Nhà thơ Hoàng Cầm sinh năm 1922, tỉnh Bắc Giang, mất 2010. Ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam Quan (1942), Kiều Loan (1945) và các bài thơ Lá diêu bông, Bên kia sông Đuống (tập thơ chọn lọc, 1993). Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Đầu năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
Em ơi! Buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ Xanh xanh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay
*
Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa trăm ngả Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu? Những nàng môi cắn chỉ quết trầu Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu Bây giờ đi đâu, về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu toả nắng Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối Những nàng dệt sợi Đi bán lụa mầu Những người thợ nhuộm Đồng Tỉnh, Huê Cầu Bây giờ đi đâu, về đâu?
*
Bên kia sông Đuống Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong Dăm miếng cau khô Mấy lọ phẩm hồng Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo Xì xồ cướp bóc Tan phiên chợ nghèo Lá đa lác đác trước lều Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong Bước cao thấp trên bờ tre hun hút Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu? Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Bên kia sông Đuống Ta có đàn con thơ Ngày tranh nhau một bát cháo ngô Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn Lấy mẹt quây tròn Tưởng làm tổ ấm Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm Ú ớ cơn mê Thon thót giật mình Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
*
Đã có đất này chép tội Chúng ta không biết nguôi hờn Đêm buông xuống dòng sông Đuống Con là ai? - Con ở đâu về? Hé một cánh liếp - Con vào đây bốn phía tường che Lửa đèn leo lét soi tình mẹ Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể Những chuyện muôn đời khôn nói năng
Đêm buông sâu xuống dòng sông Đuống Ta mài lưỡi cuốc Ta uốn lưỡi liềm Ta vót gậy nhọn Ta rũa mác dài Ta xây thành kháng chiến ngày mai Lao xao hàng cây bụi chuối Im lìm miếu đổ chùa hoang Chập chờn đom đóm bay ngang Báo tin khủng khiếp Cho giặc kinh hoàng Từng từng tiếng súng vang vang Trong đêm khuya thoảng cung đàn tự do Thuyền ai thấp thoáng bến Hồ Xoá cho ta hết những giờ thảm thương
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống Bộ đội bên sông đã trở về Con bắt đầu xuất kích Trại giặc bắt đầu run trong sương Dao loé giữa chợ Gậy lùa cuối thôn Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn Ăn không ngon Ngủ không yên Đứng không vững Chúng mày phát điên Quay cuồng như xéo lên đống lử
Hoàng Cầm - Bên kia sông Đuống (1960)
***
Lá Diêu Bông
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng Chị thẩn thơ đi tìm Đồng chiều Cuống rạ
Chị bảo Đứa nào tìm được Lá Diêu bông Từ nay ta gọi là chồng
Hai ngày Em tìm thấy Lá Chị chau mày Đâu phải Lá Diêu bông
Mùa đông sau Em tìm thấy Lá Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới Chị Em tìm thấy Lá Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con Em tìm thấy Lá Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn
Từ thuở ấy Em cầm chiếc Lá đi đầu non cuối bể Gió quê vi vút gọi Diêu bông hời... ... ới Diêu bông...!
- Rét 1959 -
***
“Bài thơ “Lá diêu bông” tôi viết về
một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời tôi.
Vào một đêm năm 1959, khoảng 3 giờ sáng, tôi chợt tỉnh giấc rồi thao
thức không ngủ lại được. Căn nhà ở phố Lý Quốc Sư nằm sâu phía trong,
lại thêm thuở ấy ban đêm không có tiếng xe tiếng còi ầm ĩ như bây giờ,
nên đêm khuya càng thêm thanh vắng. Chợt tôi thấy lóe trong đầu văng
vẳng mấy câu thơ do một người đàn bà đọc bằng giọng lanh lảnh: Váy Ðình
Bảng buông chùng cửa
võng...
Tôi
lấy ngay cây bút chì và tập giấy luôn để sẵn trên đầu giường ghi lại.
Rồi từng mẩu ký ức cứ hiện lên trong đầu tôi, hình ảnh người đàn bà,
người Chị năm xưa cứ rõ nét dần để đi trọn hết bài thơ.
Tôi
nhớ đâu hồi lên 4 tuổi, cha mẹ tôi từ làng quê chuyển lên sống ở một
phố nhỏ dọc đường quốc lộ. Gọi là phố nhưng thực ra chỉ có khoảng 14, 15
ngôi nhà dựng dọc hai bên đường, cách thị xã Bắc Giang chừng 6 cây số.
Nhà tôi quay về hướng tây, phía trước là đường cái, sau nhà có một mảnh
vườn nhỏ có hàng rào dâm bụt, tiếp đấy là đường xe lửa. Người trong phố
làm các nghề thợ may, cắt
tóc. Cha tôi có tủ thuốc bắc và gánh hàng xén của mẹ.
Lên
5, cha tôi đã cho tôi đến trường, cách nhà chừng 2 cây số. Nhưng đi học
xa, dọc đường hay bị trẻ chăn trâu bắt nạt, vì vậy năm sau ông gửi tôi
lên tỉnh học. Lên 6 tôi đã đọc thông viết thạo, lại thêm võ vẽ chữ Pháp,
nên được nhận vào trường công ở thị xã Bắc Giang. Tôi được gửi ở nhà
thầy ký ga Núi Tiết. Mỗi chiều thứ bảy, tôi đi thẳng từ trường ra sân ga
lấy vé, đi tàu mất 10 phút là về đến ga gần nhà. Thuở ấy đi tàu dễ dàng
nên trẻ con đi một mình cũng không sợ. Cuộc đời của một thằng bé cứ
lặng lẽ trôi nếu không có một biến đổi về tình cảm mà dấu ấn của nó sẽ
để lại trong lòng tôi nhiều
cảm nghĩ đến tận sau này.
Năm
đó tôi lên 10, đã học đến lớp ba (cour élémentaire). Một buổi chiều thứ
bảy, tôi về nhà như thường lệ. Ðang dừng lại ngoài sân nhìn vào trong
nhà, tôi thấy có một người đàn bà đang cúi xuống bồ hàng xén của mẹ tôi
chọn mua một cái gì đó. Chị mặc chiếc áo phin trắng, ngoài có chiếc gilê
màu thẫm. Khi đó nắng xiên khoai dọi vào nhà, lúc chị ngửng đầu lên thì
cả khuôn mặt chị được ráng vàng chiếu sáng, tôi thấy bừng lên một khuôn
mặt khiến tôi choáng váng cả người. Không hiểu cái máu đa tình có từ
bao giờ, mà chỉ mới lên chín lên mười, tôi đã bị khuôn mặt đó làm cho
tôi ngơ ngẩn suốt buổi chiều. Mua hàng xong chị ra về, khi đi ngang qua
tôi
trông theo, thì biết chị là người hàng xóm, ở ngôi nhà ngay bên kia
đường hơi xế cửa nhà tôi. Hỏi mẹ thì biết gia đình nhà đó mới dọn về, có
ba mẹ con, chị là con gái lớn, còn một cậu em trai nhỏ. Thảo nào tuần
trước tôi về chưa gặp. Tên chị là Vinh. Cả ngày chủ nhật hôm sau, tôi cứ
ngong ngóng nhìn sang nhà đàng trước, chờ xem chị có xuất hiện không.
Ðến sáng thứ hai tôi lại quay trở về thị xã.
Về
đến Bắc Giang, tôi làm ngay một bài thơ gửi chị, theo thể lục bát. Hồi
đó tuy chưa học niêm luật, nhưng tôi đã biết làm thơ lục bát. Nguyên tôi
trọ học ở nhà ông ký ga, buổi tối nhà chủ thường tập trung các bà ,các
chị trong xóm đến làm hàng xáo. Buổi tối khoảng 9 giờ học
xong, trước khi đi ngủ, các bà các chị thường gọi tôi xuống nhà dưới
đọc truyện cho mọi người nghe, trong khi họ đang giần sàng thóc gạo. Mỗi
tối tôi đọc chừng một tiếng rồi đi ngủ, các bà thường thù lao, khi thì
bát chè, khi thì phong kẹo. Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi được đọc hết mọi
truyện thơ dân gian, từ Phạm Công Cúc Hoa, đến Nhị độ mai, rồi Hoàng
Trừu... Tôi có giọng tốt, lại biết ngâm nga, nên được các bà tín nhiệm,
và cũng vì vậy mà thơ lục bát cứ ngấm vào người tôi, không cần học cũng
biết cách gieo vần.
Tôi
chép bài thơ vào tờ giấy học sinh. Trang đầu chép bốn câu có vẽ hoa
bướm, trang sau chép nốt bài. Tôi không còn nhớ bài thơ tình đầu tiên đó
viết những
gì. Chỉ nhớ là tôi nắn nót viết lên đầu trang giấy dòng chữ "Em gửi chị
Vinh của em". Tôi bỏ thơ vào phong bì, chờ hôm về nhà, tìm gặp chị trao
tận tay nói: “Em gửi chị cái này.” Chị không mở ra xem, chỉ mỉm cười
hơi bí mật rồi bỏ vào túi, không nói gì. Sau đó chị không nhắc đến bài
thơ đó, và tôi cũng không hỏi lại.
Từ
đấy tôi không chỉ về nhà chiều thứ bảy, mà ngày thứ năm được nghỉ, tôi
về cả chiều thứ tư. Mục đích là để được gặp chị. Ngày nghỉ, hễ thấy chị
đi đâu là tôi đi theo đấy, đôi khi chị thấy tôi đi theo thì đưa tay dắt.
Mỗi khi chị ôm chiếu ra sông giặt, tôi lại lẽo đẽo đi theo, ngồi trên
bờ nhìn chị cúi khom mình giặt chiếu ven sông. Tình
yêu tôi dành cho chị chỉ có thế, nhưng nó cứ đeo đẳng tôi hết năm này
sang năm khác. Tôi càng lớn thì tình yêu đó càng thêm đằm thắm, nhưng
tôi chưa biết làm thế nào để bày tỏ mối tình của mình.
Lên
12 tuổi, những đêm sáng trăng, chị Vinh thường tập hợp trẻ em từ 10 đến
15 tuổi cả trai lẫn gái, tụ tập trên bãi cỏ sau ga để tập hát. Chị Vinh
có giọng ca tốt, thường cùng một vài chị trong xóm hát Quan họ. Chúng
tôi được chị dạy hát đủ loại dân ca như Trống quân, Cò lả... Mỗi khi
đứng hát, tôi thường chen vào đứng cạnh chị, có khi tôi đứng trước chị,
đầu tôi vừa đúng ngang tầm ngực của chị. Có khi chị ôm lấy vai tôi, tôi
hơi ngả đầu vào người chị, chị khe khẽ
vuốt cổ xoa lên hai vai tôi. Tôi có một cảm giác là lạ, đó là những giờ
phút say sưa nhất của tôi. Những đêm tháng chín tháng mười, trời hơi se
lạnh, đứng dưới gốc cây trên bãi cỏ, tôi được hơi ấm từ người chị
truyền sang. Hình như chị cũng cảm thấy sự ham muốn của tôi. Mặc dù lúc
đó tôi còn bé, nhưng là một cậu bé khôi ngô tuấn tú, lại có đi học, khác
hẳn với những đứa trẻ khác trong xóm. Ðược chị ôm trong lòng, nhưng tôi
chưa bao giờ dám chủ động ôm người chị.
Lần
ấy, trong dịp lễ Noel, tôi được nghỉ mấy ngày. Ðang đứng ở sân, tôi
chợt thấy chị Vinh bỏ cửa hàng đi ra cánh đồng. Tôi vội đi theo. Thấy
chị rẽ xuống ruộng, bới các bụi cây ven bờ ruộng. Tôi
cũng nhảy xuống theo, không biết chị có nhìn thấy tôi hay không. Chợt
chị ngẩng lên hỏi: "Sao mày cứ theo tao lẵng nhẵng như thế này nhỉ?" Tôi
không trả lời, nhưng thấy sung sướng vì đã được chị chú ý tới. Rồi chị
tiếp tục cúi xuống tìm, cuối cùng bước lên trên một cái gò nhỏ có nhiều
bụi cây dại. Tôi hỏi chị tìm cái gì. Chị dừng lại thẳng người lên, nhìn
vào mắt tôi nói: “Chị tìm cái lá...” (tôi không nhớ là chị gọi cái lá gì
nữa). Rồi chị tiếp lời: “Ðứa nào tìm được ta gọi làm chồng...” Nghe câu
nói đó, tôi cảm thấy sung sướng vô cùng, người nóng ran lên. Tôi nghĩ
đó là một cái lá gì kỳ diệu lắm, có thể dùng làm thuốc, hoặc dùng đắp
lên mặt như các cô gái hồi đó thường làm. Tôi cảm thấy giữa chị và tôi
có
một tình yêu mãnh liệt. Mà tình yêu đó giống như tình yêu tôi dành cho
mẹ. Tôi không có chị gái, vì vậy đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy một
tình yêu đối với người chị.
Hai mươi lăm năm sau, câu chuyện đi tìm lá của chị Vinh hiện lại trong bài thơ mà tôi đặt cho cái tên là “Lá diêu bông.”
Chị thẩn thơ đi tìm
Ðồng chiều
cuống rạ
Chị bảo
- Ðứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng...
Một
tuần sau, khi tôi từ trên tỉnh trở về, nhìn
sang trước nhà thấy cửa đóng im ỉm. Tôi vội hỏi mẹ nhà đó đi đâu rồi.
Mẹ tôi trả lời, trong giọng nói như có nước mắt: "Nó đi lấy chồng rồi
con ạ." Tôi òa lên khóc, gục đầu vào lòng mẹ. Không biết mẹ tôi có biết
mối tình của tôi đối với chị Vinh không, mà sao mẹ lại nói bằng giọng
nghẹn ngào? Khi đó cha tôi vừa về, tôi vội lau nước mắt, không dám để
cho cha nhìn thấy. Về sau mẹ kể cho tôi biết có một ông Quản khố xanh đi
qua đây, trông thấy chị đã mê vì nhan sắc. Chị bằng lòng lấy lẽ, ông
Quản đưa cả mấy mẹ con về Phủ Lý quê ông. Từ đấy tôi không gặp chị nữa.
Nhưng
câu chuyện chưa kết thúc ở đấy. Năm đó tôi đã 17 tuổi, vừa thi đỗ tú
tài xong, đang sống
ở Hà Nội. Nhân ngày nghỉ, có một người bạn ở Sen Hồ có người anh cưới
vợ, đã rủ tôi về nhà chơi, luôn tiện ăn cỗ cưới. Cỗ bàn xong, chiều hôm
đó tôi dạo ra phố Sen Hồ chờ tàu về Bắc Giang. Lúc đó tôi đã viết báo
nên cũng có tiền. Tôi mặc bộ complet, thắt ca vát, đầu đội mũ phớt, ra
dáng người dân chốn thị thành. Ðang thả bộ đi dọc phố, chợt nghe có
tiếng gọi: "Cậu Việt ơi!" Nghe giọng quen quen, tôi nhìn sang bên kia
đường, thì thấy chị Vinh đang ngồi bên một cái tủ bày bánh kẹo, cạnh một
cái chõng bán nước chè. Tôi bước sang đường, chị Vinh mừng rỡ chạy ra,
đặt hai tay lên vai tôi rồi kéo vào nhà nói chuyện. Bà mẹ đã già nhưng
còn nhớ tôi, hỏi thăm cha mẹ tôi. Một lát sau bà bảo bà có việc phải đi
vào làng, tối có thể
không về, cậu cứ ở lại xơi cơm. Cậu em đã lớn cũng theo mẹ đi. Hình như
cả hai đều biết giữa tôi và chị Vinh còn có nhiều điều muốn nói với
nhau. Chị kéo tôi ngồi xuống chõng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi. Tôi
nhẹ nhàng khẽ gỡ tay chị ra. Chị kể cho tôi biết tình cảnh của chị sau
khi lấy chồng. Chị lấy ông Quản đã có một mặt con. Mấy mẹ con chị về Phủ
Lý cũng vẫn tiếp tục buôn bán làm ăn. Nhưng dần dần ông Quản ruồng bỏ
chị, đi theo người khác. Cuối cùng ông đã đuổi mấy mẹ con đi. Gia đình
chị không muốn trở về chốn cũ, nên đưa nhau về Sen Hồ.
Tôi
ái ngại nhìn chị. Lúc này trong tôi không còn cái tình yêu say mê của
thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy thương cho
một con người tiều tụy, nhan sắc đã tàn phai. Bảy tám năm đã trôi qua,
nhưng hình ảnh của chị năm tôi lên 10 vẫn còn đọng mãi trong tôi.
Ngày cưới Chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.
Và cảm giác khi đánh mất chị như vẫn còn đi suốt đời thơ tôi:
No comments:
Post a Comment