹ không phiền anh thi rớt
Nhưng thoáng nét buồn trong mắt sâu
Vẫn bán lá khoai mua giấy mực
Nuôi con, chờ đợi mùa thi sau

Để tự trách mình, anh cạo trọc
Học trò thi rớt hóa nhà sư
Đèn chong từ đó soi trang sách
Chữ nghĩa tương tư mắt học trò

Sợ lỡ mùa thi mẹ lại già
Gánh hàng oằn nặng, quãng đường xa
Bóng chiều nghiêng xế trên lưng mẹ
Con học đợi ngày chiếm thủ khoa

Bên song cửa sổ căn nhà lá
Khi mẹ gánh hàng họp chợ đông
Con ngỡ trong hồn, hoa phượng nở
Đẹp thay trang sách dưới đèn chong

Sương khuya rơi ướt cánh đồng
Ướt vai áo mẹ, uớt lòng sách đêm
Trăng mờ sáng tựa hoa đèn
Mẹ lo cơm áo, con tìm công danh

Mùa thi ấy, con vừa thi đỗ
Thì bóng từ thân đã khuất rồi
- Ai đẩy xe tang chầm chậm lại
Chờ hoa phượng rụng phủ quan tài

Mẹ buông gánh nợ đời đi vội
Cát bụi quay cuồng theo bánh xe
Ví biết mẹ già sao mất sớm
- Con tìm danh vọng để làm chi

Mây Tần ngày ấy thành mây trắng
Con ngỡ mây tang : tóc mẹ hiền
Ngước mắt nhìn mây con vẫn ngỡ
Mẹ mình họp chợ chốn cung tiên .



** Dưới Giàn Mồng Tơi

Kính tặng Mẹ

Mẹ già nấu rượu nếp than
Kiếm tiền trả bớt nợ nần thâm niên
Trán nhăn cày nếp ưu phiền
Bàn tay nào sạch ? Đồng tiền nào dơ ?

Cau già xa gốc trơ vơ
Trái đau trổ muộn bạc phơ mái đầu
Nửa đêm ngồi ngoáy cối trầu
Nghiền tan cay đắng trộn màu thời gian.

Nhìn màu tím rượu nếp than
Ngỡ ngồi hóng mát dưới giàn mồng tơi
Nghe mòn mỏi nhịp võng lơi
Thoáng hương cau ngát mây trời quê hương.

"Bần gie, đom đóm lập lòe
Năm mười chín tuổi, mẹ về với cha".
Hai mươi, nở nhụy khai hoa
Vầng trăng mười chín xế tà vì đâu ?
Mùa mưa cắm cá giăng câu
Mùa khô, bắt ách xe trâu băng đồng.

Hai vai gánh nợ con chồng
Tay nhen bếp lửa, tay bồng con thơ
Thở dài theo điệu ầu ơ
"Lấy chồng xa xứ, bơ vơ một mình
Bên ven rừng xứ U Minh
Trọn niềm dâu thảo, trọn tình mẫu thân
Bây giờ héo hắt tuổi xuân
Sáu mươi năm, sáu mươi năm mỏi mòn
Vầng trăng Xẻo Đước thôi tròn
Đường câu đă cuốn, lối mòn đã qua

Tàu xuplê một,
Tàu xuplê ba..
Con sông Cái Lớn, làng xa.. khói mờ
Trưa buồn nghẹn tiếng hitcô
Xót xa chim vịt bơ vơ gọi bầỵ

Ới sông Cái Lớn
Ới ngọn bần gie
Lửa đom đóm chẳng lập loè
Bao giờ mới thấy lối về quê xưa

(trích tập thơ "Lúa Sạ Miền Nam")



** Đường Vượt Biển

Nõn nà thay lá giao mùa
Đẹp sao sản phụ mới vừa khai hoa
Vút cao tiếng khóc tu-oa
Tưởng chừng nhạc khúc tình ca chào đời
"Đàn ông đi biển có đôi,
Đàn bà đi biển mồ côi một mình".

Người Mẹ xé khăn làm tã lót
Ủ con so, hòn ngọc trong lành
Chồng nghèo lên tận rừng xanh
Đốt than, hái ráng ủ tình tào khang
Phòng sanh nào khác cung vàng
Trên giường cữ khói, nữ hoàng ngự lên
Chồng là người lính trung kiên
Canh chừng giấc ngủ nàng tiên bên giường
Mùi thơm dầu chổi tỏa hương
Xông thơm da thịt nữ hoàng con sọ

Than hồng củ ráng, xông chăn gối
Ấm cả nhà xiêu, ánh lửa mờ
Vàng bạc trên đời không đổi được
Một hòn ngọc quí : đứa con sọ
Non ngày non tháng em nằm ngủ
Muối mặn, tiêu nồng, cơm dẻo thơm
- "Má nó ăn đi, đây sữa ngọt
Sữa nghèo chuyền máu để nuôi con".
Đợi tối người chồng làm giấy nợ
Hỏi vay bạc tháng mấy mươi phân
Buộc tay bà mụ đền ơn nghĩa
Rồi sẽ cày thuê trả nợ nần.
Nhìn thấy gói tiền, em khẻ hỏi :
- "Tiền đâu ghim kỹ, giống tiền vay ?"
Anh liền nói dối : - "Tiền cha mẹ,
Cứng cát mình làm lễ cột tay".

Cầm tờ giấy bạc vàng kim gút
Người vợ biết tiền chồng mới vay
Không nói ra mà lòng đã khóc
Khi bàn tay nắm lấy bàn taỵ
Đàn bà sống chết đường sanh nở
Đi biển mồ côi chỉ một mình
Chín tháng cưu mang đường vượt biển
Trăm năm hương lửa biết bao tình.

trích từ tập thơ "Lúa Sạ Miền Nam".



** Tà áo Tím

Trời ửng pha lê ngời áo tím
Đường lên trường cũ bướm hồng bay
Gió vừa đủ mát ru da thịt
Suối tóc thề buông như vẫy tay

Đá sợ gót sen bớt nõn nà
Biến thành nhung gấm dưới chân hoa
Lá rơi lót thảm trên đường mộng
Mở lối vào xuân tuổi ngọc ngà

Vở mới tương tư mười búp măng
Nâng niu chữ nghĩa giữa tờ hương
Nghe chừng hơi thở thơm tinh khiết
Thỏ thẻ lời chim tiếng hót vang

Băng trường lên nước màu thời gian
Em khắc tên em ở góc bàn
Năm mới đổi tên thay lớp mới
Em còn gởi lại một mùa xuân

Ép cánh điệp hồng trong vở cũ
Nhốt vào kỷ niệm chút tình thơ
Tàn niên học cũ, lên trường mới
Tiếc nhớ bâng khuâng thuở học trò

Nhớ buổi tan trường, chim vỡ tổ
Chờ em trước cổng dưới hàng sao
Phất phơ áo tím qua đường cái
Muốn cúi chào em chẳng dám chào

Em về lối cũ anh theo lén
Em bước nhanh, anh cũng bước nhanh
Đuổi bắt âm thầm tà áo tím
Ngàn năm còn đẹp dáng xuân xanh


Kiên Giang

***