Monday, 18 October 2021

Lá Số Vượt Biên

Phạm Hoàng Chương

Việt Báo Viết Về Nước Mỹ  https://vvnm.vietbao.com/a164201/la-so-vuot-bien 

 

[1]  Lá Số Vượt Biên

[2]  40 Năm Tan Tác

[3]  Từ Trại Tù Ra Biển Khơi

 

1.  Lá Số Vượt Biên

Tôi lần đầu nghe nói về Tử vi năm 16 tuổi, học đệ nhị ở Saigon.

Trong nhà có ông bác họ giải tử vi cho bà con trong gia đình, nghe bàn luận như vịt nghe sấm. Năm 23 tuổi đi dạy, 24 đi lính, mãi 26 tuổi được biệt phái về dạy lại mới được bác Hương, một bạn cũ của ba tôi, chấm giải giùm cho lá số tử vi. Còn nhớ mãi bác lập đi lập lại:
-Mệnh mày có Sát Phá Liêm Tham, hội Song Lộc, suốt đời không túng thiếu.

Nghe thì nghe vậy chứ không khoái chí mấy, vì đinh ninh mình sẽ làm giàu nhiều hơn là chỉ “ không túng thiếu” như bác nói. Năm 1973, tôi 29 tuổi, mở một tiệm sách và tạp hóa lớn ở Phanrang, tiền vào như nước. Đang khấp khởi mừng thầm vì “tam thập nhi lập”, thì đùng một cái, hơn 1 năm sau, Cọng sản vào, sự nghiệp sụp đổ, hết dạy học, đi tù cải tạo. Những năm sau đó, gian nan lao động vất vã, làm lò gạch, thợ mộc, dạp xích lô… cảm thấy tương lai bắt đầu đen tối, tôi cố gắng tìm câu giải đáp cho tương lai bằng cách tự nghiên cứu học hỏi tử vi, nhờ có dấu được một số sách về tử vi tướng pháp khi dẹp tiệm sách.

Năm 1977, phong trào vượt biên bắt đầu nhen nhúm khắp nơi trên toàn quốc,tôi tự chấm lấy cho mình lá số và chạy qua tham khảo ý kiến bác Hương, người con trai bác, và mấy người bạn giỏi về tử vi. Tuổi Giáp thân, sinh giờ Mẹo ngày 23 tháng 4 âm lịch, mệnh Thủy, tôi được cách Tham lang và Trường sinh đóng ở cung Dần ( sống lâu như ông Bành tổ), có Lộc tồn, Thiên mã ( học cao, tháo vát, kinh doanh giàu có), Phượng các, Bác sĩ, được Hóa Lộc ở Thiên Di và Hóa Quyền ở Tài xung và hợp chiếu.
Đó là số văn chương học giỏi, năng động, tài ba, kinh doanh giàu có, phú quí trường thọ. Cung Nô bộc có Tả hữu, Xương Khúc, Khôi Việt nên số làm giáo sư có đông học trò giỏi và bạn bè sang quí. Ngặt nỗi bị cách “Mệnh Kiếp Thân Không “ và cung Quan Lộc có Tướng quân, Phục binh, bị TUẦN nên tuy sắc xảo khôn ngoan mà cuộc đời thăng trầm lên voi xuống chó, công danh lận đận, nghề nghiệp thay đổi liên miên. Thân cư cung Thiên Di là số xuất ngoại, nhưng bị Triệt chận, nên tôi hoang mang không biết có vượt biên ra nước ngoài bình yên hay không.

Bấy giờ là chế độ bao cấp, đời sống cực kỳ khó khăn bi đát, tương lai của sĩ quan, trí thức chế độ cũ và con cái rất là tôi tăm, thê thảm, tôi thấy chỉ có con đường vượt biển là lối thoát duy nhứt cho gia đình. Em gái tôi theo chồng ra Qui nhơn làm giấy giả đi bán chính thức năm 79, tới Hongkong. Nhiều người trong tỉnh cũng đi vượt biên lọt, bắn tin về, tôi náo nức đứng ngồi không yên, nhờ bác Hương coi kỹ xem có hy vọng ra đi không.
Bác cứ chỉ sao Địa Không ờ cung Di, có Địa kiếp ở cung Mệnh chiếu lên, lắc đầu lia lịa:
-Đi vượt biên coi chừng “mạt”….
Tôi cãi:
-Nhưng mà Thân cư Di là số sống tha hương, Mệnh có Thiên Mã, Tràng sinh…là may mắn hanh thông, được đi nhiều nơi. Thiên mã ở Dần là Mã trạng nguyên, rất đắc lực. Không Kiếp tuy là sát tinh, nhưng Đắc địa, đâu phải hãm địa.
-Mã này chỉ đi loanh quanh trong nước thôi. Ông già tao cũng Thân cư Di mà chết ở nhà.

Tôi không tin tưởng bác Hương nữa, hay đúng ra không muốn tin, vì sau cuộc đổi đời, bác đoán sai cho mấy người, và họ đến kể tôi nghe chuyện thằng Hàng, con bác, mà người ta đồn là chính bác chấm tử vi đoán nó đi lọt, rốt cuộc bị công an bắt nhốt một năm tù mới được thả về. Tôi có linh tính kỳ lạ, biết trước sau thế nào cũng đi được, chỉ có điều trễ nãi thôi, vì bị sao Triệt chận ở cung Di. Địa không là sao ác, chuyên mang xui xẻo, nhưng lại nhờ Triệt mà giải được nguy hiểm, chuyển Hung thành An, hơn nữa cung Phúc đức tôi có Tử Phủ Vũ Tướng, Khoa Quyền Lộc, Quang Quí (Ơn Trên che chở), quá sức tốt, làm sao có chuyện xui xẻo mạt vận xảy ra. Trong 12 cung, sách nào cũng nói cung Phúc quan trọng nhất. Số tuyệt tự mà Cung Phúc tốt vẫn có thể có con . Mệnh xấu mà Phúc tốt vẫn có may mắn vào hậu vận.

Nghiên cứu đạo Phật từ năm 20 tuổi, tin ở nhân quả, nghiệp chướng, nên tuy gian nan lao động vất vã 7 tám năm trời, tôi vẫn lạc quan nuôi hy vọng bằng cách tụng kinh Pháp hoa, lạy Kinh Vạn Phật sám hối, bố thí phóng sanh làm phước, và tự hành hạ thân xác trong lao động nhọc nhằn để trả nghiệp. Biết mình có cách “Mệnh Kiếp Thân Không”nên cuộc đời lao đao lận đận, lại Tham Kiếp đồng cung ở Mệnh, “như người ngồi thuyền lênh đênh trên sóng lớn” (theo Thái thứ Lang), tôi chấp nhận thương đau và thường xuyên niệm Phật xin gia hộ.

Năm 1982, tôi đã 39 tuổi, bị cấm đạp xích lô (ở tỉnh nhỏ giáo sư mà đi đạp xich lô bị coi là cố ý bêu riếu chế độ), nên bán rẽ xích lô, xoay ra xin môn bài cho vợ buôn bán lặt vặt ở nhà sống qua ngày chờ thời. Một hôm có bà X, một người bạn quen mẹ tôi từ Saigon dẫn ra một anh chàng nhà giàu tổ chức ghe đi tại Hải chữ, biển Phanrang.
Anh hứa cho con cháu bà X và cha con tôi đi không trả tiền, nhưng chuyến đó bị mấy người chủ ghe gạt nên không thành. Anh bỏ về Saigon gầy lại, hứa sẽ gọi tôi vào đi khi chuẩn bị xong. Một tháng sau anh gọi vào thật, dấu 2 cha con tôi ở một căn nhà ở làng quê mấy hôm. Nóng ruột,tôi lên Saigon chơi, có người khuyên tôi đi coi ông thầy nổi tiếng coi đúng về vượt biên ở chùa Pháp Hoa, thầy bấm quẻ nói :
-Có phải người đàn bà móc nối, người đàn ông tổ chức, họ hẹn vài hôm nữa đi, phải không"
-“Dạ đúng”, tôi lạnh toát cả người.
-Chuyến này không có đi được, về nhà đi. Anh chắc chắn sẽ đi, nhưng chưa đi bây giờ, về nhà buôn bán tạm một thời gian nữa. Mà sao đi bỏ vợ ở lại,không đi cùng"
-Đi cả nhà nguy hiểm lắm thày ơi,lỡ có gì mất nhà,ở tù,chết cà gia đình.
Thày cho một lá bùa để bỏ vô ngăn tủ kính bán hàng. Quả nhiên một tuần sau, thấy con gái bà X. lủi thủi dẫn hai đứa con nhỏ trở về Phanrang đi học lại, vì chuyến đi ở Saigon bể.

Lúc đó, tình cờ tôi quen với Thành, con trai út cụ Thiên Lương ( thày tử vi nổi tiếng ở Saigon trước 75), bấy giờ đang làm công nhân viên ở Phanrang. Thành nói, ”Năm nay tiểu hạn anh vô cung Tý có Tử Phủ Vũ Tướng, có Khoa, Lộc, anh buôn bán có tiền. Số anh trước sau gì cũng phải đi, bỏ nhà cửa lại, vì cung Điền trạch có Đại tiểu hao và Thân cư Thiên di. Tôi nghe lời, bán ra mấy chỉ vàng mua hàng giao vợ ở nhà mở mang buôn bán, tiền vô áo ạt, quanh năm thoải mái rong chơi, tụ họp bè bạn tính chuyện vượt biên. Thành không rành về coi chi tiết nên giới thiệu tôi cho Đông, mới 30 tuổi,ở ngoại ô, theo công giáo,nhưng lại có nhiều kinh nghiệm tử vi chính xác.

Đông rât bình dân, giản dị, tử tế. Đông giữ được nhiều sách tử vi và mấy chục tập Khoa học Huyền bí cho tôi mượn về đọc mở mang kiến thức. Sau 75, tôi chưa bao giờ có một người bạn tâm đầu ý hợp và tốt bụng như thế. Hai đứa đạp xe lang thang đó đây, say mê nói chuyện về Tử vi, trao đổi kinh nghiệm, dẫn chứng sự kiện. ..Tôi đưa Đông coi lá số của đứa em trai đi du học Nhật trước 75, làm kỹ sư, bằng tuổi Đông. Đông coi kỹ, phát giác ra cách “Minh Lộc Ám Lộc”, trầm trồ tấm tắc khen ngợi mãi. Sau đó, Đông có vẻ trầm ngâm buồn bã:
-Không ngờ tuổi Tỵ mà lại có người được cách này. Trong 1 vạn người mới có 1 người được cách này đó anh. Em cũng tuổi Tỵ mà không ra chi. Ăn học lên đại học, chạy trốn lính, tốn hết bao nhiêu tiền của mẹ em, đi vượt biên mấy lần trần ai gian khổ, rốt cục chẳng ra gì, bây giờ an phận đi cuốc đất, trồng bậy bạ trong vườn sống qua ngày.

Tôi thấy tôi có Phượng các ở Mệnh, là cách xuất ngoại, như con chim tung cánh bay đi. Cụ Phan thanh Giản lá số cũng có Phượng Các mà đi qua Pháp một dạo. Thiên mã là cách dời đổi, đi xa. Thân cư Thiên di,có Song lộc,Tứ linh, đều là cách làm ăn thành công ở nước ngoài. Trong sách lại nói: ” người có Liêm trinh đóng Thiên Di, cả đời chỉ muốn đi”, đúng y chang, mà sao Đông và cả bác Hương đều không tin tưởng lắm. Bác Hương cứ lập đi lập lại:
-Số mày có Song Lộc, Thiên Mã, hưởng di sản cha mẹ, làm ăn có tiền,chế độ nào cũng no ấm suốt đời, không sợ đói, nghe tao ở lại đừng có đi mà mang họa.
Đông cũng nói:
-Anh mạng Thủy, mà cung Thiên Di toàn sao Hỏa. THủy khắc Hỏa, lại bị Triệt Kim, ngũ hành xung khắc chọi nhau chan chát, không xuôi chèo mát mái chút nào, đi sợ có rắc rối...

Tôi hoang mang, buồn nản. Sau nhà, có bà bói bài Tây hồi xưa coi nổi tiếng, lâu lâu tôi lén chui vô coi, hỏi có thấy gì thay đổi mới lạ không. Bà ta nói,” Không, tôi chỉ thấy trên đầu anh toàn là chư Phật ngồi”, rồi lấy tay chỉ một hàng 5 sáu lá bài “ddầm, già,và rô” màu sắc vàng đỏ sặc sỡ nằm trên lá bài bản mệnh mang số 7 do tôi bốc. Tôi ngẫm nghĩ,”bà này nói vớ vẩn”, nhưng rồi sau đó, sực nhớ lại mấy tháng nay tối nào cũng kính cẩn lạy sám hối mấy trăm vị Phật và tụng kinh Pháp hoa trường kỳ, nên chắc là chuyện Ơn Trên che chở ứng hiện vô bài, tự nhiên thấy rùng mình, ớn lạnh,vừa mừng vừa sợ.

Chương trình kêu gọi ngụy quân ngụy quyền đi “Kinh tế mới” phường xã ra rã thúc hối hàng tuần hàng tháng bên đít mà chưa thấy hy vọng ra đi nào le lói cả, tôi quay ra coi tử vi 2 đứa con, đứa nào cũng rõ ràng có số bỏ quê cha đất tổ, tha hương lập nghiệp vinh hoa phú quí . Số bà xã cũng có Hữu bật đơn thủ cư Mệnh, là số chắc chắn ly hương. Nếu tôi không đi được, làm sao vợ con sống tha hương được. Trừ phi có phép mầu. Cung con cái tôi có Đại tiểu hao và Cô Quả, sách giải chỉ có 2 con và sau này con cái phiêu bạt ly tán. Tôi đã chết 1 đứa con trai đầu mới 13 tháng tuổi vì bệnh rồi (vì có Đại tiểu hao và 3 Sát tinh Kình, Linh, Hoả chiếu vào cung Tử tức), chỉ còn lại 1 trai 1 gái.

Đi vượt biên kỳ này cũng định bụng chỉ đem theo đứa con trai mà thôi.
Đi cả gia đình lỡ bị bắt hết thì mất nhà, ở tù, lên kinh tế mới chết cả lũ. Chuyện ấy mà xảy ra thì tiêu hủy cả tương lai con cái, thà chết còn hơn. Lỗi ấy chắc chắn tôi sẽ ân hận suốt đời không bao giờ nguôi. Nhưng cung con cái có nhiều sao phú quí,phúc đức,may mắn, tại sao không thử một chuyến. Vượt biên ngày càng khó khăn nguy hiểm, thương đứa con gái 5 tuổi mềm mại, hiền lành bé bỏng, không nỡ đày nó vào cảnh sóng gió, súng đạn, thập tử nhất sinh ngoài biển khơi. Mỗi lần đạp xe chở 2 con xuống biển tắm, bé Quỳnh thường ngồi chùn lại trên cát không dám xuống nước, khâm phục nhìn thằng anh 10 tuổi can đảm vùng vẫy dưới sóng, cười đùa ầm ỹ. Cu Mẫn tuổi Quí Sửu, Mệnh đóng cung Sửu, có Hóa Quyền, Kình dương, Khôi Việt, có Tứ Linh, mắt sáng, phương phi, thông minh, khỏe mạnh, chuyên môn chỉ huy bắt nạt con nít hàng xóm. Một đứa như vậy mà khom lưng sống trong chế độ Cọng sản kỳ thị lý lịch thì còn gì là tương lai.

Bởi vậy vợ tôi đồng ý cho 2 cha con đi trước rồi tìm cách đưa 2 mẹ con sang sau. Năm đó là năm 83, tình cờ một hôm cùng tôi đi tắm biển và kiếm mấy người bạn đánh cá trong làng gần đó, Đông buột miệng bảo:
-Năm nay tiểu hạn anh có Nhựt Nguyệt sáng, lại thêm Đào Hồng Hỉ chiếu gia tang sức sáng, rất may mắn. Đại hạn lại có Song Hao, chủ về đi xa, dời đổi, anh có nhiều hy vọng đi lọt. Em đã từng chấm cho mấy người có Nhựt Nguyệt sáng và họ đều đi lọt hết. Anh nên thử thời vận 1 chuyến. Tin em đi. Tôi không bao giờ quên ơn Đông vì câu nói đó. Nó thúc đẩy tôi hơn bao giờ hết phải cương quyết ra đi, vì càng lớn tuổi càng khó xoay sở mưu sinh ở xứ người. Tôi coi lại tiểu hạn ở cung Sửu, có Âm Dương Xương khúc,Tả hữu,Khôi Việt. Trong sách nói, “Âm Dương Xương khúc nhi đắc lực”.

Tự nhiên, tháng ba năm đó, một người anh họ của bà xã tôi, cựu đại úy Chiến tranh chính trị đi tù cải tạo 8 năm ngoài Bắc được thả về, tìm gặp vợ chồng tôi rủ đi vượt biên do anh móc nối và tổ chức ngoài Nhatrang. Người anh gầy gò, nhỏ thó, nhưng 2 con mắt sáng quắc và nét mặt cương quyết. Theo tướng pháp Trung hoa, người có cặp mắt sáng không bao giờ chết yểu. Tôi tin anh có thể làm được việc, vì Nhatrang là quê hương thơ ấu của anh, và bà chị vợ tôi, có sạp vải lớn ở Chợ Đầm, rộng rãi chi tiền cho anh lo. Cứ vài tuần tôi lại đi xe đò ra Nhatrang hỏi thăm tin tức rồi về lại trong ngày để láng giềng khỏi nghi ngờ. Thỉnh thoảng anh hay chị vợ cũng vào Phanrang ghé chơi, báo cáo tiến trình tổ chức. Trước đó hơn 1 năm, 2 em gái tôi vượt biên lọt qua Thụy sĩ, nên công an, tổ trưởng, láng giềng hay để ý dò la theo dõi, đoán thế nào cũng có ngày tôi sẽ đi. Tôi phải mua xi măng, mướn thợ hồ đổ 1 đống cát trước nhà để xây cầu tiêu buồng tắm mới trong nhà, đánh lạc mọi sự nghi ngờ.

Trong 3 tháng, 2 lần tôi dẫn con ra theo tin nhắn của anh, 2 lần phải quay về cùng ngày vì tổ chức bể. Thời gian đó, bác sĩ Khương (cũng tính đi vượt biên) rủ tôi xuống làng Hộ diêm coi 1 thày chỉ tay nổi tiềng, ông nói tôi không có đi kinh tế mới, mà lại có 80% hy vọng đi xuất ngoại. Ông nói ở trong đám đông, tôi thường hay nắm chức vụ chỉ huy. Lên Đà lạt tìm gặp thày Hoàng Chiêm cầu xin một quẻ, thày coi rất kỹ, xác định có Quan thế Âm bồ tát che chở, cam đoan đi lọt. Thời còn đi lính năm 69, tình cờ gặp thày ở đảo Cam ranh có mươi phút, nhìn qua mà thày đã nói “anh sắp mặc áo trắng về lại dân sự”. Quả nhiên, sau đó được biệt phái về đi dạy lại. Một cô bói bài nổi tiếng gần nhà cũng cho hay, từ năm 84 về sau, cuộc đời tôi bắt đầu lên hương. Cô chỉ cái đường “Voyage” trên bàn tay trái tôi mà nheo mắt cười nói:
“Tương lai anh ở trong cái đường này, tin tôi đi”.

Lần thứ ba, tôi nhận được giấy báo của ông anh họ, dặn kéo thêm anh bạn trung úy Hải quân ở chung tù cải tạo để lái ghe cho chắc ăn. Không hiểu sao lần này tự dung tôi buồn não ruột, linh tính chắc phải xa vĩnh viễn vợ con, có lúc suy tính tới lui căng thẳng đầu óc, đổi ý muốn ở lại cho xong. Nhưng có một sức mạnh thiêng liêng nào đó, của lý trí, hay của Ngiệp lực (") bắt buộc tôi phải dấn thân. Giờ ra đi, nhìn đứa con gái ngây thơ ngồi chơi với mẹ trên bộ ván mà 2 chân như muốn khuỵu xuống, xót xa không nỡ bước ra khỏi nhà. Y như thái tử Tất đạt Đa nhìn vợ con lấn cuối trước giờ bỏ nhà đi tu. Phải chi nó đòi theo thì tôi đã thuyết phục bà xã cho nó đi luôn, nhưng nó chỉ hỏi; “Má, ba với anh Mẫn đi đâu vậy má"”. Lý trí và tình cảm dằng co rất mãnh liệt trong đầu óc tôi lúc bấy giờ, nhưng câu châm ngôn “Lòng mẹ là nơi trú ẩn chắc chắn nhứt trên đời” ngày xưa tôi đọc, hiện ra an ủi tôi, làm tôi nghẹn ngào, âm thầm gạt lệ ra đi.

Lần đó, chúng tôi xuống ghe, đi lọt tại bãi Lương Sơn, gần đèo Rù Rì. Ghe có 1 “bloc”, mà trai trẻ trong làng nghe tin kéo theo đi hôi, đông tới 84 người vừa già vưa trẻ chen chúc trên ghe, mực nước xăm xắp mạn thuyền.Trời tháng 7 âm lịch, đêm tối mưa gió sụt sùi, như có quỷ thần che mắt, công an tuần tra không thấy, mọi sự đều may mắn êm xuôi. Ngày thứ nhì, ra tới hải phận quốc tế, mưa bão ầm ầm kéo tới, nước phủ chụp đầu nhiều phen, có mấy lần ngọn sóng cao như nóc nhà lấu hai tầng, từ xa ào ào kéo tới ai nấy nhắm mắt chờ chết. Rồi hải bàn hư, mất hết phương hướng, con thuyền đi lạc lõng như người mù. Ngày thứ ba, ghe tắt máy, mấy chàng con ông già chủ ghe loay hoay sửa máy, tháo bù lon, con ốc ra bỏ một đống, ghe lềnh bềnh trên sóng, ai nấy xanh mặt, lo sợ thì thầm cầu nguyện. Ông anh họ hô hào mọi người xé áo quần ra cột lại làm thuyền buồm, theo gió mà đi. May sao mấy tiếng đồng hồ sau máy xình xịch nổ lại. Ôi chao là mừng. Nói sao cho hết nỗi sung sướng, sống đi chết lại, lúc đó.Từ đó ghe cứ rề rề nương theo phía Bắc mà đi. Sáng ra thấy mặt trời mọc bên tay mặt, chiều thấy lặn bên tay trái, cứ thế mà đi.

Tới đảo Hải nam sau 10 ngày, chức sắc Trung quốc và dân chúng kéo nhau ra đón, chụp hình, cho ăn, cho ngủ lại 1 đêm, mua dầu và gạo nước đi tiếp 3 ngày nữa tới HongKong thì mưa như trút nước. Cha con ôm nhau quấn tấm nylon nằm chịu trận trong thuyền dưới cơn mưa lạnh. Còn nhớ mãi đêm ấy là đúng rằm tháng 7, nằm êm ấm trong ngôi nhà lầu do cảnh sát đưa vào tạm trú, nghe cơn bão dữ ngoài khơi hoành hành, gió thổi ào ào ngoài cửa sổ, cây gãy răng rắc, cửa kính bể loảng xoảng, sáng ra nghe cảnh sát kể chuyện có cả mấy trăm chiếc ghe đánh cá xấu số bất hạnh bị sóng đánh chìm mất tích. Mủi lòng thương xót cho những ngư phủ thân xác vật vờ đáy biển, bỏ lại vợ con, làm mồi cho cá.

Cảm ơn Trời Phật che chở cho ghe con vừa kịp đến bờ bình yên, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Ơn này biết đến bao giờ con mới trả được.

Trên đảo Hong Kong, suốt mấy tháng trời, tôi vẫn còn ngơ ngẩn trong đầu với tiếng sóng vỗ mạn thuyền róc rách và câu nói tiên tri định mệnh văng vẳng của Đông:
”Năm nay tiểu hạn anh có Nhật Nguyệt sáng, Đào hồng Hỉ, anh đi lọt.”… Vĩnh biệt Đông, vĩnh biệt,,…với những tháng ngày êm đềm đàm luận tử vi, đã đưa đến kết quả thành công ngày hôm nay, biết bao giờ mới được gặp lại nhau… .

Suốt 8 tháng ở trại cấm Chimawan, tôi tiếp tục xem tử vi cho nhiều người, và có 1 lần giảng pháp cho các em Gia đình Phật tử rất thành công nên các anh em huynh trưởng mời tôi mỗi tuần 1 đêm tới giảng giáo lý, đa số là người Huế. Mồng 6 Tết năm Tý, tiểu hạn tôi bắt đầu chuyển qua cung Mệnh ở Dần, Lưu Lộc, Lưu Mã chạy vào nhập với Lộc Mã cố định. Lộc tồn chủ cho tiền bạc, nên tôi nhận được mấy tram “ddô” Mỹ em gái ở Thụy sĩ gửi cho. Lại có Quyền Lộc,Tướng Ấn, Mã khốc Khách tập trung, làm vận hội tôi bốc lên như diều, đang buồn bã thương nhớ vợ con nơi quê nhà mà bị ép đứng ra nắm chức lãnh đạo đoàn thể ngoài ý muốn .

Dân tỵ nạn lúc đó từ trại Heilingchau chuyển qua nhập với Chimawan làm một, anh em Huynh trưởng GDPT 2 trại mở 1 phiên họp khoáng đại, bầu tôi lên làm Chánh Đại diện giáo hội Phật giáo trại tỵ nạn Hongkong. Tôi từ chối vì có 1 thầy đại đức ở trại, xứng đáng hơn tôi. Tôi nói tôi không nắm vững hạ tấng bên dưới, anh em cứ nài ép, nói, “thày chỉ làm cố vấn, còn anh hồi ở Việt Nam có tham gia GDPT, rành giáo lý, lại trình độ giáo sư, sĩ quan VNCH, biết tiếng Pháp tiếng Anh, đủ uy tín và tư cách làm Đại diện hơn”. May mà toàn thể các anh trưởng ban trong Hội quí mến và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ nên phong trào Phật giáo ở trại lên áo áo, mặt chìm có lễ tụng kinh cúng Phật hàng tuần, mặt nổi có sinh hoạt gia đình Phật tử ngoài sân, lôi cuốn dân tỵ nạn Việt Hoa tham gia đông đảo, ban giám đốc Trại rất nể mặt.

Chúng tôi đều đặn hàng tháng tổ chức tổng lao động vệ sinh trại một lần, hay giúp đỡ nhân lực cho ban giám đốc trại trong nhiều công tác phục vụ đồng bào tỵ nạn. Một hòa thượng người Anh đến thăm trại, thuyết pháp trước gần ngàn người tham dự, được các anh em kính cẩn dàn chào tiếp đón, tổ chức chu đáo trang nghiêm. Khắp trại đêm đêm chỗ nào cũng nghe tiếng tụng kinh niệm Phật, khói nhang nghi ngút, tạo nên một môi trường đạo đức tốt cho cộng đồng tỵ nạn, không còn cảnh trộm cướp, đánh lộn, chửi mắng nhau hỗn loạn như trước. Phong trào càng lên cao với sự chuẩn bị tổ chức Lễ Phật đản rằm tháng tư, vô số Phật tử (có thân nhân tỵ nạn làm việc ngoài trại gửi tiền cho) tiếp tế tiền bạc, cúng tiền rộng rãi. Anh em dự định tổ chức 1 đêm văn nghệ thật lớn và dựng Lễ đài thật cao. Tôi vô cùng bận rộn trong trách nhiệm, quyền hạn, hội họp, thuyết pháp, viết kịch, tập kịch, và liên lạc Ban giám đốc trại. Gia đình nào có cúng giỗ cũng mởi “chánh đại diện” tới dự cho kỳ được.

Một tuần trước ngày Phật đản, đột ngột tôi được chuyển ra Trại 3 khám sức khỏe đi Mỹ, không kịp thấy cái kết quả rực rỡ của buổi văn nghệ và lễ đài mà nhiều người sau này ra gặp tôi kể lại. Ngày Phật đản ở trại 3 tôi cũng cùng 1 số anh em lên xin phép Trại trưởng cho tổ chức Lễ Phật đản cấp tốc cho đồng bào tại đây. Sau đó, vì saoThiên mã cố định và Lưu thiên mã đồng cung mà tôi di chuyển liên miên, bay từ Hongkong ghé Tokyo, qua Manila ở Phi, từ Phi qua Mỹ, từ phi trường Los Angeles xuống San Diego, và từ San Diego lên Santa Ana chơi nhiều lần bằng xe hơi. Vi có Lộc Mã và Lưu Lộc Mã đồng cung, thêm Hóa lộc chiếu mà tôi mang 2 túi xách tay đầy nhóc hàng T-shirt Trung quốc từ Hongkong qua Phi bán, vốn một lời hai mươi, sống thong thả suốt mấy tháng trời ở Phi. Chưa hết, qua Mỹ ở nhà cô em họ bảo trợ ăn ở free, còn được trợ cấp xã hội AFDC hơn 500 “ddô” và 250$ food stamps 1 tháng, lúc đó là một số tiền rất lớn đối với những người lìa bỏ quê hương tay trắng qua Mỹ tỵ nạn như tôi.

Sự bộc phát danh tài hưng vượng năm Tý, với những sao phú quí tốt đẹp hội tụ, làm tôi bắt đầu chú ý tới tầm quan trọng của tiểu hạn mỗi năm trong Tử vi, cũng như sức mạnh của tiền định, bởi vì từ đây, tứ cố vô thân, mất hết nhà cửa tiệm buôn, rơi khỏi vòng tay thương yêu che chở của đại gia đình ở Việt nam, phải nuôi một đứa con với hai bàn tay trắng bơ vơ và một kiến thức lam nham trên xứ người xa lạ, tôi cần biết trước vận hạn từng năm một để TIẾN hay THOÁI cho đúng lúc.

Là Phật tử, tin vào số mạng, tôi vẫn quan niệm không phải cứ ỳ ra mặc cho số mạng lôi kéo, mà phải dùng trí tuệ (TRÍ), đạo đức ( BI), và nghị lực (DŨNG) của chính mình để hành động đúng đắn trong cuộc mưu sinh, nương theo những chuyển động, phối hợp mầu nhiệm của các sao trong Tử vi trong từng tiểu hạn một năm và từng đại hạn 10 năm… Tử vi như kim chỉ nam, người bạn thân, giáo sư cố vấn, hướng dẫn tôi xoay sở trong những năm đầu ở Mỹ, và nhiều năm về sau... Trời đã cho tôi một cái khiếu đặc biệt, tại sao tôi lại không biết khai thác nó, để tự lái đời mình, giúp mình, gia đình mình, và giúp những người xung quanh tiến bước an toàn trên con đường đời gai góc bí mật .

Ở Việt nam, tuy gò bó như trong một cái nhà tù lớn, nhưng tôi còn nhà cửa, tiền bạc, buôn bán thoải mái, đâu phải lâm vào con đường cùng mà liều mạng vượt biên ra đi vào mùa biển động không tính toán cân nhắc lợi hại. Tôi cũng biết quí mạng sống, cũng biết sợ chết như mọi người. Bỏ nước ra đi là một quyết định sống chết, một mất một còn, phải nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng. Máy móc tốt, xăng nhớt lương thực đủ, bãi tốt, ngưởi chỉ huy giỏi là một chuyện, mà may mắn hay không là một chuyện khác. “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Nếu chẳng may thất bại, nhà cửa sẽ bị tịch thu, tôi vào tù ngồi lại,vợ con sẽ mất hộ khẩu, ra đường ở, hay đi kinh tế mới.Tôi yêu Tự do, nhưng nếu không có Ơn Trời che chở,không có Tử vi bảo đảm một chuyến đi an toàn, một tương lai sáng sủa hơn, thì giờ này ngồi đây, nghĩ lại, …có lẽ chưa chắc ngày đó tôi đã đủ can đảm liều lĩnh ra đi, nông nỗi đánh đổi tánh mạng 2 cha con lấy 2 chữ Tự do ở phương trời góc biển ngàn dậm xa xôi.

Tử vi ơi,Tử vi …xin cám ơn!


CP
 

 

2.  40 Năm Tan Tác

Việt Báo Viết Về Nước Mỹ
Bài số 4448-14-29848vb6013015

* * *

Chuyện bắt đầu từ 1964, khi tai họa dồn dập xảy đến đổ lên đầu gia đình Lam.
Ba làm hiệu trưởng trung học bán công Phan rang, mẹ có căn tiệm áo quần giày dép
ở mặt đường phố chính. Bà cô họ, tên Hòa, ra Bắc đoàn tụ với chồng năm 54, để lại 6
căn nhà cu, ông bà để lại cho ba mẹ quản lý cho thuê, hơn ngàn bạc một tháng, phụ
vào lợi tức đi dạy và buôn bán khiêm nhường nuôi đám con đông. Cha cô là chú ruột
của ba, mẹ cô là cô ruột của mẹ, ông bà lúc sinh tiền không có con trai, nên nhận ba
làm con trai thừa tự.

Cuộc sống đang bình yên thì tháng 10, ba mất vì tai nạn xe ở Sông Mao, bỏ lại mẹ với
9 đứa con. Lam, con trai đầu, đang học Đại học sư phạm Huế. Em gái út mới lên 2.
Lam về chịu tang ba, đường xá xa xôi, hư hỏng, phải “đăng bo”xuống xe đi bộ mấy
đoạn, phải ngủ 2 đêm ở Đà nẵng và Ninh hòa, tờ mờ sớm ngày thứ ba mới tới Nha
Trang, hấp tấp vô nhà xác bệnh viện, vuốt mắt cho ba.
Tháng 11, bà ngoại mất vì lao thận, sau mấy tháng nằm liệt giường. Hai nấm mộ đắp
xong thì đầu tháng 12, mưa to gió lớn, lũ lụt từ ngoài Trung kéo vào, đập Đa nhim
vỡ, cả thành phố Phanrang chìm trong biển nuớc cao 4 thước, trâu bò xe cộ nổi lên
lềnh bềnh,trôi theo dòng nuớc chảy xuống biển. Mẹ hốc hác xác xơ, khóa cửa nhà,
dẫn bầy con nhỏ lội nước chạy lánh nạn, tắp vô nhà lầu hai tầng bà con gần đó. Đúng
là “lụt năm Thìn”. Lụt ngập 4 thước, xe vận tải chở cả trăm bao tạ đường cát ở Saigon
về, đứng bánh giữa đường trước căn tiệm mẹ, đường ngọt tan trong nước, xe nổi lên
vật vờ nghiêng ngả trôi theo dòng nước.

Nhà một nơi, tiệm một nẻo, khi nước rút, nhà ở đồ đạc ngập bùn bê bết, các con còn
nhỏ, mẹ phải nhờ người quen giúp tẩy rửa cả tuần mới xong. Căn tiệm bán quần áo,
lụt tràn vào 3 thước nước, hư hỏng hết hàng hóa. Tết năm đó Lam về nhà, ra khấn vái
hai nấm mồ mới đắp ngoài Nghĩa trang, tối thắp nhang bàn thờ Phật và ông bà, nhìn
đèn cầy leo lét thê lương, ngồi ăn cơm với đám em mất cha buồn rầu ngơ ngác. Anh
cả mắc đi học xa, nên mẹ một mình lo cho 8 đứa con còn lại, thức khuya dậy sớm, lo
lắng đến nám phổi, phải nhờ cô y tá quen tới chích trụ sinh thường xuyên.

Qua 65, một hôm có bà bạn đi ngang tiệm mẹ, tạt vô tặng bài thơ tựa đề “Gượng
sống”, nói của một vị bồ tát xuống “cơ” cho. Mẹ đọc tới đâu, nước mắt chảy tới đó,
tìm hỏi thăm cô đồng tử hầu “cơ ”ở đâu, xin hội kiến. Cơ này là cơ đặc biệt, chỉ có cô
này đụng tới con cơ, ngài mới giá lâm. Ngài xuống “cơ ” an ủi mẹ, cho pháp danh,
khuyến khích mẹ can đảm lên, năng làm phước thiện, ở trên sẽ thường xuyên yểm
trợ giúp đỡ gia đình.

Từ đó, mỗi khi có chuyện cần, mẹ nhờ cô đồng tử “hầu cơ”giúp cho gặp ngài, đôi khi
các vị Bồ tát khác cũng cùng xuống, cho thơ khuyến tu, dạy đạo, chỉ dẫn giúp đỡ mẹ
vượt qua khốn khó và đối phó với nhiều vấn đề tài chính khó khăn. Ngài hướng dẫn
mẹ đòi lại ngôi nhà cũ đất rộng bà cô để lại đang cho thuê ở ngã ba, phá bỏ, vay tiền
xây nhà đúc mới kiên cố 2 mặt cửa, giới thiệu một nhà thầu khóan đáng tin nhất
trong tỉnh để xây nhà.

Có lần, ngài cho cả vong hồn ba và bà ngoại xuống gặp gia đình, nói chuyện, làm thơ
tặng mẹ. Ba cho biết đi theo ngài tu học, bà ngoại thì nhờ lúc hấp hối niệm hồng
danh A di đà liên tục nên sanh vào cõi tiên, an nhàn cai quản cả trăm loài chim. Ngài
còn đi dò tìm, cho hay ông ngoại hiện đầu thai vào làm con trai một nhà giàu bên
Pháp, bà cô của mẹ hiện là một sư cô ở Huế. Mẹ nhờ vậy, hướng về Phật pháp như cái
phao của người sắp chết đuối, như nguồn an ủi còn sót lại, tụng kinh, niệm Phật,
cúng chùa, cúng cho cô nhi viện sữa, gạo, tiền, cúng dường tăng sinh theo học ở chùa
Tỉnh hội, ủng hộ tiền bạc giúp một sư cô trong tỉnh trùng tu lại ngôi chùa xưa cũ nát.
Cuối 1967, Lam ra trường xuống lục tỉnh dạy, bắt đầu giúp được cho gia đình thì xảy
vụ Tết Mậu thân, bị nhập ngũ, ra sĩ quan lính địa phương, đến cuối 69 được biệt phái
về dạy lại vì trường học thiếu giáo sư. Qua 70, nhờ đã tòng quân, xin được về
Phanrang dạy, ở cạnh mẹ và em, lương tháng Lam đưa hết cho bà thêm vốn mua
bán, lấy vợ đỡ đần mẹ mua bán nuôi em... Chiến tranh ngày càng ác liệt, mẹ chơi
huê,vay tiền vào Saigon cất hàng buôn bán, gửi tiền nuôi Long, em kế Lam, học lấy
cử nhân luật, rồi chạy cho em hoãn dịch để được ở Saigon tập sự luật sư, hy vọng làm
có tiền sau này phụ bà lo cho đám em đông.

Năm 71, mẹ đòi lại một căn phố cho thuê của bà cô họ để lại trước khi ra Bắc năm 54,
thay mái mới, lót gạch hoa cho hai vợ chồng Lam ra riêng làm ăn. Lam bỏ tiền kéo
cửa sắt, mở tiệm sách, đi dạy, giao vợ ở nhà buôn bán, chơi huê dành tiền mua được
miếng đất lớn gần bến xe đầu tư. Năm 73, chiến tranh leo thang, sợ đứa con thứ ba
vào lính, mẹ cố gắng lo cho Tùng đi Nhật du học. Chưa được 2 năm thì “30 tháng tư”,
Việt cọng vào, Saigon nhốn nháo, đứt liên lạc, Tùng lạc lõng xứ người, phải tự lực
cánh sinh. Long 27 tuổi, sắp ra luật sư, tương lai sụp đổ, thất thểu bỏ về Phanrang,
cuốc đất trồng mía ở Sông Pha, trên miếng đất mẹ đã lo xa mua rẻ trước đó một năm.

Năm 75 đó, tai họa đổ lên đầu gia đình lần nữa, cùng với cộng nghiệp toàn dân miền
Nam gánh chịu: quân Bắc Việt vào, quân trong Nam tan hàng từ ngòai Trung chạy
vào, tỉnh trưởng Ninh thuận bỏ chạy, kho súng tiểu khu bị cướp, dân theo lính lấy
súng cướp phá các hiệu buôn. Ngày 1 tháng 4, cửa sắt tiệm nhà mẹ bị bắn khóa, lính
kéo toạc ra, cả trăm người ùa vào hốt của, tủ kính dày 5 ly đầy vải vóc tơ lụa áo quần
cao 3 thước bể loảng xoảng, gia đình mất sạch gần hết tài sản.

Qua tháng 5, nghe cán bộ ngoài Bắc vào kể mỗi hộ chỉ được quyền có một nhà, mẹ ký
giấy tay bán chui căn tiệm nhỏ lầu đúc ông ngoại để lại có 5 cây vàng, coi như cả nhà
chỉ còn ngôi nhà to 2 cửa ở ngã ba.. Cô Hòa ngoài Bắc đã chết, chỉ còn lại cô Nghệ là
chị cả, gửi thư tay nhờ người cầm vào xin mẹ bán gấp mấy căn nhà cô Hòa ủy quyền,
hẹn tháng 7 vào. Mẹ chỉ kịp bán chui 1 căn phố kế bên nhà Lam được 2 lạng vàng,
còn thì nhà nước cộng sản tịch thu hết 5 căn còn lại cho cán bộ ở.

Cô vào thăm mẹ và các cháu, ra ngồi bên mộ bà cô mất năm 54, khóc nức nở, tiếc
công cha mẹ ngày xưa khó nhọc làm ăn để của cho con mà bây giờ nghèo túng cũng
không được hưởng trong lúc tuổi già. Chồng cô Hòa là đại tá về hưu, đảng viên, từ
Bắc vào Phanrang chạy chọt cũng không xin được, vì miền Nam đang trong chiến
dịch đánh “tư sản”.

Tiệm mẹ tuy bị cướp sạch mặt tiền, vẫn bị chánh quyền mới bắt đóng thuế “siêu
ngạch”, Lam nhớ đâu khoảng 1 triệu rưỡi 2 triệu gì đó. Mẹ sợ bị tịch thu nhà, hay bị
“đánh tư sản” phải học cải tạo, nên vót vét bán hàng sót lại dưới nhà kho lấy tiền nộp
thuế cho đủ số... Tiệm sách của Lam tuy không ai thèm bắn cướp, nhưng mấy em học
sinh nhận lệnh Ty văn hóa, đạp xe ba gác tới tịch thu sách “đồi trụy” chở đi hết, kể cả
sách giáo khoa toán, lý hóa, vạn vật….

Lam đi tù cải tạo, hết dạy. Long từ ông luật sư biến thành anh nông dân trắng tay
trên rừng, chỉ có mỗi Tùng ở nước ngoài, đang học tiếng người lõm bõm, giờ đây phải
tự lực nuôi thân vì bưu điện hai nước không liên lạc nhau, mẹ cũng không còn tiền
để gửi. Hoàn cảnh gia đình trở lại gần như trắng tay như sau cơn lụt 11 năm trước, chỉ
khá hơn một chút ở chỗ các con đều đã lớn hơn, biết tìm cách tự lo cho bản thân, hay
trốn ra nước ngoài...

Minh Châu, em gái kế Long, có nghề may nên xin vào làm công nhân cho quốc
doanh gần nhà để hộ khẩu có người làm công nhân viên nhà nước, khỏi bị ép đi kinh
tế mới, an phận ngày 2 buổi, lương ba cọc ba đồng. Huệ tốt nghiệp trung học, nhờ
tham gia Đoàn và hạnh kiểm tốt, được chọn đi học khóa kế toán, về làm kế toán
trưởng cho Lâm trường gần nhà. Mẹ đóng một bên cửa tiệm, bên kia hé cửa duy trì
một tủ kính nhỏ bán lặt vặt kiếm đồng ra đồng vào. Một lần, mẹ mua hàng ở Saigon
về, dọc đường xe bị công an chận xét ở rừng Xuân lộc, không quen hối lộ nên hàng
hóa mẹ bị vất hết xuống đất, đành ngồi mếu máo giữa rừng lạnh lẽo giữ của, gần sáng
mới quá giang được xe khác tử tế chở về dùm. Từ đó, các con không cho mẹ đi
Saigon cất hàng nữa.

Liên Hoa, em kế Châu, chồng đi học cải tạo, lăn ra chợ buôn vải và thuốc tây, cầm
mẩu, ai hỏi, chạy tới chỗ dấu hàng, cầm đem tới. Rồi mặt tiền buôn bán bị trưng
dụng làm hợp tác xã vì ngay ngã ba địa điểm tốt, gia đình rút ra phía sau ở.. Liên
Hoa đảm đang, ban đêm mở quán giải khát nhỏ ở cửa hông sau nhà kiếm tiền giúp
gia đình, ban ngày ra chợ trời bon chen bán vải, thuốc tây, tối về hì hục làm kem
chuối phết nuớc cốt dừa bỏ tủ lạnh bán. Hồi đó quán lớn ngoài phố dẹp hết, nên
những quán nhỏ bán với tính cách gia đình trong hẻm mấy tiếng đồng hồ ban đêm
được khách chiếu cố đông và công an khu vực làm ngơ. Dưới Huệ còn lại 3 em, Hà
học Đại học sư phạm 3 năm ở Saigon, 2 đứa út trung học, Việt và Thanh Hy, học lớp
9 và 8 trường gần nhà, ngoài giờ sinh hoạt học đường, chỉ phụ việc nhà lặt vặt.

Lam học cải tạo một năm về, bị quản chế 6 tháng. Biết câu “lao động là vinh quang,
buôn bán là bóc lột”, đóng cửa tiệm, cùng vợ ra làm lò gạch, chồng xúc đất, vợ phơi
gạch. Rồi Lam ho ra máu, xin qua tổ hợp thợ mộc gần nhà làm, rồi xin làm cho ty y
tế trồng thuốc nam, cuốc đất, lại nhảy qua làm tổ hợp điêu khắc xuất khẩu, kiếm
chuyện làm cho công an khỏi để ý. Nhờ có học trò cũ cha làm khu trưởng nên không
bị ép đi kinh tế mới, hai vợ chồng bán lần đồ trong tiệm ra ăn, sinh thêm một con gái
năm 78 cho đủ cặp rồi nghỉ luôn.
Thời kỳ đó, chế độ hộ khẩu, công an khu vực rình mò kiểm soát đời tư người dân chặt
chẽ, đi lại hay tạm trú ngủ đêm nhà ai phải xin phép, trình giấy. Mua bán là bóc lột,
lao động là vinh quang, kiếm ăn khó khăn. Con cái ngụy quân, ngụy quyền” không
cho học lên đại học. Cộng sản ngăn sông cấm chợ, đổi tiền hai ba đợt để bần cùng
hóa nhân dân, đẩy lên kinh tế mới thành phần nghèo thất nghiệp, thiên hạ oán hận
ta thán khắp nơi. Những kẻ can đảm, nhìn xa thấy rộng, bắt đầu rục rịch lén lút vượt
biên.

Năm 77, một gia đình thương gia Hoa kiều ở thành phố vượt biên ở bãi Ninh Chữ, ra
khơi bị tàu Liên Xô bắt đem vô Vũng tàu, giao cho nhà nước bị nhốt tù. Đi cả gia
đình lọt là một đại phúc, nhưng không phải dễ. Một người bạn cũ Lam đi chui đâu
trong Nam, nghe nói ghe chìm, chết bỏ lại vợ 2 con.

Năm 79, Luận, chồng Hoa, học cải tạo về, hợp tác với ai đó có ghe, có bãi, lén lút tổ
chức đi ở Bình sơn. Hoa dẫn em gái Thanh Hy theo chồng xuống biển, đêm khuya bị
bể, Luận chạy thoát ra Qui nhơn, 2 chị em chậm chân bị bắt giam. Luận cho em gái
vào Phanrang kéo Hoa đêm khuya leo rào kẽm gai từ trại tù ra, chạy lên ga xe lửa,
vừa lúc tàu hú còi chuyển bánh… Hoa chạy ruợt theo, nhân viên trên tàu đưa tay ra
kéo lên. Số Hoa may mắn, nhờ mẹ chồng lo cho 2 vợ chồng theo chuyến bán chính
thức người Hoa, từ Qui nhơn lọt qua trại tỵ nạn Hongkong, bắn tin về nhà. Mẹ thở
phào, cảm ơn Trời Phật, thêm một đứa con thoát ra nước ngoài.

Thanh Hy bị đuổi học ngang lớp 11 vì tội vượt biên, thấy mẹ lo cho chị Hà và anh Việt
học đại học ở Saigon, muốn phụ giúp gia đình, xin ít vốn đi buôn trà và cà phê đường
Lâm đồng-Phanrang. Đám đàn bà trong ban phụ nữ ganh tỵ con nhà “tư sản” có chị
đi vượt biên, bắt Hy đi thủy lợi đào mương một tháng trên Sông Pha cho bõ ghét. Mẹ
thương xót con gái út 17 tuổi thất học, vất vả lăn lộn đi buôn chuyến, không biết
tương lai trôi giạt về đâu với chế độ khắc nghiệt này, tìm vào Saigon, qua giới thiệu
một người thân, tới nhà một thày tướng số nổi tiếng, ngụy trang dưới danh “nha sĩ
Cát”, hỏi về tương lai con cái. Thày bói, thày tướng thời đó bị bắt di học cải tạo, nằm
trong chánh sách bài trừ mê tín dị đoan, nên có ai tin cẩn giới thiệu mới dám coi cho
khách.

“Nha sĩ” quan sát khuôn mặt, dáng đi, hỏi mẹ có phải góa chồng không. Mẹ giật
mình gật đầu.Thày trấn an:
- “Bác đừng lo, chính nhờ bác trai mất mà bác chịu thương chịu khó nuôi con, hướng
về Phật pháp, siêng làm Phật sự, chuyên lo làm phước, số bác chuyển xấu thành tốt.
Con bác đứa nào cũng biết sự hy sinh đó, kính thương bác, tự lo lấy thân, lo cho bác.
Bác ngày xưa từng là bà chủ, cơ ngơi lớn, bà con trong tỉnh đều quí trọng, bây giờ tuy
không còn giàu nữa, nguồn tiền của bác sẽ không lúc nào cạn. Một số con bác hiện ra
ngoại quốc, một số còn trong nước. Có người ở trong quân đội, có người công danh
sắp sụp đổ tan tành, nhưng ai rồi cũng sẽ gặp may mắn, có gia đình con cái sự nghiệp
trở lại, và tất cả sau này sẽ gặp lại nhau, về thăm và đoàn tụ với bác. Tuổi thọ bác rất
cao, bác sống tới 82 tuổi.”

Luận và Hoa ở trại tỵ nạn Hongkong, chờ Mỹ cả năm chưa bốc nên nóng ruột, nhân
phái đoàn Thụy sĩ vô trại thông báo cho định cư nhân đạo, bèn đăng ký đi Suisse, cứ
nghĩ ở nước trung lập thì dễ về VN thăm nhà hơn ở Mỹ là nước “kẻ thù”. Sinh kế gia
đình lúc đó ở lại thật tiêu điều, chính quyền cấm mua bán nên mặt bằng phía trên bỏ
trống, mẹ làm đơn xin lại mở tổ hợp nón lá, tạo công ăn việc làm cho các phụ nữ
thành phố. Hoa đi rồi nên quán kem đóng cửa, mấy mẹ con sống tằn tiện đùm bọc
nhau, bán dần giường tủ, bàn ghế, đồ dùng trong nhà ra ăn.

Năm 80, tổ hợp nón lá của mẹ không biết ra sao, chứ Lam làm tổ hợp điêu khắc xuất
khẩu không kiếm được mấy đồng, phải ăn thâm vốn. Lam bỏ một lạng vàng ra mua
chiếc xích lô đạp quanh quẩn trong thành phố kiếm sống. Ở Saigon, không ai cấm “
ngụy quân “ đạp xích lô kiếm sống nuôi gia đình. Nhưng tỉnh nhỏ, “phép vua thua lệ
làng”. Đạp đuợc một năm thì công an chú ý, nói Lam “con nhà giàu, dân trí thức” có
em ở nước ngoài mà giả đò đạp xe, chở khách là có ý đồ, làm “giao liên” cho tàn quân
“ngụy”, nên cấm. Lam cười nhạt, bán rẻ xích lô.
Cũng may lúc đó phường cho buôn bán nhỏ trở lại, lấy thuế điều hành công việc, nên
Lam bảo vợ nộp đơn xin mở lại tiệm tạp hóa, ngồi nhà dạy con học, nghe ngóng tìm
mối vượt biên. Những năm đó, thiên hạ dở sống dở chết, lớp đi kinh tế mới, lớp cầy
cuốc lên rừng khai đất làm rẫy, ăn độn bo bo khoai độn, rất ít người mở tiệm buôn
bán, Lam may mắn có cửa hàng, lại giỏi kiếm hàng theo nhu cầu khách, lanh lợi mua
bán có tiền, lai rai sắm vàng, tính chuyện vượt biên.

Năm 81 Huệ thấy ở lại VN không có tuơng lai bèn bỏ nhiệm sở, cùng em gái út là
Thanh Hy đi ghe người quen giới thiệu ở Tuy hòa, ra khơi mấy ngày hết nước uống,
may được tàu Na Uy vớt đưa về gởi tạm ở Singapore. Liên Hoa lập tức bảo lãnh 2 em,
chỉ 2 tháng sau ba chị em đã đoàn tụ ở một thành phố Nam Thụy sĩ, sát biên giới Ý.
Mẹ mừng rỡ, rưng rưng nước mắt, vào bàn thờ Phật đốt nến thắp hương, ngồi quỳ
hàng giờ tạ ơn: bốn đứa đã thoát, ba gái một trai.
Ba em gái đi lọt trong 2 năm liền khiến công an địa phương tập trung chú ý vào đám
con còn lại, nhất là Lam, bắt đầu gài người theo dõi rình rập. Lam làm chủ tiệm buôn
ngay phố chính, có vợ 2 con, muốn đi cũng khó. Vắng mặt 2 ngày là láng giềng biết
ngay, đồn lan ra khắp xóm, nếu kéo nhau vào Saigon hay lục tỉnh nằm chờ đi mà bể
thì trở về lại không ở tù cũng mất nhà, bị buộclên kinh tế mới... Có một người trong
đám được lệnh theo rình, nhưng mang ơn Lam giúp đỡ vật chất lúc ở tù về, tới nhà rỉ
tai,“ Công an, tổ trưởng, tổ phó biết ông đang tính đi, đang theo dõi, ông phải cẩn
thận…”. Lam chối đây đẩy,”làm gì có, tiền đâu mà đi”. Thời buổi này không dám tin
ai, ngay cả bạn bè thân.

Long lúc đó đã bỏ rẫy mía, với bằng cấp cử nhơn luật cũ, đươc nhận vô làm nhân viên
nhà nước, đạp xe một ngày 20 cây số lên xuống Phương cựu, phụ trách sổ sách cho
công ty chế biến xi măng quốc doanh, tháng tháng lãnh 10 kí gạo và mấy chục bạc,
dẫn vợ và con gái nhỏ từ Saigon về sống bám mẹ. Long bất mãn chế độ, nuôi mộng
thoát ra nước ngoài cứu đói vợ con, nên ngoài giờ làm, chịu khó học lén thêm Anh
văn. Lam đưa vợ Long mấy ngàn đồng làm vốn, nấu chè gánh ra chợ bán, được hai
tuần thì cụt vốn. Long biết anh có ý cũng ra đi, xin anh giúp cho ít vàng đi vượt biên,
khi có mối tốt. Lam bảo đừng lo, rồi căn dặn:
- Lúc này công an chìm nó theo rình ngặt lắm, không thể đi cả hai vợ chồng, phải đi
50/50, gia đình tách ra làm hai, nửa đi nửa ở, lỡ có bể, chạy về không ai biết.
- Em biết, em chỉ đi một mình thôi, đem con gái theo lỡ gặp hải tặc, có bề gì…
Lam sẵn sàng giúp, nhưng số Long còn trong đại hạn xấu, nên bị bắt. Hè 83, khi Lam
có mối đi ở Nhatrang, toan kêu em từ Saigon ra, thì Long đã bị tóm vì vượt biên bể ở
Vũng tàu mấy ngày trước.. Nguyên do chỉ vì có đứa xin đi hôi mà chủ ghe đuổi xuống
không cho, nên chạy báo công an đất liền điện ra công an biên phòng chận bắt. Long
ngồi tù hai năm, mẹ lo tiền chạy ra không được.

Tháng 6, trước khi Lam đi Nhatrang vuợt biên bỗng có người ở kế bên miếng đất
Long mua lúc trước, tới hỏi mua lại cho con gái, là học sinh cũ Lam, sắp lấy chồng bộ
đội nghèo, với giá một triệu bạc, tương đương có một chỉ vàng lúc đó. Nhìn cậu bộ
đội Bắc kỳ hiền khô 2 tay cầm xấp tiền dành dụm mấy năm trời đi lính, trình bày
hoàn cảnh xin giúp đỡ mà động lòng không nỡ từ chối. Lam nghĩ, vợ con bỏ lại còn
được, sá chi miếng đất, đi bỏ lại nhà nước cũng tịch thu, nên cắn môi ký giấy tay bán.
Mua 15 cây mà đành bán lại một chỉ, chỉ vì đầu tư mà không đoán trước thời cuộc.
Năm 70, có ai ngờ đuợc 13 năm sau vĩnh viễn bỏ nước ra đi.

Chuyến ra đi, anh chị vợ tổ chức đã xong, nội tháng này, tháng tới, không biết hôm
nào gọi đi. Muốn đi lọt phải buông bỏ hết, còn tiếc của, sẽ gặp nhiều trục trặc. “Qua
xứ người rồi mình sẽ gầy lại, ở Saigon biết bao người triệu phú mà còn mất hết, vô tù,
huống chi mình,” Lam nhủ thầm.
Thật vậy, chuyến đi của Lam xuông xẻ, thành công, chỉ tốn có một lượng vàng tượng
trưng. Đem theo thằng con đầu 10 tuổi, gạt nước mắt bỏ lại vợ và con gái, tắp vào
Hongkong ở 10 tháng, qua Phi học ESL 4 tháng, rồi sang Mỹ, định cư San Diego.
Một tháng trước ngày đi, Lam phải đánh lừa công an và láng giềng bằng cách kêu thợ
hồ tới xây thêm phòng và hầm cầu mới. Họ đổ một xe cát và gạch thẻ trước nhà, hai
thợ hồ lăng xăng ra vô làm việc, ai mà ngờ được một vụ đào thoát táo bạo đang toan
tính ngay giữa thành phố. Hai ngày sau khi Lam vắng mặt, tin tức đã lan truyền qua
mấy dãy phố, xuống tới chợ Dinh, lan lên bến xe phía Bắc đầu thành phố.. Mẹ mừng
lắm, lại chảy nước mắt, vào xì xụp lạy bàn thờ Phật cảm tạ.
Trong nhà, Lam là đứa ra đời sớm nhất, tháo vát nhất, cần kiệm chịu khó và bản
lãnh nhất, giỏi sinh ngữ, khéo xoay sở, lanh lợi, khôn ngoan, ở hoàn cảnh nào cũng
làm ra tiền được, nên mẹ đặt nhiều hi vọng ra ngoại quốc có thể gửi tiền về giúp các
em còn lại.

Ở Hongkong, Lam đổi thuốc lá trại phát lấy áo thun Trung cộng mới toanh trại cho
dân tỵ nạn, đem qua Phi bán 1 lời 20, lấy tiền tiêu. Hoa ở Thụy sĩ gửi cho 200 đô, bà
cô ở Mỹ, em họ ở Canada mỗi nguời cho 100, Lam gửi bà sơ mua giùm cái camera,
qua Phi chụp ảnh dạo kiếm sống…

Thế là năm 83, năm trên chín anh em đã ra được nước ngoài, ba gái hai trai. Hà bấy
giờ ra cô giáo trung học cấp 3, đính hôn với Phú, bạn trai đồng nghiệp. Châu làm thợ
may, đã ngoài 30 tuổi, cũng đã có anh chàng đại úy phi công tên Đông, ở tù cải tạo
về làm quen, đi hỏi. Mẹ nhẹ bớt mối lo.

Năm 85, Long ra tù, xin vào làm cho tổ hợp xì dầu ở gần nhà mẹ, phụ trách khâu
cung cấp hàng và kế toán, hay vào Saigon giao dịch. Hà và chồng là Phú được bổ
nhiệm dạy cấp 3 ở Phanrang, ở bên cạnh mẹ. Đông cưới Châu, hộ khẩu ở Saigon, đạp
xe đạp chở nước ngọt, bia, cam giao cho các quán làm kế sinh nhai. Em trai út, Việt
23 tuổi,mới ra trường là kỹ sư cơ khí, xin được việc ở Saigon. Người quen ai nhắc tới
gia đình Lam cũng khen nhà có phước, con cái lớp nước ngoài gửi tiền về, lớp trong
nước có công việc gần nhà.

Lam qua Mỹ được 6 tháng, học nghề thợ tiện cấp tốc 2 tháng, làm machine shop,
lãnh check 800 đô lương tháng đầu, mừng lắm, mua vải vóc đóng một thùng đồ bự
gửi về gia đình. Mẹ đi lãnh, mang ra chợ bán thành tiền chia cho vợ con Lam và các
em. Hồi đó, dịch vụ chuyển tiền về Vn chưa có, nên chỉ có cách mua hàng gửi về,
người nhà lãnh bán ra chợ trời lấy tiền sống. Sau đó, Lam bị laid off, thay đổi ở share
nhà thiên hạ mấy lần, có job mới, rồi lại bị laid off, đành theo chủ nhà trọ đi cắt cỏ
mướn, hoang mang chưa biết tính sao. May sao, bà cô họ qua Mỹ từ 75, làm rẫy
trồng rau trên Fresno kêu lên ở, cho mượn xe truck, ứng ra mua máy móc cho Lam
làm chủ đi cắt cỏ.

Lam chất hết hành lý lên chiếc Toyota Corona cũ đời 74, chở con lên Fresno. Fresno
thành phố mộc mạc yên tịnh, xung quanh đồng cỏ nương rẫy đất đai trồng trọt, có
nhiều người Hmong ở.
Lam mua chiếc xe đạp cho con đạp đi học, thằng bé cũng khỏe, biết tự lo lấy thân,
Lam lao động mệt nhừ cả người tối về cũng không có thì giờ kèm con.. Được 6 tháng,
thấy cắt cỏ không khá mà cực quá, Lam trả lại hết tiền máy móc cô mua, xin ra ở
riêng, đi học college trở lại. Với vốn sinh ngữ căn bản sẵn có, Lam đầu tư hết thì giờ
và tiền bạc vào sách vở, từ community college lên University, lái xe truck cà tàng vừa
đi học, vừa cắt cỏ thêm chút đỉnh để dành dụm tiền phòng thân, lớp gửi về Vietnam
giúp gia đình. Có lần Lam thi thử vào bưu điện, đỗ 7 nơi khác nhau với điểm rất cao,
được gọi phỏng vấn ngay, nhưng họ chỉ offer part-time jobs ở tỉnh lẻ, nên từ chối. Lại
đậu eligibitity worker vào làm cho Sở welfare, nhưng làm thử một tháng cũng bỏ,
tiếp tục học luôn lấy bằng cấp giáo viên, dạy trường công lập, có lương cao tăng đều
mỗi năm và health benefits tốt hơn. Học thêm ban đêm lấy luôn bằng Master sau 4
năm dạy ở San Bernardino.

Thời gian đó, Tùng bên Nhật về VN cưới vợ. Đám cưới vội vã trong 2 tuần lễ, Yến ở
làm dâu mẹ vài năm thì Tùng về, bảo lãnh qua Nhật. Tiếng Nhật khó khăn, đời sống
đắt đỏ, hai vợ chồng ở thuê căn hộ thứ 8 của một khu nhà lầu cao 12 tầng khổng lồ ở
ngoại ô Tokyo, Tùng đi làm nuôi vợ con, cuộc sống khá chật vật.

Năm 88, nhà nước VN theo gương Đặng tiểu Bình, đổi mới, chuyển sang kinh tế thị
trường. Hà sinh đuợc 2 con gái, Phú bỏ dạy, vô Saigon học sữa chữa máy điện tử và
vi tính, về Phanrang sẵn tiệm buôn lớn của mẹ, mở tiệm bán tivi, đầu máy, DVD
players, casettes, computer, tủ lạnh,máy lạnh, kéo 2 đứa em trai dưới quê lên phụ
giúp…. Rồi làm đại lý cho Samsung, Sony, hàng chứa đầy nhà… Dân chúng được tự
do kinh doanh làm ăn cá thể, sở hữu ruộng đất tư, bắt đầu có tiền rủng rẻng mua
sắm, xây nhà. Nhà cửa ở ngoại ô, nhà quê tự do xây cất, mọc lên như nấm. Lúc đó
diện H.O. cho lính cải tạo trên 3 năm được sang Mỹ định cư bắt đầu, Đông nộp hồ sơ,
chuyển hộ khẩu về Phanrang ở chung với vợ con, trong lúc chờ đợi, bắt chước Phú,
mượn vốn mua bán radio, máy hát…. Ngôi tiệm lớn 2 ngăn của mẹ ngày xưa giờ trở
thành tiệm buôn máy móc lớn nhất tỉnh, lôi cuốn khách hàng nườm nượp. Hai cặp
Châu-Đông và Hà-Phú chia nhau cửa hàng lớn của mẹ làm 2 bên, mỗi bên một tiệm,
bên bán đồ điện tử, tivi, máy hát, bên chủ yếu bán computer, tủ lạnh, máy giặt sấy,
tránh không đụng hàng. Dân tỉnh nhỏ bỏ hợp tác xã, làm ăn cá thể trở lại, có tiền,
xây nhà, mua sắm tivi, máy hát, máy coi phim bộ, máy giặt, máy sấy vừa túi tiền, đua
nhau mua sắm hưởng thụ nếp sống văn minh. Phú khôn khéo ngoại giao, bán cho
các công sở vô số máy vi tính và tivi hợp với trào lưu mới. Phú đào tạo một đội ngũ
chuyên viên sửa điện và điện tử, có lần dám thầu bắt điện cho cả một làng Chàm ở
nhà quê. Hà thấy buôn bán làm ăn phát đạt, bỏ dạy, ở nhà trông nom con, phụ
chồng trông coi tiệm nhân viên bán hàng.

Giữa lúc không còn hi vọng có em nào ra khỏi nước nửa thì một đêm khuya, Lam
thức giấc vì một cú phone Thụy sĩ gọi qua. Hoa hớn hở báo tin Long đã lọt qua đảo
Bidon. Lam mừng quá, tỉnh ngủ thức luôn tới sáng. Cảm ơn Trời đã ban phước cho
gia đình, người nào cũng có phần. Sáu trong 9 anh em đã ra nước ngoài tự do...Lên
INS làm hồ sơ xin bảo lãnh Long qua Mỹ, Lam bị từ chối, họ nói “ai làm nấy hưởng”,
anh đi lính anh hưởng, em không lính không hưởng. Bèn nhờ người học trò cũ định
cư ở Canada từ 75, làm giáo sư đại học ở Montreal bảo lãnh. Lộc sốt sắng giúp thày,
mua nhà, chuẩn bị lo thủ tục bảo lãnh, nhưng người em bà con du học từ 65 ở
Quebec, lại khuyên Long đi Úc, khí hậu ấm áp và có nhiều ưu đãi đặc biệt hơn
Canada. Thế là Long nhờ bà sơ Úc, hiệu trưởng lớp ESL ở Bidon Long đang phụ tá,
nói giúp với phái đoàn Úc cho đi diện nhân đạo. Số Long, cũng như Tùng ở Nhật,
Lam ở Mỹ, phải sớm ở xa cha mẹ anh em. Định cư ở Úc, được 2 em vợ qua trước đó 2
năm, đưa vào hãng có việc làm ngay, làm đơn bảo lãnh có 6 tháng, vợ con đã qua
đoàn tụ. Phần Lam phải qua tới đầu 91, vợ con mới sang được Mỹ. Long gửi thư qua
thăm anh, kể lể chuyến đi, tâm sự, trút hết nổi hờn lên đầu bọn cọng sản đã vùi dập
tan nát tương lai tuổi trẻ mình, thề không bao giờ quay về VN nữa.

Năm 92, thêm một em nữa ra khỏi VN. Đó là Minh Châu, dẫn 2 con trai nhỏ theo
chồng qua Mỹ diện H.O. Lam đang dạy học, ở apartment, sẵn có tiền, bỏ 10 ngàn ra
“down” mua quách cái nhà 3 phòng cho hai gia đình ở chung, khỏi mướn 2 căn hộ
riêng tốn tiền, lại được lợi có cái garage cho vợ chồng em gái ngồi may đồ lãnh về từ
các shop may... Như vậy 9 đứa con đã có tới 7 thoát ra nước ngoài, mẹ bắt đầu an
nhàn, thoải mái, không còn lo lắng nữa.

Vợ chồng Hà buôn bán lớn, ăn nên làm ra, phụng dưỡng mẹ, mua thêm một ngôi
nhà lầu mặt tiền ở đường Trung tâm, mở chi nhánh chuyên bán computers, rồi mua
luôn căn phố vợ chồng Lam bỏ lại cho bà cô trước khi đi Mỹ với giá 11 cây. Cô Nghệ
phải cầm giấy tờ thừa kế vào Phanrang chạy chọt hối lộ các nơi để bán cho được căn
đó, nếu không sẽ bị tịch thu.. Tùng ở Nhật đi làm có tiền, về Vn mua một ngôi nhà
trong hẽm quận 3 Saigon, giá bấy giờ có 7 cây, cho vợ chồng em trai út là Việt đứng
hộ khẩu để gia đình có chỗ trú ngụ mỗi khi vào Saigon, hay anh chị em về VN chơi có
chỗ ở.

Ở Thụy sĩ nơi phương trời Âu, chính phủ không cho 3 chị em Hoa đi học lại, bắt đi
làm. Luận làm tài xế và bảo trì dinh thự cho một tỷ phú buôn đồ cổ, được cấp nhà ở
free, lương tháng vài ngàn euros. Hai vợ chồng dư tiền, đầu tư mua nhà cho thuê,
sinh một con trai. Huệ và Hy làm trong một siêu thị, lần lượt lấy chồng. Chồng cũng
dân tỵ nạn Thụy sĩ, gốc người Vũng tàu. Đời sống đắt đỏ, nhưng cả hai đều được
chính phủ giúp mua nhà.

Ở Mỹ, cặp Châu-Đông để dành một số vốn dọn qua Little Saigon ở, bắt đầu đi học
nghề. Long bên Úc trở lại đại học và đi làm hãng bện lông cừu part-time. Các con
trong nước, ngoài nước, như vậy đều sớm được ổn định. Nhiều năm về sau, hồi tưởng
lại, Lam và các em đều nghiệm ra nhờ phúc ấm của cha mẹ để lại mà hầu như tất cả
anh em ra nước ngoài an toàn, cuộc sống chỉ có ngày càng đi lên, trong khi đa số
thiên hạ ở lại trong nước, ngày càng đi xuống….Thiên hạ trong tỉnh ai cũng cho là
hiện tượng ít thấy, khen nhà có phước lớn nên con cái dưới chế độ cọng sản mà “đi
ngoại quốc như đi chợ”.

Đâu khoảng năm 90, hai vợ chồng Hoa chê đời sống ở Thụy sĩ không có cơ hội
“phất”, bán nhà Thụy sĩ được hơn trăm ngàn, gửi em gái ở Texas mua 2 ngôi nhà
gạch to tướng và một tiệm giặt sấy, dẫn con trai duy nhất qua Mỹ ở lậu tại Houston,
gần nhà cô em gái út. Luật sư di trú ở Houston bảo phải bỏ ra 500 ngàn “đô”đầu tư
mới được thẻ xanh định cư theo diện kinh tế. Luận cho thuê nhà nhỏ, ở nhà lớn,
ngày ngày ra tiệm giặt coi, hay đi sửa nhà trong thành phố cho ai có nhu cầu, rồi gọi
bạn bên Ý qua hùn mua chung cư cho thuê. Hoa học college trau dồi tiếng Anh, làm
part-time cho một video store. Thấy Bưu điện tuyển nhân viên phát thư, bắt chước
Lam, Hoa làm đơn thi, ai ngờ đậu điểm cao, được interviewed, nhận vào làm, lương
14 $/giờ. Số Hoa thật hên, làm cho Bưu điện một năm thì thẻ xanh hết hạn, không
được gia hạn, không đuợc cấp thẻ mới, nhưng bưu điện không biết, cũng không hỏi.
Hoa trở thành công chức chính ngạch thực thụ của Liên bang, ngồi office bán tem
gói hàng an nhàn, mà chẳng có chút giấy tờ gì hợp lệ hộ thân ngoài bằng lái xe... Có
lần Christmas, Lam qua thăm Hoa, Luận chở đi coi nhà cửa. Nhà ở Texas xây bằng
gạch như ở VN, giá quá rẻ, nhưng mùa đông thật lạnh, nước đóng cục trong vòi nuớc
bên ngoài nhà, vặn không chịu chảy ra.

Long bên Úc, “sống lâu lên lão làng”, lại nhờ bằng cấp cao, được hãng tin cậy
“promote” lên làm full-time manager, lương cao, mua nhà. Đông ở Little Saigon, học
college sửa ô tô, Châu học nails, học tóc. Hai năm sau Đông làm cho Toyota hãng
Mỹ, Châu làm cho các tiệm nails, tóc. Mười năm sau, Đông chuyển qua làm check
smog cho khỏe, Châu xin vô hãng chế dụng cụ y khoa lớn làm, có benefits đầy đủ,
đóng thuế, để sau này có tiền hưu. Năm 2009, địa ốc bể bong bóng, hai người may
mắn có job vững và credit tốt, được bank cho vay mua được căn nhà giá rẻ, có 330
ngàn so với trước đó là nửa triệu.

Năm 95, mẹ bay qua Thụy sĩ du lịch, ở chơi 6 tháng với 2 chị em Huệ, Hy, có nhà ở
gần nhau. Lam bay qua thăm mẹ và hai em, ở một tuần. Suisse xanh rờn cây cối, môi
trường không khí và nuớc uống tinh khiết trong trẻo, cuộc sống êm đềm thanh tịnh
như ở Thiên đàng. Chồng Huệ lái xe đưa cả nhà đi thăm các nơi trong thành phố, rồi
qua Ý chơi, coi nhà thờ cao vút, đi thuyền “gondola” ở Venice, chụp được nhiều hình
rất đẹp, rồi về lại trong ngày.

Năm 99, Lam về Vn thăm nhà lần đầu. Công an xuất khẩu địa phuơng gửi giấy mời
tới hỏi thăm, chiêu dụ đầu tư. Lam cười, “tôi làm công chức mà tiền đâu đầu tư?”.
Nhà cửa dân chúng, công sở, dinh thự khắp nơi mọc lên như nấm. Việc đi lại giữa Vn
và các nước tư bản đã dễ dàng, Việt kiều hải ngoại đua nhau về VN liên tục. Qua
2000, Mẫn, con trai lớn Lam ra đi làm, Lam bán nhà cũ, mua ngôi nhà lầu mới 4
phòng ở Riverside. Các em bên Thụy sĩ lục tục dẫn các cháu qua Mỹ thăm anh và 2
chị Châu, Hoa, cả đám kéo nhau đi chơi Disneyland, coi Holywood, thăm Las Vegas
chụp hình, quay phim...

Trên đường về lại Mỹ từ VN, Lam quá cảnh phi trường Nhật 8 tiếng, gọi Tùng ra đưa
về nhà chơi cho biết. Tùng đi xe điện 2 tiếng ra phi trường đón anh. Căn hộ Tùng ở
tít từng thứ 7 cao chót vót, phải đi thang máy lên. Căn hộ chật chội mà cả ngàn đô
một tháng. Gặp Yến và 2 con gái Tùng, con Tùng không biết nói tiếng Việt, chỉ biết
gật đầu cháo bác.Tùng kéo ra quán ăn mì nước, coi siêu thị, thấy giá thức ăn rau trái
“siêu” đắt đỏ. Cuộc sống ở Nhật vất vã, đất hẹp người đông, nhà đất đắt bạc triệu, có
xe nhưng nhà không có chỗ parking, nên đa số ai cũng di chuyển bằng xe điện công
cộng. Phải chi năm đó, mẹ gửi đi Âu châu học thì số phận Tùng có lẽ đã khác, có thể
đã ở Thụy sĩ cùng với ba chị em, gần gũi ấm áp hơn.

Long, sau khi mua nhà ở Úc, đời sống ổn định, thoải mái, cũng phá lời thề xưa, dẫn
vợ con bay về Phanrang thăm mẹ năm 2001. Qua năm sau, Lam bảo lãnh mẹ sang
Mỹ du lịch, qua lại giữa nhà Lam ở Riverside và Châu ở Wesminster. Hoa từ Texas
bay qua Cali thăm mẹ. Lam chở mẹ đi San Jose, đi San Francisco, coi cầu Golden
Gate, cầu Oakland. Con gái Lam đưa mẹ bay qua Carolina thăm xui gia cha mẹ
chồng tương lai. Hỏi ý mẹ có muốn ở lại Mỹ luôn thì Lam xin chuyển diện du lịch
qua thường trú luôn, dễ ợt. “Ở Mỹ, già có đầy đủ hết, medicare, tiền già, má muốn đi
nước nào cũng dễ, má muốn thì con lo có liền”. Mẹ suy nghĩ mấy ngày rồi từ chối,
quyết định về lại VN với Hà và Việt…Con cái ở khắp thế giới, tuy nơi nào cũng muôn
màu, đẹp đẽ, giàu có, sung túc, không nơi nào đích thực là nhà của mẹ cả, hơn 70
năm trời mẹ đã lớn lên và sống ở Phanrang.
Năm 2002 Lam lại về VN, ra Bắc thăm chùa Hương, ngủ đêm ở vịnh Hạ long, ở
Sapa, Lào Cai. Cùng năm đó, Long bảo lãnh mẹ qua Úc chơi, thấy vậy, Châu và
Thanh Hy bay qua Úc ở một tuần, thăm Long và mẹ. Huệ và Thanh Hy cũng cứ vài
năm một lần, dẫn con bay về VN thăm mẹ và bạn bè cũ.

Năm 2003 mẹ lại qua Thụy sĩ chơi, chẳng may có một hôm ho ra máu, ngã quỵ
xuống, 2 em gái chở vô emergency cấp cứu, bác sĩ nói phổi bị rách vì ngày xưa bị
nám mà lại chích quá nhiều trụ sinh, làm ngay thủ tục cắt bỏ nửa lá phổi. Long từ Úc
cấp tốc bay qua phụ 2 em gái, săn sóc mẹ. Mẹ sơ ý không mua bảo hiểm sức khỏe
trước khi đi, tiền bill nhà thương lên tới 2 trăm ngàn, lấy tiền đâu trả. Nhưng Thụy sĩ
quá nhân đạo, thấy 2 cô con gái Thụy sĩ gốc Việt income thấp, mà lại phải nuôi con ở
đại học, nên không nỡ ép trả tiền. Các con ở các nước, Lam, Long, Châu, Hoa, Hà áy
náy, góp lại trả nhà thương đâu được 8 ngàn thì họ nói “thôi, đủ rồi”, xí xóa, đóng hồ
sơ bệnh, xóa nợ.

Như là có phép mầu, anh em ngơ ngẩn nhìn nhau, chuyện không thể nào ngờ được.
Mẹ sau đó được nằm dưỡng bệnh nhà thương thêm một tuần nữa, tái khám, mới cho
về nhà. Tháng sau, khi bác sĩ chứng nhận đã hòan toàn bình phục, mới cho lên máy
bay về VN. Cảm ơn, Thụy sĩ, cảm ơn…Mẹ phước lớn, ở Vn nhiều năm không sao, mà
qua tới xứ văn minh mới lăn ra bệnh, lại là bệnh ngặt nghèo. Nếu ở VN, chắc gì mà
còn sống. Từ biến cố đó, mẹ ở Vn luôn, không dám đi du lịch thăm con cái nữa. Lạ
thay, lá phổi bị cắt từ từ phình ra và phát triển mọc lại đầy đủ như cũ. Lo trước hậu sự
cho mẹ, Phú và Hà bỏ tiền ra xây khu mộ gia đình họ Phạm khang trang trên núi
chùa Trà Can, cách thành phố 12 cây số, nơi vợ chồng Lam ngày xưa lên quy y làm
đệ tử thày tổ, nay đã viên tịch. Khu mộ gia đình có cổng đá xây gạch cao và rào kiên
cố. Mỗi lần con cháu ở xa về nước đều lên núi thắp hương thăm mộ ông bà ngoại và
ba, quanh quẩn hồi lâu ngắm cảnh núi đồi cây cỏ xung quanh, bùi ngùi ôn lại kỉ niệm
gia đình mấy chục năm qua, không biết sau này chết ở xứ người hay về đây chết...

Năm 2003, Thanh Hy và Châu bay qua Úc dự đám cưới Kiều Giang, con gái đầu
Long. Năm sau, Lam gả con gái lấy chồng qua miền Đông ở. Qua 2005 lại cưới vợ
cho con trai, giúp con mua nhà mới ở Los Angeles. Thấy hai con đã tự lập, tiền hưu
dạy học cũng đủ sống, cái nhà trả sắp xong, Lam xin nghỉ hưu, về nước thăm mẹ. Sư
cô Tâm (thư ký Hội từ thiện của mẹ) nhờ Lam lên chùa thông dịch cho một nhà sư từ
Ấn độ sang thăm vì chùa không ai hiểu tiếng Anh. Ông cho biết muốn gặp các cha cả
ở các làng Chàm để hỏi thăm đạo Bà la môn họ tu có còn giống hồi nguyên thủy
2500 năm trước không. Ủy ban tôn giáo tỉnh và công an tưởng là sư Mỹ đen từ Hoa
kỳ qua điều tra vụ người Chàm thiểu số bị cướp đất hay bị hà hiếp gì đó, không cho
gặp, nói thác họ mắc ra đồng làm ruộng cả rồi. Ông sư về lại Saigon, tối hôm sau,
Lam lập tức bị rắc rối với công an địa phương. Họ kéo tới nhà tra hỏi, tưởng Lam dẫn
nhà sư lạ từ Mỹ về điều tra chuyện bạc đãi dân tộc thiểu số trong nước, rồi khi hiểu sự
thật không phải vậy, quay ra phạt vi cảnh hành chánh vì một lí do vớ vẩn khác:
không chịu “tái đăng ký” khi từ Saigon về lại Phanrang. Lam thấy vô lý bực mình cãi,
nhưng rồi cũng trả tiền phạt cho xong, “book” ngay máy bay về lại Mỹ. Từ lúc đó, tự
nhiên Lam dị ứng, chán ngán không thích về VN chút nào nữa. Ở trên thì chiêu dụ
Việt kiều mang đô la về, ở dưới thì theo dõi, tra hỏi, hăm dọa, moi tiền. Trên thế giới,
không có nước nào kỳ cục như vậy hết.

Vợ chồng Hoa ở lậu tại Mỹ không có giấy tờ nên không đi đâu được. Cũng như Huệ
và Thanh Hy, hai vợ chồng Hoa phát tâm ăn chay trường, nhờ luật sư giỏi làm lại hồ
sơ đầu tư. Năm 2008, sau một lần gặp thượng nghị sỹ Mỹ xin cứu xét, hai vợ chồng
với đứa con trai đang lấy bằng tiến sĩ, được chánh án chấp thuận cho ở lại Mỹ hợp lệ,
cấp thẻ xanh thực thụ, rồi qua năm sau, có luôn quốc tịch chính thức.

Năm 2009, vợ chồng Long bay qua Mỹ thăm anh em. Con trai Lam đãi chú thím đi
tiệm ăn, tò mò hỏi ngày xưa chú và ba con còn nhỏ sống với ông bà nội thế nào, có
những kỉ niệm gì. Long đăm chiêu ngồi thừ người ra, phảng phất buồn. Lam nhớ lại
những ngày ba kèm 2 anh em học, thời gian lên Dalạt chơi, những ngày ba chết,
nước lụt, Việt cọng vào…Chuyện gia đình như cuốn phim cũ đen trắng đem ra chiếu
trở lại, buồn nhiều hơn vui…… Weekend, Lam và Đông đi 2 xe chở gia đình mấy anh
em đi L.A và Holywood coi cho biết. Long quan sát đời sống Mỹ, trầm trồ khen ngợi
Cali xưa là sa mạc mà nay biến thành đô thị trù phú, sầm uất, cây cối xanh tươi. Rồi
theo lời mời con gái và rễ Lam ở miền Đông, 2 vợ chồng bay luôn qua Carolina chơi,
được 2 cháu lái đưa đi suốt dọc miền Đông nước Mỹ lên tới New York. Về lại Cali,
Long trầm ngâm ít nói.
- Ai cũng khen nhà mình có phước, gần hết ra được nuớc ngoài sống tự do, mà thực
ra là vô phước, anh em con cái cha mẹ lưu lạc mỗi người mỗi nơi, không được đoàn
tụ một chỗ, sớm hôm gần gũi, qua lại an ủi, giúp đỡ lẫn nhau khi có chuyện khó
khăn, lo buồn. Các cháu ở xa cô bác, chú cậu, mợ dì, không có tình thân kỉ niệm gì
ràng buộc, gặp nhau chào hỏi như người xa lạ. Nhiều khi anh em nhớ nhau cũng
không có điều kiện đi thăm nhau được…
- Đúng vậy… nhiều khi lang thang trên xứ lạ quê người, anh chợt tự hỏi “Sao ta lại ở
đây, cha mẹ anh em ngày xưa ấm cũng xum vầy bây giờ đâu hết rồi? Chừng nào tất cả
gặp lại nhau? Đây là nơi mình ở luôn tới chết, hay chỉ nơi ở chơi tạm rồi về lại VN ở
cạnh mẹ?”

Cuối năm đó, có giấy tờ hợp lệ, Hoa nghỉ phép một tháng, dẫn con về VN thăm mẹ
sau 30 năm xa cách quê hương, rồi đi Nhật thăm Tùng. Vợ chồng Hà bây giờ là
thuơng gia lớn ở VN, được nhiều vé du lịch free liên tục của Samsung và Sony thưởng
hai lần mỗi năm vì bán được nhiều hàng. Hà đưa mẹ đi chơi các nước gần như đảo
Hải nam, Đài loan, Singapore…Phú cho 2 con qua Mỹ du học, hai năm về chơi nhà
một lần.

Hè năm 2012, Lam, Long và Thanh Hy rủ nhau tham dự một tour đi nhiều nuớc Âu
châu do nhóm Thụ nhân, cựu sinh viên quốc gia hành chánh trước 75 tổ chức, gặp
nhau ở Paris. Ba anh em đi bên nhau giữa phố xá đền đài cung điện xe cộ tấp nập của
kinh đô ánh sáng mà nhớ tới quê hương đất nước mịt mù, tự hỏi sao chỉ có 3 đứa lạc
lõng chốn này. Đây là đâu, cảnh thật, hay cảnh trong mơ?
Thanh Hy lúc đó đã ly dị chồng, chán cuộc sống lạnh lẽo buồn ở Thụy sĩ, quyết định
nghỉ hưu non, bán nhà có lời, chia cho 2 con một phần, rồi về Phanrang ở luôn bên
mẹ săn sóc. Việt dạy vi tính ở đại học, vợ làm giám đốc doanh nghiệp lớn, mua thêm
một cái villa đầu tư.

Năm 2014, con trai Hoa được công ty Google offer job ngon lương trên trăm ngàn ở
San Jose thung lũng hoa vàng, hai vợ chồng Hoa từ Houston lái xe chở con qua Cali
lo chỗ ở cho con, xuông Wesminster thăm Châu, đãi cha con Lam và mấy mẹ con
Châu đi ăn cơm chay mừng cháu. Anh em lâu ngày không gặp, chuyện trò tưng bừng
rôm rã. Từ Nhật, Tùng 61 tuổi, cũng mang con gái lớn xinh đẹp và rễ là cậu trai Nhật
mồ côi cha mẹ, về Phanrang làm đám cưới theo nghi lễ cổ truyền. Washaki mặt hiền
khô, sống với bà nội từ nhỏ, bà nội giàu, có mấy ngôi nhà cho thuê, giao cho cháu
thừa kế quản lý. Con gái Tùng không biết nói tiếng Việt, phải dùng tiếng Anh để trao
đổi với cô chú và cousins ở Mỹ về. Hai bà Châu, Hoa, tuổi sắp về hưu, ở Mỹ dẫn con
cái về dự đám cưới, thăm mẹ và các em. Suốt 2 hai tuần liền, mấy chị em và đám con
cháu kéo nhau đi Hội an, Nhatrang, Phan thiết chơi vui vẻ xả láng.

Năm nay, mẹ đã 88 tuổi, tóc bạc phơ, tai hơi lãng, chân hơi yếu, quanh quẩn trong
nhà, ngồi thiền, niệm Phật, nghe kinh Kim Cang thày Thanh Từ giảng, tối tối thắp
nhang lạy Phật. Lam đã 70, cũng như Long 66 tuổi sắp về hưu, đã có cháu nội ngoại.
Coi các tấm hình mẹ chụp gửi qua mạng, cũng như qua DVD, thấy mẹ đẹp lão như bà
tiên, vượt qua tuổi thọ năm xưa ông thày tướng đoán. Mẹ sống lâu hơn, mạnh khỏe
không đau ốm gì, có lẽ do “đức năng thắng số”. Nhưng, ở đời, có sanh tất có diệt.
Thân người ngũ uẩn giai không, chắc cũng vài năm nữa thôi, mẹ sẽ đi theo ông bà...
Khi ngày đó dến, các con khắp nơi sẽ bay hết về nhà, tề tựu quanh giuờng, chịu tang,
làm phước báo hiếu cho mẹ, trong lúc thời cuộc đất nước còn ngổn ngang trăm mối
chưa biết về đâu. Xa quê nhiều năm, tình quyến luyến quê hương các con cũng phai
dần. Khí hậu ô nhiễm, thức ăn độc hại, dân nghèo đói khổ, đạo đức suy đồi, luật lệ hà
khắc, công an du đãng, tham nhũng tràn lan, xã hội tan rã, có gì hấp dẫn để về ở, nói
chi tới đám cháu chắt sanh đẻ ngoại quốc, nói tiếng nước người rành hơn tiếng Việt…

Mừng mẹ tuổi cao khỏe mạnh, nhưng lòng con băn khoăn, buồn cho vận nước điêu
linh, nô lệ giặc Tàu, chưa được dân chủ, tự do, no ấm. Tương lai dân tộc tối đen, biết
hết đời con qua đời cháu có thay đổi gì không… Kỉ niệm năm tháng êm đềm hạnh
phúc với cha mẹ ngày xưa có thể còn giữ trong đầu các con, nhưng trở về sống lại với
quá khứ ở quê nhà là chuyện vô tưởng, không riêng gì anh em Lam, mà hầu như đối
với tất cả các con dân Việt hải ngoại thế hệ thứ nhất, thứ hai…

Phạm Hoàng Chương


3.  Từ Trại Tù Ra Biển Khơi

Bài số 4140-14-29550vb6021414

https://vvnm.vietbao.com/a217325/tu-trai-tu-ra-bien-khoi


Tôi quen Khoa ở trại tỵ nạn Chimawan, Hongkong, cuối 1983, ghe hai đứa cùng vượt biên xuất phát từ Nha Trang, Bình Thuận cùng một thời điểm tính qua Phi mà bị bão thổi lên Hongkong, nhưng anh và tôi sĩ quan khác ngành nên không thân nhau mấy. Khoa tánh xuề xòa, trước làm Tình báo bên An ninh quân đội, nên phái đoàn Mỹ tin cậy, giao anh nhiệm vụ kiểm tra coi ai là lính thiệt, ai là lính giả khai man để được đi định cư Mỹ.

Anh Hùng, người tổ chức vượt biên cho tôi tháp tùng năm đó là đại úy CTCT, ngày xưa ở tù ngoài Bắc tám năm, còn Khoa tù tám năm Campuchia, nên hai người này cùng cảnh ngộ mới thật là thân nhau. Qua Mỹ, hai người lại tình cờ ở gần nhau, người Orange County, người Long Beach. Anh Hùng bán địa ốc, Khoa làm thầu khoán xây cất sửa nhà, sửa điện, plumbing, ráp cửa garage, thay bồn nước nóng, cắt cỏ...cái gì cũng biết.

Năm kia, nhân trên San Jose tổ chức hội Ái hữu tỵ nạn Chimawan họp mặt, anh lái xe chở anh Hùng và tôi lên dự tiệc, coi có gặp người quen cũ không. Nhờ chuyến đi đó mà anh thân với tôi hơn, gọi phone thăm, ghé nhà chơi, vui vẻ tới sửa giùm điện, nước, gas, thay bồn nước nóng, thay cửa garage bị hư trong nhà. Bất cứ cái gì hư... gọi một tiếng là anh tới, sốt sắng mua đồ, thay, sửa, mau mắn làm được hết... Tôi có nhà mà không biết sửa nhà, tự nhiên được một ông bạn "handyman" tới giúp đỡ các việc linh tinh trong nhà, thật là may mắn. Có lần tôi than, "Già ở một mình mà con cái bạn bè đều ở xa, lỡ lái xe bị "panne" trên freeway đêm hôm, không biết gọi ai tới cứu...", anh buột miệng liền, "thì có tôi, gọi tôi, tôi lái xe tới cứu cho", làm tôi nín lặng, cảm động.

Bạn bè sống chung thời kỳ Chimawan cũ nay ở tứ tán, chỉ có tôi và anh Hùng ở gần, nay anh Hùng mất, chỉ còn tôi, nên Khoa thường xuyên ghé thăm trò chuyện, tâm sự. Hai đứa cũng lăn lộn thăng trầm đủ nghề ở Cali, nếm đủ cả thành công lẫn thất bại nên thông cảm nhau lắm.

Hồi tới qua anh đi rửa chén cho nhà hàng lấy tiền mặt, rồi đi học nghề, làm chủ thầu, điều động đám thợ Mễ đi chỗ này chỗ nọ, bây giờ kinh tế suy, không có việc, đành làm công cho hãng Mỹ sửa chữa nhà cửa, chung cư, ăn lương tháng, khi làm ở L.A, Long Beach, Chino Hills, khi ở Riverside... Thấy nhà tôi mát mẻ, yên tĩnh, thích lắm, nhờ coi khu này có ai rao bán, cho anh hay để mua một căn như vậy để nay mai về hưu ở gần cho vui.

Một lần anh ghé tôi loay hoay thay cái motor điện xay rác ở sink nhà bếp bị hư, tôi đứng gần coi, anh bảo đừng đụng người anh, coi chừng bị giựt. Tôi nói đùa:

- Mạng tôi lớn lắm, đừng lo.

Tôi nấu cà phê, anh sửa xong, tôi lấy bánh Pháp ra mời ngồi ăn, vui chuyện kể con người có số, tôi chết hụt mấy lần mà Trời cứu: hồi trẻ đi lính đang gác đồn mấy tháng không sao, vừa được chuyển vô Trung tâm hành quân làm thì đồn bị đánh úp nửa đêm, cụt tay cụt chân chết biết bao nhiêu lính; lần khác trong một cuộc cãi cọ, bị lính say đập chai bia lên đầu nứt sọ mà không sao; qua Mỹ lái xe đêm khuya bị tài xế chạy ngược chiều đâm sầm vào mà lách kịp trong nháy mắt... Anh buột miệng kể mạng anh cũng lớn, năm 75 ở tù bên Campuchia cũng bị đánh nứt sọ mà không chết, bị cai tù VC đập cây lên đầu bất tỉnh, rồi xối nước cho tỉnh tra hỏi tiếp vì nghi làm cho CIA, làm tôi giật mình trố mắt:

- Anh làm chức gì mà bị nhốt tuốt bên đó vậy?

- Tôi trước làm cho DAO (Defend attack office) thuộc CIA Mỹ, VC được tình báo cho biết nên bắt tôi, nhưng chưa có bằng chứng, bèn đưa tôi qua đó nhốt riêng, ở chung với các thành phần làm cho Mỹ. Nó tra hỏi tôi, bắt đưa cái code để mở computer truy tìm danh sách nhân viên tình báo làm cho Mỹ. Tôi nói, "Tôi không biết, mà dù có biết đi nữa, tôi cũng không thể tiết lộ". Nó tức giận cầm cái chày đạp lên đầu tôi nứt sọ, tôi bất tỉnh té xỉu. Nó dội nứớc lên đầu lên mặt cho tỉnh, tiếp tục tra tấn tiếp....

- Thì anh có tiết lộ, Mỹ cũng đã thua rút về nước hết rồi, đâu có biết mà trừng phạt anh? Mà sao họ không mang theo tất cả những người làm tình báo giúp họ như anh về Mỹ, lại bỏ rơi lại đây cho VC làm thịt? Thật là nguy hiểm cho tánh mạng, không riêng anh, mà cả gia đình anh nữa.

- Mỹ đi nhưng người của họ để lại nhiều lắm, làm sao mình biết được kế hoạch của họ ra sao. Tôi đã lỡ thề giữ bí mật suốt đời khi làm cho DAO rồi. Mình mà tiết lộ bí mật đó thì suốt đời như ngồi trên lửa, lo sợ không biết chết lúc nào... mà cũng chắc gì VC để cho mình yên thân khi đã khai ra. Anh thấy như Osama Bin Ladin được Pakistan che dấu bảo vệ kỹ lưỡng như vậy mà Mỹ còn theo dõi ám sát được.

- Anh đi Thủ đức khoá mấy?

- Khóa 27.

- Ủa, tôi cũng khóa 27... nhưng khóa đó đông quá, thặng dư nên họ chuyển tôi ra Đồng Đế học khóa 2/68.

- Tôi có cử nhân luật, nên chỉ học Thủ đức hết giai đoạn một là họ đưa về Nha quân pháp, tuyển chọn đưa qua làm tình báo cho Mỹ.... Tới ngày mãn khóa, tôi được gọi vô trường dự lễ gắn lon chuẩn úy cho có lệ. Nhưng thực ra tôi mang lon trung úy giả định. Đám bác sỹ cũng vậy, đâu có tốt nghiệp hay chiến đấu gì cũng được gắn lon trung úy giả định như tôi. Họ gửi tôi qua Mỹ học. Khi về, làm cho DAO thuộc CIA, hay đi máy bay với Mỹ hết vùng này qua vùng kia, chụp không ảnh, nghiên cứu địa hình.....

- Vậy sao? Tôi chưa hề nghe có vụ như vậy..

- Anh biết, sau lần chết hụt đó, được mấy năm, nó tìm ra manh mối về tôi, chuyển tôi qua trại khác, bắt ăn uống khổ sở, lao động vất vã, ba đứa mà có một tô cơm hẩm rắc muối. Một đêm nọ, có hai thằng xách súng vô chỗ tôi nằm, kêu dọn đồ đi theo chúng. Tôi đã chuẩn bị cái chết sẵn trong đầu rồi nên không sợ hãi. Lâu lâu tụi nó vẫn đêm khuya đang ngủ, hùng hổ vô dẫn người ra bìa rừng, rồi nghe tiếng súng nổ, anh em không bao giờ thấy mặt lại... Một thằng ném cho tôi bộ đồ bộ đội xanh cứt ngựa, bảo thay đồ, nó ấn cái nón cối lên đầu tôi, nhưng tóc tôi nhiều và dài tới vai-cả mấy năm trời đâu có được cắt tóc, thấy không giống bộ đội, mới dẫn tôi tới một trạm gác nhỏ, nói thằng lính trong đó hớt tóc cho tôi. Tôi không biết tụi này tính làm gì. Nếu thủ tiêu tôi thì cần gì mất công cắt tóc, thay đồ làm chi. Một thằng lái Honda chở tôi, hai đứa kia lái Honda khác theo sau, đi trong rừng ban đêm, tới trạm khác lại thay cặp khác lái theo hộ tống, hai tên cũ quay về... Có vẻ như chúng nó dẫn tôi đi đâu xa lắm, trình diện ai đó... Lúc nào cái thằng ngồi kèm với tôi cũng theo chặt tôi, hai thằng kia theo sau hộ tống từng chặng một, rồi đổi người. Qua tối hôm sau thì tới Tây Ninh biên giới Việt Nam, chúng bỏ tôi vô đồn lính gác ăn qua loa rồi kêu đi ngủ, tụi nó trao đổi xầm xì gì với nhau một lúc. Tôi nghe loáng thoáng là mai chúng đưa tôi về Saigon, lúc đó tôi hết sợ, biết là được cứu thoát rồi...

- Bà con anh có ai làm lớn ở ngoài mà cứu ra khỏi tù hay vậy?

- Má tôi chạy một ông đảng viên gộc (1) ở Saigon 30 cây vàng chứ ai cứu, họ đưa thẳng tôi từ tù ở Campuchia qua Saigon, chở ra Phan thiết bỏ nằm ở nhà ga mấy ngày, sau đó đưa tôi ra ghe đi vựợt biên luôn.

- Trời...sao bà già biết đường dây gộc đó hay vậy? Ngừời nào mà móc nối bã với ông gộc đó cũng là thứ dữ lắm. Hồi bã đi thăm nuôi anh, có khi nào úp mở nói mánh chuyện đó cho anh biết trước không?

- Làm gì có... Thăm nuôi, nó đứng bên cạnh dỏng tai nghe, ở đó mà dám nói chuyện đại sự... Bã chỉ cho biết là thằng em tôi đã về "ở" với cậu Năm rồi, mà cậu Năm thì chết đã lâu, tôi ngẫm nghĩ thấy lạ không dám hỏi, sau mới hiểu ra là em tôi bị chúng giết chết trong tù. Nó đại úy làm bên an ninh. Còn lại có tui là con một.

Thấy tôi trố mắt chăm chú nghe, Khoa kể tiếp như thuộc lòng câu chuyện từ lâu:

- Sáng ra cái thằng phụ trách tôi chở tôi từ biên giới Tây Ninh về Saigon, thấy chiều còn nắng, nên nó ngừng ở ngoại ô, chờ sụp tối mới chở tôi vô thành phố, vì ban đêm an toàn hơn, không ai thấy rõ mặt tôi.

Nó chở tôi vô dinh ông đó, đèn đuốc sáng choang, trình giấy tờ hai ba chỗ, tôi thấy lính gác đi qua đi lại ngoài vườn trong nhà đông lắm. Ông đó lúc đó làm lớn ở Saigon, ở trong cái dinh khổng lồ của ông lớn nào chế độ cũ bỏ lại, lính nói chuyện với nhau có lúc nhắc tên ổng, tôi nghe được. Vô phòng khách, ổng kêu tôi ngồi xuống, hỏi thăm vài ba câu rồi sai lính đưa tôi đi tắm thay một bộ đồ công nhân hỏa xa, rồi mời vô ngồi ăn cơm chung bàn. Lính mỗi lần trình báo điều gì, đều kính cẩn kêu "Chú Sáu, chú Sáu". Sau này suy nghĩ mãi, tôi mới đoán biết ổng là ai, hồi làm CIA tôi thấy tên đó trong danh sách những người đặc biệt làm việc với Mỹ hoài mà không biết là ai. Ổng hoạt động ở Củ Chi. Té ra ổng làm việc cho cả hai bên. Bà vợ ngồi phòng khách, lâu lâu đứng dậy đi tới đi lui liếc nhìn tôi. Ổng nói, "Tôi chỉ cứu anh một lần này. Hiện giờ người ta đang truy nã anh khắp Saigon, tới các nhà bà con bạn bè anh kiếm bắt anh, anh phải rất cẩn thận. Tôi không muốn thấy anh lại, nếu bị bắt lại đừng nói tên tôi. Tôi muốn anh phải đi thật xa... ra khỏi nước. Ở lại ngày nào là nguy cho cả anh lẫn tôi. Bây giờ anh là nhân viên hỏa xa. Ngay đêm nay sẽ có xe hộ tống anh ra ga Phan thiết, ra chợ anh sẽ gặp lại gia đình anh và biết chuyện gì sẽ tới...". Ổng đưa tôi cái căn cước mới có hình tôi, một thẻ nhân viên hỏa xa và một ít tiền. Nói xong là có lính đưa tôi ra xe liền."

Tôi chép miệng:

- Công nhận, tụi đảng viên cao cấp có trình độ ăn nói khôn ngoan, dùng chữ vắn tắt, nói lửng lơ, đủ cho mình hiểu chứ không dùng từ ngữ "giúp vượt biên", sợ sau này có gì đổ bể xảy ra, mình không thể dùng từ đó "đập" lại họ được.

- Bởi vậy mới làm lớn được, đâu phải ba đứa công an cán bộ thất học ăn nói bậy bạ như bây giờ.

Tôi lo lắng hỏi:

- Anh ở nhà ga, lỡ công an thấy lạ, tới hỏi, nói lớ ngớ lộ chuyện chết..

- Ga Phan thiết đông lắm, họ bảo tôi nằm ngủ trên băng ghế dài với cái "balô" và tấm mền ở các toa xe lửa trống một vài hôm, chờ sẽ có người đón đi. Chỗ đó tàu ra Bắc vô Nam liền liền mỗi ngày, nhân viên cán bộ di chuyển cũng ngủ tạm ở các toa xe trống như tôi nên chả ai để ý hỏi tôi. Tôi có thẻ nhân viên hỏa xa đóng dấu đàng hoàng nên cũng không lo, chỉ sợ gặp người quen nhận ra hỏi han lôi thôi. Mỗi sáng tôi ra chợ mua thức ăn rồi về lại toa xe ngồi, ngắm thiên hạ. Lần thứ ba ra chợ, tôi giựt mình thấy vợ tôi, có hai thằng công an kè kè bên cạnh, mắt nhìn láo liên.

Tôi lấy vợ dân Phan thiết năm 74, qua năm sau VC vô thì đi tù, vợ chồng xa nhau tám năm bây giờ mới gặp lại, tôi bồi hồi xúc động, nhưng không dám gọi. Bà ấy nhìn dáo dác, thấy tôi, mắt sáng lên, nhưng lật đật quay mặt phóng tầm mắt ngay đi phía khác. Tôi hiểu ngay công an địa phương đi theo người nhà để lùng kiếm tôi, vội cúi mặt, lẻn trốn chỗ khác, rồi về lại toa xe lửa. Hai hôm sau, ban đêm có người tới chỗ tôi, mang lon sĩ quan, chắc làm chức vụ lớn, thấy tôi nằm, xung quanh có nhiều người còn thức, bảo tôi đứng dậy chuẩn bị "đi công tác". Tôi hiểu ý, đứng lên dọn đồ xách "balô", đi theo ổng ra ngoài có xe hơi đậu, leo lên ngồi. Xe chạy thẳng ra hướng biển, gió mát thổi lồng lộng. Tới chỗ nhà nọ, hắn ngừng xe, đi vô nhà dắt ra cái Honda, rồ máy bảo tôi lên ngồi đàng sau. Tôi loay hoay khoác ba lô trên lưng, hắn nói:

- Anh không cần hành lý này nữa đâu, vứt đi..

Rồi hắn chạy xe len lỏi mấy vòng trong mấy ngõ cụt, đậu truớc một bãi biển vắng vẻ có một chiếc ghe và mấy bóng người đứng lố nhố gần đó. Hắn hất hàm bảo tôi xuống xe:

- Vợ anh đang chờ anh dưới đó, xuống đi. Coi chừng cẩn thận... Chúc đi may mắn...

Tôi ngỡ ngàng, cảm ơn rồi chạy xuống bãi. Vợ tôi chạy tới ôm chầm lấy, kéo tay xuống ghe... Có khoảng mười mấy người vừa đàn ông vừa đàn bà, trong đó tôi nhận ra vài người bà con bên vợ. Người chỉ huy là một anh trung úy tôi quen, tên Hà, đang cãi nhau với chủ ghe tại sao hứa bán ghe 2 "lốc" mà giờ chót giao ghe F10 nhỏ xíu... Tôi nghe qua, biết ngay bà già tôi trước đây thương lượng mua ghe của ông già này, lão hứa đưa ghe lớn mà giờ chót tráo trở đưa ghe nhỏ, còn bãi là đã mua của công an địa phương rồi, nhắm chuyện đã lỡ, có dằng co cũng vô ích, không còn thì giờ nữa, mà tên ngồi Honda trên kia thì đi đi lại lại có vẻ sốt ruột, kêu nhổ neo cho mau, đành xua tay bảo Hà, "thôi thôi, chuyện lỡ rồi anh, mình đi cho rồi." Chủ bán ghe ở lại, tất cả lên ghe. Tài công giựt máy nổ, ghe xình xịch rời bến. Tôi nhìn quanh thấy mấy cuộn dây dừa thật to, bốn cây tre dài bốn thước, mười can dầu, nước uống đầy đủ, thức ăn chuẩn bị tươm tất, có cả bốn cây súng M16. Hà nói có hải bàn, hải đồ ở buồng lái.

Ghe đi khoảng được trăm mét, tôi nhìn lên bờ thấy tên đi Honda bắt đầu rồ máy rời bãi, bỏ chạy biến mất trong bóng đêm.

Tối hôm sau thì ghe đang chạy, vướng phải lưới đánh cá của dân giăng chìm bên dưới, mấy ghe cá xa xa chạy lại tính gây sự, Hà bèn lôi súng ra bắn mấy phát khiến họ bỏ chạy. Tụi tôi xúm lại cắt lưới dính vô chân vịt, chạy tiếp... Mấy tiếng sau ghe lại mắc kẹt vô lưới nữa, lưới đánh cá chỗ khác. Lại lụi hụi cắt lưới. Qua ngày sau thì trời nổi cơn bão lớn, chắc ra tới hải phận quốc tế rồi. Từ xa sóng cao bằng cái nhà lầu hai tầng ầm ầm kéo tới, ai nấy nhắm mắt sợ hãi chờ chết thì tự nhiên tới gần ghe, sóng nó cúi xuống thấp chui lòn dưới ghe qua bên kia... Lạ thiệt... Chiếc ghe hẹp nhỏ xíu, mỏng manh mà sóng to gió lớn dập vùi nghiêng ngả, tôi kêu đám thanh niên cột chặt bốn thanh tre dài vào hai bên bờ ghe,mỗi bên hai cây, để làm ghe rộng ra, hóa giải các ngọn sóng đập vào, cản nước khỏi tràn vô, nhờ vậy mà ghe chỉ chòng chành qua lại nhưng lúc nào cũng giữ được thăng bằng, không cách chi bị sóng đánh chìm qua một bên nỗi. Đó là lý do tại sao ông chủ ghe bỏ vào mấy cây tre dài khi bán ghe cho đám vượt biên mấy ngày trước. Có lần sóng mạnh như muốn hất tung chiếc ghe lên trời, tôi phải bắt đàn bà con nít nằm mọp dưới đáy ghe, lấy mấy cuộn dây dừa ra ràng chằng chịt qua lại bên trên để giữ họ khỏi bị hất văng xuống nước.

Thấy tài công không rành coi hải bàn ngòai biển lớn, tôi dành lấy, soi đèn pin coi, nhờ ở tù nhiều năm học được của anh em bạn tù hải quân, hướng dẫn lái ghe tắp vô Phi. Nhưng thấy bờ biển Phi trước mặt không xa mà không tới gần được, ghe cứ quay tròn chứ không đi thêm được, coi lại bản đồ thì ra có cái hố nước xoáy sâu, đường kính dài tới mười cây số nên ghe cứ lòng vòng mắc kẹt ở đó hoài. Tôi phải cho lái lên phía bắc, tắp vô chùm đảo Hoàng sa tụi Tàu chiếm đóng từ 1974. Tui bảo anh em quăng mấy cây súng xuống biển, sợ Tàu thấy nó nả súng bắn mình oan mạng. Lúc đó Tàu với VN là kẻ thù, nên họ cho một chiếc tàu tới ghe tụi tôi nhảy xuống tra hỏi khám xét, nói tiếng Tàu xì xồ nên chẳng ai hiểu gì. Vợ tôi sợ, muốn quăng mấy lượng vàng đem theo xuống nước, tôi bảo đừng, cứ dấu trong mình, tụi này đâu phải hải tặc cướp biển. Viên chỉ huy toán lính gọi máy liên lạc với trên đồn chở tới một thông dịch viên, hỏi tụi này bằng tiếng Việt rồi dịch lại tiếng Tàu cho tên chỉ huy tàu lớn. Biết dân VN vượt biên, họ có vẻ an tâm, thông dịch viên bảo ghe đi theo họ vô đồn trong những con đường nước có thả phao đỏ hai bên, không được đi ra ngoài, sẽ bị đá ngầm đâm lủng ghe. Họ cho thức ăn, xì dầu, đồ hộp thừa mứa. Tụi tôi ở lại gần đồn họ đêm đó, tờ mờ sáng họ đã ra dấu đuổi đi, cho mấy thùng dầu để đi tiếp lên phía bắc.

- Tụi lính Tàu tử tế quá nhỉ...

- Tôi cũng nghĩ vậy... nhưng chính vì mấy thùng dầu đó mà ghe tôi tắt máy giữa biển sau đó. Loại dầu đó dành cho tàu lớn xài, ghe nhỏ xài loại dầu khác. Thế là chạy mới được một ngày, ghe khọt khẹt một lúc rồi tắt máy, nổi lênh đênh giữa vùng nước tối đen bao la... Mà bão thì ở đâu ngay lúc đó ầm ầm kéo tới... Lênh đênh giữa trời tối như mực, gió tung ghe lên xuống liên hồi... Bị nhồi xóc liên tục, ai cũng lăn ra ói mửa nằm đài la liệt... Tôi là người cuối cùng kiệt sức lăn ra lịm đi, mơ mơ màng màng không biết là đang ở trên vùng biển nào, phó mặc cho số mệnh, nghĩ có lẽ ghe đang trên đường lên Đài Loan hay lạc lõng vô vịnh Bắc Việt, gần đảo Hải Nam. Thình lình không hiểu sao, tôi cảm thấy như gió bão đẩy ghe vùn vụt, hay như có bàn tay Ơn Trên phù hộ, nâng ghe lên cho gió thổi ào ào đẩy ghe thật nhanh...

Không biết bao lâu, khi tôi tỉnh cơn mê ngồi dậy thì thấy ghe đã dập dềnh tắp vô bờ biển, xa xa hàng trăm ghe đánh cá thắp đèn sáng rực. Mọi người lục đục quanh tôi ngồi dậy ngó dáo dác, tháo dây dừa ra, vì bể lặng, sóng êm, ghe nổi bềnh bồng... Có vài chiếc ghe nhỏ tụi thanh niên Bắc kỳ vượt biên từ mạn Hải phòng tới, lảng vảng ở bờ, gần ghe tôi, nói tiếng Bắc kỳ rổn rảng. Tôi gọi hỏi thăm, tụi nó nói đây là bờ biển Trung quốc, giữa Hải nam và Hongkong, chúng nói tụi Tàu biên phòng không cho lên bờ, cũng không bắt giữ ghe vượt biên từ Việt Nam, chỉ xua tay đuổi đi tiếp về phía bắc. Ghe tui mừng quá, coi như thoát chết, đám thanh niên lấy mấy cây chèo ra, cứ men theo bờ biển mà chèo đi.

Có lần thấy một bãi biển vắng, tụi tôi lén tắp vô, xách can nhựa chạy lên kiếm mấy cái giếng múc lấy nước uống, ai dè công an ở đâu xuất hiện, xách súng ra la ó, xua đuổi. Nhưng thấy múc nước họ cũng chờ, để yên cho múc đầy, rồi đi theo xuống chỗ ghe đậu coi có ai trốn ở lại không. Một ngày sau thì ghe tắp vô Macao, thành phố sòng bạc nổi tiếng Á châu. Cảnh sát xuống ghi số ghe, tịch thu các giấy tờ cá nhân coi từ đâu tới. Sợ họ đuổi đi, tụi tôi phá hư máy, để được tiếp nhận. Coi giấy tờ xong, biết từ Việt Nam tới, họ nói bằng tiếng Anh, "Ở đây, chúng tôi một tuần chỉ có một ngày nhận dân tỵ nạn tới, đó là ngày thứ sáu, hôm nay mới thứ năm, chúng tôi buộc lòng phải đuổi các anh đi. Đi thêm nửa ngày nữa, các anh sẽ tới Hongkong, ở đó họ nhận tỵ nạn... Nhưng nếu họ hỏi,không được nói ở đây đẩy qua đó..."

Họ tử tế cho một chiếc ghe tốt hơn, nhận chìm ghe cũ, bắt chúng tôi dời qua ghe mới, rồi cho một tàu nhỏ kéo đi qua Hongkong. Thấy Hongkong hiện ra xa xa là tàu tháo dây cáp, vẫy tay chào chúng tôi, bỏ quay về lại Macao. Khi ghe tụi tôi cập bến, cảnh sát tới tịch thu giấy tờ, hỏi ai là chỉ huy. Tôi bảo Hà để tôi nhận là chỉ huy, vì có giấy tờ làm cho CIA của Mỹ trước kia. Giấy tờ này, gồm cả hình ảnh mặc đồ lính, bằng cử nhân luật trước 75, vợ tôi chuẩn bị sẵn một phong bì bao bịch nylon, đưa tôi lúc gặp nhau dưới ghe ở bờ biển Phan thiết. Họ hỏi đi từ đâu tới. Tôi nói từ Việt Nam. Họ hỏi sao đi ghe của Macao. Tôi nói tại ghe tôi hư máy tắp vô Macao, Macao cho ghe khác rồi đuổi đi. Họ ghi chép tên họ cấp bậc chức vụ tôi, báo ngay cho phái đoàn Mỹ biết... Phái đoàn điện về Washington, và ba hôm sau ông boss Mỹ cũ của tôi bay qua Hongkong gặp tôi, gửi gấm cho phái đoàn Mỹ tại Hongkong. Tôi trở nên cố vấn tin cậy của họ, làm việc trực tiếp với một bà xếp Mỹ. Bất cứ vấn đề gì liên quan tới nhân sự làm cho Mỹ trước kia, họ đều hỏi ý kiến tôi.

Trong mấy tháng ở Hongkong, tôi đã giúp biết bao nhiêu người tỵ nạn tình ngay mà lý gian, chỉ vì họ vô tình khai gian, hay giấy tờ không đầy đủ. Tôi bắt họ nói thật, nếu đúng là cựu quân nhân mới bảo đảm với bà boss, để giữ uy tín mình... Anh biết, người ta đã tin mình, mình không nên vì tình cảm cá nhân, hay mủi lòng thương hại mà làm chuyện gian dối, Mỹ sẽ khinh cả đám. Ở đây tôi gặp anh Hùng, đại úy Hải, Thiện, anh... thằng Danh. Anh nhớ thằng Danh, cái thằng láu cá, nó đâu có đi lính ngày nào mà xưng là thiếu úy. Nghe có người mách nó lấy giấy tờ anh nó là thiếu úy nhảy dù qua đây, mặt hai anh em giống nhau y hệt, nên không ai biết. Lúc đó, tôi nghĩ tới hoàn cảnh chính tôi, em thì bạc phước bị VC giết, còn mình thì có phước được qua đây như nó, công trình vượt biên một lần đi chín phần chết, một phần sống chứ đâu phải dễ, nên làm ngơ... Nó mới 22 tuổi, còn cả một tương lai trước mặt, cho nó có cơ hội giúp đỡ mẹ già, anh khổ ở lại…

- Hồi đó tôi được chuyển qua Phi học ESL mấy tháng không gặp anh. Hình như anh đi thẳng Mỹ.

-Tôi và anh Hùng được đi thẳng Mỹ vì tình cảnh đặc biệt, kể ra dài lắm. Ông boss CIA cũ của tôi bên Mỹ nhờ một ông bạn đại tư bản ở Boston bảo trợ tôi, cho vợ chồng tôi ở nguyên một cái nhà to khỏi trả tiền rent, đưa tôi đi làm ngay trong hãng của ổng. Tôi qua đó tháng 8/84, mấy tháng sau mùa đông tới... ôi chao là lạnh, tuyết rơi, lạnh chịu không nỗi, thời gian đó tôi liên lạc được với bạn bè bên Nam Cali nên tính chuyện lén dọn về Cali ở, tính thầm trong bụng chứ không dám cho ông sponsor hay, sợ ổng buồn. Ổng tốt quá, nên mình ngại, sợ ổng nghĩ mình chê tiểu bang của ổng, được voi đòi tiên. Qua Little Saigon được hai tuần tôi có gọi phone về xin lỗi ổng. Ổng nói, "OK, nếu mày không có việc làm, cứ qua trở lại đây, tao sẵn sàng tiếp đón". Nhưng nói vậy chứ mặt mũi nào mình chạy qua đó lại. Tôi làm cho nhà hàng, rồi ghi danh đi học trường tư, học điện, plumbing, contruction... rồi sau cùng lấy bằng thầu khoán contractor luôn. Làm chỗ này chỗ kia vùng Orange County, Long beach, Los.... Tôi làm ăn cũng được, mua chung cư cho thuê, nhà ở, đất nhà... đầu tư... lu bù bây giờ chỉ còn có cái nhà đang ở ở Santa Ana là trả off, mấy cái kia tiêu hết.

- Cái đất 3 acres có nhà ở Peris họ tịch thu bán short sale anh nhờ tôi làm đơn mua giùm lúc trước, tới đâu rồi, sao thấy im lìm...

- Họ bán cho người khác rồi. Người đó qualified hơn anh.

- Anh giỏi thật, đủ nghề, lăn lộn chìm nỗi nhiều phen mà cũng không khá được. Rõ ràng con người có số. Những người ở tù CS như mình qua đuợc Mỹ, coi như đã trả xong cộng nghiệp, tưởng thoát khổ, bắt đầu ăn nên làm ra, coi vậy mà không phải vậy. Đâu phải ai tới Mỹ cũng thành triệu phú. Anh chịu khổ tám năm tù, lẽ ra giờ này bù lại phải được an nhàn phè phỡn, mà tới giờ con cái vẫn chưa thành đạt, còn phải đi làm. Tôi ở tù ít hơn, qua đây học hành, lao động, năm chìm bảy nỗi, đôi phen mất job mất nhà, về hưu mấy năm sau mới trả off cái nhà này, rồi được tiền hưu, medicare...

- Số tôi cực hơn anh nhiều...

- Mà thôi, so với các dân tộc khác qua Mỹ tìm cơ hội, nhiều người Mễ vượt biên qua Mỹ đói khát chết khô ở biên giới, nhiều người Hoa bỏ tiền qua đây đi làm lậu, có bầu, du lịch đẻ con để lấy quốc tịch Mỹ, người Trung đông qua ở lậu bị INS sau truy ra có liên hệ quân khủng bố trục xuất về nước, hay dân Phi châu vượt biên ngang biển Ý đại lợi tới Âu châu chết chìm liên tục... mình được như vầy là may mắn lắm rồi.

- Tất nhiên...

- Lại so với bao nhiêu người giờ này còn ở VN, cướp giật, làm điếm, bán thức ăn độc hại để kiếm lời, bệnh viện bê bối, giáo dục nhồi sọ, tương lai con cái đen tối, thì mình còn hơn nhiều, phải không anh Khoa...

- Tất nhiên rồi chứ còn gì nữa...


Phạm Hoàng Chương