Trích từ:
Những khám phá về hoàng đế Quang Trung
Tác giả: Đỗ Bang
[1] Vua Quang Trung cầu hôn Công Chúa nhà Thanh
[2] Nghệ Thuật dụng binh của vua Quang Trung
[3] Hoài bão của vua Quang Trung
[1] VUA QUANG TRUNG CẦU HÔN CÔNG CHÚA NHÀ THANH
o o o
Sách Hoàng Lê nhất thông chí chép rằng: “Vua Quang Trung sau khi quyết định đánh Trung Quốc,
bèn sai bầy tôi là Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh dâng biểu cầu hôn và đòi lại đất hai tỉnh
Quảng Đông và Quảng Tây". Điều đó là không phải do bản tâm của vua Quang Trung, chẳng qua
muốn xem ý nhà Thanh ra sao mà thôi, nhưng vừa lúc ấy thì Quang Trung bị bệnh rồi mất” .
Đại Nam chính biên liệt truyện ghi là:
“Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung sai làm biểu văn sang nhà Thanh cầu hôn để dò ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây mối binh đao, nhưng vua bị bệnh không đi được”. Như vậy theo hai tài liệu trên thì việc Quang Trung xin cưới một công chúa của Càn Long mới chỉ trong dự định của một ý đồ liên quan đến vận nước của hai bên.
Thuyết thứ 3: Với ý kiến mạnh mẽ, công bố vào năm 1943 trên báo Trung Bắc chủ nhật với đầu đề:
phải chăng vua Càn Long nhà Thanh đã bằng lòng trả cho vua Quang Trung tỉnh Quảng Tây làm nơi
đóng đô và gả công chúa”. Tác giả của bài báo đã dựa vào những chi tiết đáng tin cậy trong bản
gia phả của nhà họ Vũ do ông Vũ Vĩnh Thứ, cháu ba đời của Vũ Văn Dũng soạn năm Bính Ngọ, niên hiệu Tự Đức 22 (1869).
o o o
Nhưng quan trọng nhất là một sắc mệnh của vua Quang Trung gửi cho Vũ Văn Dũng vào tháng 4 âm lịch (1791), do một phái viên đặc biệt của nhà vua cử đi từ Phượng Hoàng Trung Đô (Nghệ An) mang đến trực tiếp giao cho Vũ Văn Dũng, khi Vũ Văn Dũng đang nghỉ dài hạn ở nhà.
Bản sắc mệnh có nội dung như sau:
Sắc sai Hải Dương, Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công
được tiên phong làm Chánh sứ đi sứ Trung Quốc kiêm lãnh toàn quyền trong việc tâu thưa để xin lại
đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn công chúa để khiêu khích tự ái vua Thanh.
Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy!
Hình thế dụng binh là ở chuyến này cả. Ngày kia làm tiên phong chính là khanh đấy.
Sắc mệnh nhà vua.
Ngày rằm tháng 4 năm Quang Trung thứ 4 (1791).
Căn cứ theo các tài liệu thì đoàn sứ của Vũ Văn Dũng đã lên đường sang Trung Quốc và được bệ
kiến với vua Càn Long, xin tâu hai việc: Xin cầu hôn và xin đất đóng đô. Đó chỉ là cái cớ, còn thực
tâm là vua Quang Trung muốn dụng binh đánh Trung Quốc mà Vũ Văn Dũng chính là vị tướng tiền
phong trong tương lai. Vua Càn Long đều chuẩn y cả hai đề nghị đó, nhưng nhà vua chỉ muốn trao
cho một tỉnh Quảng Tây làm đất đóng đô mà thôi.
Sau ngày tiếp sứ đoàn của Vũ Văn Dũng ở Ỷ Lương Các, vua Càn Long đã sai bộ Lễ sửa soạn nghi
thức cho việc cưới gả, định ngày cho công chúa sang nước Nam đẹp duyên với Quốc vương. Nhưng
chỉ sau đó mấy hôm, Vũ Văn Dũng nhận được tin chẳng lành là vua Quang Trung đã mất. Mọi việc đều dang dở. Vũ Văn Dũng cùng đoàn sứ Việt Nam ôm mối hận trở về.
o o o
Trong hồ sơ Bang giao lục thời Tây Sơn có ba bức thư nói về việc cầu hôn (thỉnh hôn biểu) của vua
Quang Trung. Sau đây là bản dịch tờ biểu cầu hôn.
“Thần vốn là kẻ áo vải, được nhờ ơn cả, lạm giữ cõi Nam. Từ khi vào triều cận nơi cung khuyết
đã được cách làm lễ bảo kiên vấn an. Lại được ban thưởng trọng hậu, ơn sủng dồi dào. Phàm là việc
mà cõi phương Nam từ xưa nay chưa ai từng được ưu hậu như thần cả.
Đến khi thần về nước, lại được đặc ân mọi bề, cấp ban thánh chỉ, ơn cao lồng lộng của nhà vua
thật không sao kể ra cho xiết! Thần là kẻ nhỏ nhoi ở nơi hẻo lánh xa xôi chẳng ngờ được thưởng ân lộc đến thế! Tấm lòng canh cánh ngày đêm mong sao sớm được đền đáp. Song thần chưa có dịp để thực
hiện. Chỉ mong thường được gõ cửa trời, gần nhìn bóng nhật nhưng ở phương xa, núi sông cách trở.
Sức muôn làm nhưng không được như ý. Hễ qua khỏi cửa Nam Quan thì thân cũng hoá thành sơ.
Thần vẫn mơ tưởng khúc nhạc quân thiều, ngóng trông Vân Hán, hằng e mình rồi cũng đến như
hạng tầm thường, bị liệt ra ở ngoài vòng thanh giáo làm phụ lòng công ơn trời bể của Thánh từ. Trộm nghĩ - Thánh nhân tỏ lòng giúp đỡ phiên thần đế nối lại chỗ sơ thành ra thân thiết, phần việc đều cư xử như đạo xưa.
Nước thần ban đầu, vua Kinh Dương chịu mệnh nơi Viêm Đế, bà Âu kết duyên cùng vua Lạc Long.
Tổ nước Văn Lang mở cõi Giao Chỉ, trăm trai nối dõi, từng làm phên dậu phía Nam, may nhờ phúc ở Trung Hoa, được nổi danh là Văn hiến, thế đại dẫu đã xa, nhưng sử sách còn đủ để khảo xét.
Từ khi nhà Tống dấy lên, ràng buộc nước thần, nên mới ra ngoài vòng đức hoá, không liệt vào
hạng minh đường, chỉ để như hạng hành bộc khác mà thôi.
Nhà Thanh ta được trời quyến cố, rộng đến muôn phương, chỗ nào có bóng mặt trời soi đền đều
coi muôn dân như con chung một bọc, như con một nhà.
Kính nghĩ - Đại Hoàng đế bệ hạ đức ngang với trời đất, đạo cao hơn vua Hiên, vua Nghiêu, vỗ về
cho chư hầu mến phục, dịu dàng cho người xa hướng về không phải là kiểu tầm thường như các triều đại gần đây.
Thần lạm được Thánh thượng coi như con ruột, liệt vào hàng thân vương. Phận này, dù tận nơi xa
khuất, nhưng tình ấy vẫn kể như vô cùng.
Thiết nghĩ - muôn vật đều không giấu mình được với trời đất. Con cái không thể giấu tính được với
mẹ cha, thì chuyện riêng của gia đình không thể che giấu được bậc chí tôn. Mới đây, nhà thần gặp việc không may thiếu người giữ việc chăm lo hương khói. Trên nền xây dựng phong hóa cũng thiếu người đỡ đần. Vậy muốn núp dưới bóng cây ngọc để bám vững vào gốc dân.
Ngưỡng trông Thánh triều phát tích từ nơi Trường Bạch, mang đền phúc lành cho con cháu hàng
ngàn, hàng ức, nối đời phồn thịnh. Lâu nay, cứ việc là vua thì chọn nơi quý hiềm để gả công chúa chứ không có lệ lập hôn đến các phiên thần ở cõi phương xa. Phép luật đã nghiêm nhặt như thế, thì làm sao có thể vươn tới cành ngọc cho được, chỉ vì một nỗi niềm riêng tư trông ngóng, việc cử trăn trở mãi không thôi.
Trộm mong cành ngọc nhà trời lan rộng khắp mọi chốn mọi nơi, ngõ hầu thần được hưởng phúc
lành theo dấu gót lân, đem phong hoá quan thư ban ra cho mọi lẽ, những việc tề gia thuận thảo ở chốn gia đình sẽ là mẫu mực để dân trong nước học theo. Tập làm quen với nề nếp chôn Trung Hạm gạt bỏ thói cũ, khiến thần dân trong nước thoả niềm uởc mong của vòng đức hoá, cao sang. Mong sao dòng dõi của thần, đời đời được giữ mãi làm phiên phong, hưởng mọi sự tốt lành! Đó là điều mong lớn của thần. Do ở phương xa lại có việc xảy ra bất trắc nên thân đã bàn với bầy tôi, ai cũng không dám nhưng vì thần mà họ đề nghị phải làm. Cửa vua muôn dặm, trông ngóng đăm đăm.
Nay đành đánh bạo mà làm, tự nghĩ cũng cần nên cân nhắc, nhưng vì tỏ lòng thành kính, sai kẻ bồi thần sang xin triều kiến, thay mặt thần, họ sẽ nói lên nỗi lòng thần muôn bày tỏ.
Mong sao cho được đấng anh minh rủ thương xét cho thần vì tấm lòng chân thành, trìu mến, tha thứ
cho thần những lời mạo muội, táo bạo trong việc xin cầu hôn.
Thần ở biển Nam, ngóng trông sao Bắc xin kính chúc Thánh thiên tử sông lâu muôn tuổi, mãi mãi
là cha mẹ của dân vạn nước.
Thần xiết bao lo lắng, ngóng trông!”
o o o
Vua Quang Trung chết đúng vào năm ông có dự án đánh và tiêu diệt quân Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp ở Gia Định. Đây cũng là năm đã hoàn thành một bước “chọc thủng” Thiên triều với nhiều tài liệu đã xác nhận là đoàn Sứ thần của vua Quang Trung đã đến gõ cửa kinh đô Trung Quốc với hai yêu cầu: xin cưới công chúa nhà Thanh và đòi đất của Lưỡng Quảng để đóng đô.
Vua Thanh đã chuẩn phê hai yêu câu trên thì bên này được tin là vua Quang Trung đã từ trần.
Vũ Văn Dũng đang ở trước điện rồng tại Bắc Kinh nghe tin dữ, liền té xỉu, lúc tỉnh dậy ông có bài thơ.
"Bố y phân tích ngũ niên trung
Mai cổ thi vị tự bất đồng
Thiên vị Ngô Hoàng tằng nhất kỷ
Bất ư Đường Tông thuyết anh hùng"
Nghĩa là:
Năm năm dựng nghiệp tự thần nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường Tông hết khoe hùng.
o o o
Còn vua Thanh, Càn Long, đã 80 tuổi, già dặn về mọi mưu chước chính trị, trong suốt hơn 60 năm
cai trị (1736- 1796), đã từng tuyên bố “một mình ta đã từng mở đất hàng vạn dặm” thì việc thất bại
ở Việt Nam vào năm 1789 là đau đớn nhất trong cuộc đời làm thiên tử của mình.
Cuối năm 1788, trong khi những tin thắng trận từ Thăng Long được Tôn Sĩ Nghị tiếp báo về Bắc
Kinh, vua Thanh vô cùng mừng rỡ, ban chức tước bổng lộc, thưởng thêm một tháng lương cho đội
quân viễn chinh ăn tết ở đất người.
Tại Bắc Kinh, vua Càn Long đã chọn ngày mồng 5 Tết làm ngày “Hội mừng công bình định được
An Nam". Chủ đề đó được các đại thần, đại học sĩ, văn nhân, quan chức hưởng ứng từ trước, tụ về
kinh để xướng họa, bình phẩm và cũng để vua quan chúc thọ đầu năm. Mừng nhau năm mới thắng lợi mới. Chúng có ngờ đâu cái ngày hôm ấy, số phận cả đội quân xâm lược nhà Thanh đã bị quyết định ở chiến trường Thăng Long.
Đột ngột và đau đớn, nhưng Càn Long vẫn bình tĩnh, ra lệnh chiêu an Tôn Sĩ Nghị, cho là Chiêu Thống hèn nhát bỏ chạy trước nên ảnh hưởng đến tinh thẩn chiến đấu của quân đội Thiên triều, chỉ là do binh lính “trượt ngã” mà thôi. Khi Tôn Sĩ Nghị trốn về nước, số tàn tốt cũng lục tục kéo qua được biên giới trong số 29 vạn quân đi, kiểm kê lại chỉ còn 5.500 lính về. Càn Long ra lệnh bãi chức, thu tước công của Tôn Sĩ Nghị và chiếu theo luật quân để nghiêm trị. Càn Long điều Phúc Khang An sang thay, làm Tổng đốc Lưỡng Quảng và cho thêm 50 vạn quân để ứng chiến vùng biên giới. Thế nước tức khắc chuyển sang hoà.
Hoàng Lê nhất thống chí thuật lại cảnh di tản như sau: “. . . Thấy Nghị về, nhân tình đến nhốn nháo,
sợ hãi. Tiếp đó lại được tín Tây Sơn đuổi đến Lạng Sơn, phao tin rằng sẽ giết hết rợ hung nô. Do đó, ở đất Trung Quốc, dân chúng lại càng nhốn nháo. Từ cửa ải Nam Quan trở về Bắc, trai gái, trẻ già, bồng bế dắt díu nhau chạy trốn, suốt vài trăm dặm, lặng ngắt không một bóng người”.
Còn vua Quang Trung đang lúc trong lòng rực lửa chiến công thì nhận được thư của Thang Hùng Nghiệp, nên có thái độ “nhà Thanh muốn giảng hoà thì tỏ lòng khinh bỉ”.
Như hiểu hết ý đồ của giặc, vua Quang Trung nói với Ngô Thì Nhậm... “Họ mượn tiếng để mưu đồ riêng mà thôt. Nay họ bị ta đánh thua, nhịn đi thì thẹn, báo thù thì khó”.
Thế là vua Quang Trung chấp nhận yêu cầu giải quyết chiến tranh có lợi cho cả hai bên.
Ngô Thì Nhậm được giao thảo một bức thư để trả lời cho nhà Thanh.
Còn Phúc Khang An “đã chính mắt thấy Nghị trơ trọi một mình chạy về. Sau đó, tai lại được nghe
thanh thế của vua Quang Trung nên trong bụng không khỏi rụt rè, lo sợ. . . bèn nói nhỏ với viên thuộc quan rằng: Nam - Bắc thôi việc binh đao, đó là phúc của sinh dân, mà là điều may mắn cho quan ở
ngoài bờ cõt. Ta nghe nói viên quan coi việc giấy tờ của nước Nam tên là Ngô Thì Nhậm, bao nhiêu
thư từ từ trước đến nay đều do tay y mà ra. Vậy ngươi nên viết thư trả lời, bảo y chuyên tâm chủ
trương việc giảng hoà, gấp rút viết tờ biểu tạ tội đưa sang, ta sẽ ở trong giúp đỡ cho, việc ấy thế nào
cũng xong”.
[2] NGHỆ THUẬT DỤNG BINH CỦA QUANG TRUNG
Quang Trung là một nhân vật lịch sử đặc sắc trong thế giới Đông – Tây, Kim - Cổ. Sự xuất hiện
của ông vào thế kỷ XVIII là một mềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Nhiều sứ mạng lịch sử đều tập
trung ở ông. Ông là biểu hiện sức sống phi thường của dân tộc, một khát vọng vô biên của quần chúng nhân dân, một năng lực để đổi mới phát triển đất nước. Quang Trung xứng đáng là một anh hùng dân tộc vĩ đại. Tài năng xuất sắc của Quang Trung được biểu hiện trên nhiều mặt: chính trị, văn hoá, ngoại giao. Đặc biệt về phương diện quân sự, ông là một thiên tài xuất chúng, một danh tướng trăm trận trăm
thắng.
Năm 20 tuổi, ông đã cầm quân đánh Nguyễn, năm 40 tuổi dự định mở chiến dịch vào Gia Định để
diệt quân Nguyễn, nhưng ông bị chết trước khi chiến dịch mở màn.
Trải qua hai mươi năm làm tướng chỉ huy, Quang Trung đã chiến thắng nhiều loại kẻ thù, thù trong
cũng nhiều, giặc ngoài cũng lắm. Ông đã chiến đấu và chiến thắng trên khắp các chiến trường của cả 3 miền đất nước: Gia Định, Phú Xuân, Thăng Long.
Không phải ở thời đại chúng ta mới nhìn nhận đúng tầm vóc của Nguyễn Huệ mà ngay cả lúc
đương thời, kẻ thù cũng đã thừa nhận điều đó. Quân Nguyễn cho Nguyễn Huệ “ứng biến như thần”,
giặc Xiêm sau lần thua trận đầu năm 1785 coi Nguyễn Huệ là “tướng nhà trời”.
Còn Tôn Sĩ Nghị lúc mới đến Thăng Long thì huênh hoang tự đắc “nuôi béo giặc đợi chúng đến
nộp thịt”. Nhưng đến lúc Nguyễn Huệ đưa quân ra Thăng Long, mới nghe tin đã “sợ mất mật, bủn rủn chân tay” và báo với Càn Long là do bọn Lê Chiêu Thống “nghe tin Nguyễn Huệ thân hành đem binh đến mất cả hồn vía, bỏ chạy, làm cả đội quân Thiên triều cũng chạy theo”.
Ngay cả một số giáo sĩ phương Tây có thành kiến Tây Sơn cho là phiến loạn (Rebelles), gọi
Nguyễn Huệ là Tiếm vương (Usur pateurs), là Bạo chúa (Tyran), nhưng vẫn so sánh Nguyễn Huệ với Alexandre Đại đế hay Tân Attlita. Đó là những nhà quân sự nổi tiếng, bách chiến bách thắng của châu Âu.
Yếu tố đưa Nguyễn Huệ trở thành một thiên tài quân sự là gì? Nghệ thuật dụng binh ra sao?
Những bí ẩn trong việc tổ chức quân đội và khoa học quân sự là gì? Nét độc đáo của Nguyễn Huệ trước khi trở thành thiên tài quân sự, ông chỉ là một nông dân áo vải, không qua một trường đào tạo văn võ nào chính quy và có hệ thống. Thực tiễn của cuộc đấu tranh xã hội tạo ra nhân tài.
Nhà chiến lược có nhiều mưu trí, thời cơ thần tốc, nghiêm lệnh là nét nổi bật của thiên tài Nguyễn Huệ. Trong trận đánh ở Gia Định vào năm 1783, khi vây đuổi Nguyễn ánh ở đảo Phú Quốc, Nguyễn Huệ đã tuyên bố với các tướng sĩ rằng: “Binh cốt lấy nhanh làm thần, cơ là không thể bỏ mất, nay nhân thế thắng qua bể đánh úp đấy là thượng kế của nhà binh. Vả lại, phòng sông không bằng phòng bể mà phép hải chiến thì phải biết thời, chiều gió, sức gió, nước triều, thống nhất nghiêm lệnh, buông thuyền lớn theo dòng nước thốc lên đánh ngay, ắt phải thắng".
Quan điểm dụng binh đó được Nguyễn Huệ thực hiện một cách tài tình trong chiến trận
Rạch Gầm - Xoài Mút vào đầu năm 1785.
Biết quân Xiêm đã tràn vào Gia Định từ tháng 8 năm 1784, nhưng Nguyễn Huệ không cho tiến
quân đánh úp ngay. Vì muốn để cho chúng bộc lộ hết mọi sở trường và sở đoản của quân xâm lược mà nghĩa quân Tây Sơn chưa một lần thử thách. Trong đó, cốt lõi là để bộc lộ sự mâu thuẫn giữa nhân dân ta cùng đội quân cướp nước và bè lũ bán nước, sự phân hoá giữa tập đoàn Nguyễn Ánh và quân đội Xiêm, càng tăng thêm sự chủ quan, khinh địch của đối phương qua chiến thắng ban đầu. Rõ ràng chưa đánh, nhưng quân xâm lược Xiêm yếu đi từ yếu tố cơ bản của nó.
Đến tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ từ Quy Nhơn đưa hai vạn quân vào Gia Định đánh quân Xiêm
là thời cơ chín muồi. Nhưng Nguyễn Huệ không chủ động tấn công vào bản doanh Trà Tân của địch, nơi cách sở chỉ huy Tây Sơn ở Mỹ Tho chừng 25 km và cũng không để địch đánh vào Mỹ Tho, nơi nghĩa quân có phòng vệ, mà ông chọn trận địa .mai phục giữa lòng sông Tiền, trong một quãng sông chừng 7km nằm giữa Rạch Gầm và Xoài Mút là thế mạnh vốn có của nghĩa quân.
Trận địa mai phục này chủ yếu là dùng sức mạnh áp đảo của quân thuỷ nhưng có bộ binh và pháo
binh hỗ trợ. Nhưng làm sao để đưa địch vào trận địa mai phục? Làm sao đánh địch vào lúc trời hửng
sáng (4, 5 giờ sáng) để phân biệt được bạn thù và kiểm soát chiến trường? Làm sao để bảo đảm bí mật cho một trận quyết chiến nhanh chóng và oanh liệt. Nếu không thắng, hoặc thắng nhưng cuộc chiến kéo dài, rất có nguy cơ là Quy Nhơn rơi vào tay quân Trịnh chứ chưa nói quân Xiêm từ đó sẽ trườn ra địa bàn miền Trung.
Một tháng chỉ có một ngày, cái ngày lý tưởng để mở trận phản công địch lúc tảng sáng đó là đếm
18 rạng ngày 19 tháng 1 năm 1785. Ngày đó, thuỷ triều, con nước, sức gió đạt đến mức lý tưởng nhất cho trận thuỷ chiến nên Nguyễn Huệ đã dùng kế trì hoãn chiến thư: Mời tướng sĩ Xiêm lên Mỹ Tho xem quân Tây Sơn duyệt binh, xin hoà hoãn và đút lót cho chủ tướng của giặc, dùng kế nghi binh, khiêu chiến. Và quả thật, toàn bộ quân Xiêm trong đêm 18 đã dồn ứ trước đoạn sông Tiền, nằm gọn trong trận địa mai phục và đến tảng sáng thì bị đánh phủ đầu. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, toàn bộ gần 5 vạn quân Xiêm bị nghĩa quân Tây sơn quét sạch, chỉ còn lại vài ngàn tên tháo thân chạy về nước. Chúng kinh sợ phao truyền cho là ‘Sợ Tây Sơn như là sợ cọp” và tôn Nguyễn Huệ là ‘tướng nhà trời”. Nguyễn ánh cũng bị quân Tây Sơn bắt tại trận, nhưng do sơ hở trong việc canh giữ nên đã bỏ trốn.
Trong chiến dịch giải phóng Phú Xuân năm 1786, Nguyễn Huệ đã sử dụng cả bộ binh lẫn thuỷ quân có thêm tượng binh, kị binh và pháo binh hỗ trợ. Đặc biệt là sử dụng tình báo một cách tài tình, tình báo Tây Sơn đã khai thác từ Quy Nhơn, rồi thọc sâu vào Phú Xuân để nắm chắc tình hình. Đã dùng kế li gián một cách thành công giữa chủ tướng Phạm Ngô Cầu và phó tướng Hoàng Đình Thể.
Nguyễn Huệ đã dùng kế “điệu hổ ly sơn” một cách tài tình bằng cách dùng một nghĩa quân cải
trang là thuật sĩ để dụ gần hết lực lượng phòng vệ ở thành Phú Xuân lên chùa Thiên Mụ để lo cầu an
cho Phạm Ngô Cầu, một đòn cân não nhắm đánh vào tinh thần bạc nhược, cầu an của quân Trịnh, làm cho quân Trịnh quá mệt mỏi do thức gần bảy ngày đêm để phục dịch, trong khi việc bố phòng ở Phú Xuân bị chểnh mảng thì nghĩa quân Tây Sơn tiến ra công thành. Nghĩa quân đã hãm đồn An Nông và phao tin An Nông đã bị vỡ, làm binh lính giữ thành Phú Xuân thêm hoang mang. Thành Phú Xuân được giải phóng sau một đếm tấn công và chỉ vài hôm sau đã truy quét hết quân Trịnh trên đất Thuận Hoá, vì được bổ sung thêm một mũi vu hồi chặn viện do Vũ Văn Nhậm chỉ huy từ sông Gianh tiến vào sâu trong nội địa Quảng Bình.
Chiến thắng Phú Xuân - Thuận Hoá năm 1786 của Nguyễn Huệ còn do biết phát động nhân dân nổi
dậy đấu tranh kết hợp với nghĩa quân tiến công, truy bức địch.
Trong cuộc kháng chiến chống Thanh ở chiến trường Thăng Long, Quang Trung đã hoàn toàn giành
thế chủ động. Có thuỷ quân nhưng chủ yếu là sử dụng chủ lực của quân bộ, có pháo binh, tượng binh hỗ trợ, vai trò của đội quân tình báo và phát động nhân dân nổi dậy đấu tranh cũng được phát huy mạnh mẽ.
Vua Quang Trung vẫn áp dụng lối đánh thần tốc bí mật, bất ngờ, trá hình, nhưng nét tiêu biểu của
chiến dịch tiêu diệt giặc Thanh là nghệ thuật tác chiến hợp đồng giữa các binh chủng.
Các mũi tiến công rất chính xác giữa không gian chiến trường và thời gian trong toàn bộ chiến dịch
và luôn giữ thế áp đảo, đứng trên đầu thù từ lúc trận mở màn của chiến dịch đánh vào Gián Khẩu, Hạ Hồi... mặc dù lượng quân chỉ bằng 1/3 của địch.
Cũng như trận thắng Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút 1785, trận thắng quân Thanh oanh liệt ở Thăng
Long (1789) khi kẻ địch còn nguyên vẹn, sung sức làm cho chiến công của vua Quang Trung trở nên oanh liệt hơn.
Nguyễn Huệ đã thực hiện một chính sách toàn dân đánh giặc, toàn diện đánh giặc, kết hợp giữa tiến
công của binh sĩ và nổi dậy của quần chúng nhân dân, tạo thành một phong trào đấu tranh yêu nước
rộng rãi mang đậm nét một cuộc chiến tranh nhân dân. Điều mà các đội quân đương thời không thể có được.
Ngày 1 tháng 5 năm 1787, trong một bức thơ gửi về Pháp, Giáo sĩ Longer ở Thuận Hoá đã viết:
“Tất cả mọi người từ 15 tuổi trở nên đều đi lính, những người già cả, phụ nữ thì sửa sang cầu cống,
đường sá, xay thóc, giã gạo”. Giáo sĩ Sếrard cũng ghi lại như sau: “Đàn ông thì đi lính, đàn bà trẻ con thì tạp dịch, kẻ thì cày cấy người thì xay thóc giã gạo”. Giáo sĩ Doussain cho biết, nhân dân Thuận Hoá đã thực hiện khẩu hiệu “tận xuất vi binh”, tức toàn dân đều tòng quân. Đã từng thúc bách bởi lệnh tuyển quân và từng chứng kiến quân đội Tây Sơn, Giáo sĩ Léfroy trong một lá thư đề ngày 6 tháng 7 năm 1789, có đoạn ông viết: “Vì ông ta (tức Nguyễn Huệ) là người can đảm và được coi là Alexandre đại đế ở đây, nên ông lập tức xuất chinh đem theo cả thanh thiếu niên và bô lão mà ông đã bắt gặp. Quân đội của ông giống như một toán bệnh nhân ốm yếu hơn là một đoàn chiến binh. Nhưng không can gì, những binh lính khốn khổ ấy đã tiêu diệt được quân Trung Hoa vào hồi đầu năm”.
Nhiều lá thư khác gửi về Pháp, Sérard cũng cho biết cụ thể, như “nhà nào có mấy người thì bắt đi
lính hết cả, sáu người thì đi cả sáu, năm người thì đi cả năm, không kể già, trẻ ốm yếu” hay “họ bắt trẻ con từ 7 đến 8 tuổi bổ sung vào đoàn binh cận vệ của Hoàng tử” (thư đề ngày 6 tháng 3 năm 1792).
Trong đợt khảo sát, tìm hiểu những lưu dấu của thời kỳ Tây Sơn tại thành phố Huế vào mùa hè năm
1988, chúng tôi đã sưu tầm được nhiều văn bản quý thời Tây Sơn, trong đó có một bản khai dân đinh của làng Thanh Phước, lập vào ngày 10 tháng 1 năm Quang Trung thứ 5 (1792) gồm có 202 người, kể cả những người còn vị thành niên. Còn trong bản khai ngày 20 tháng 1 năm Quang Trung thứ 5 (1792) có khai danh sách tên của những người 8 tuổi có tám người và bảy tuổi có 5 người để nộp lên quan trên.
Quân đội Tây Sơn bao gồm nhiều thành phần, nhiều tầng lớp xã hội, nông dân, thương nhân, phú
nông, quan chức, trí thức. Có cả người Hoa và các dân tộc ít người, có cả tín đồ Thiên Chúa giáo và
Phật giáo, nên trong việc xây dựng quân kỷ, Nguyễn Huệ rất chú ý đến tính nghiêm lệnh để đảm bảo có một đội quân có kỷ luật cao.
Sau cuộc kháng chiến chống Xiêm thắng lợi, Nguyễn Huệ được đối phương xem như “tướng nhà
trời” và đã có nhận xét về Nguyễn Huệ: “Có nhiều mưu lược, hiệu lệnh như lửa, hễ ai phạm vào luật
cấm thì chém tươi không tha, tướng sĩ đều kinh sợ như thần minh”.
Năm 1786, khi ra Thăng Long, bấy giờ Nguyễn Huệ đã vào thành, hạ lệnh nghiêm cấm quân sĩ
không được cướp bóc của nhân dân. vào năm 1787, cũng đội quân đó, nhưng do Vũ Văn Nhậm chỉ
huy thì: “Nhậm thả lính lùng khắp các nhà dân ở phố phường, lấy được rất nhiều của báu đến cả của tư cũng lấy hết”, nên nhân dân Thăng Long đã ca thán: “Đời trước hành quân không hề chạm đến mảy may của dân, có người lấy cái nón của dân che áo giáp của quan cũng không cho, sao nay dân gian lại bị hại thế”. Là một giáo sĩ truyền đạo lâu năm ở Thuận Hoá, trong một bức thư gửi cho Letondal ngày 11 tháng 6 năm 1788, La Bartette có đoạn viết: “quân Tây Sơn đôi khi điều động được từ 200 đến 300.000 quân, thực sự thì đa số bọn họ bị cưỡng bức, nhưng tất cả đều quyết tử kẻ nào nhìn về phía sau trận địa lập tức bị chém đầu”.
Trên đường tiến quân ra đánh giặc Thanh, khi đến Tam Điệp, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ra đón
và xin chịu tội vì bỏ 11 trấn cho quân Thanh vào vua Quang Trung nói: “Binh pháp dạy rằng: “quân
thua chém tướng”. Tội của các ngươi đều đáng chết một vạn lần. Song ta nghe các ngươi đều thuộc
hạng võ dõng chỉ biết giặc là đánh, đến như việc tuỳ cơ ứng biến thì không có tài”.
Đến ngày 30 tết, Quang Trung mở tiệc khao quân, cho binh sĩ ăn Tết trước rồi báo tin với các
tướng sĩ rằng: “Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối 30 lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho ta nói khoác”. Và quả thật, với sức tiến công vũ bão và một quyết tâm cao, vua Quang Trung đã đưa nghĩa quân Tây Sơn vào Thăng Long ăn Tết vào sáng mồng 5, sớm hơn 2 ngày so với kế hoạch đã định. Tuy nhiên, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, nhưng nghệ thuật dụng binh của ông vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá.
o o o
1. Về tổ chức lực lượng
Tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ ra Thăng Long, tiếp đó Nhạc cũng ra, các thủ lĩnh Tây Sơn bàn rút
lui khỏi Thăng Long nhưng sợ Nguyễn Hữu Chỉnh biết và đi theo. Thế là chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, từ canh hai của ngày 17 tháng 7 (âm lịch), hai vạn quân Tây Sơn đã bí mật triệt thoái khỏi Thăng Long. Trước một sự cố lớn lao nhưng cả kinh thành hầu như yên trong giấc ngủ, chỉ trừ một người biết là Lê Chiêu Thống, nhưng Chiêu Thống cũng chỉ biết tin đúng vào giờ G của thời điểm rút quân, còn Nguyễn Hữu Chỉnh và bộ hạ dù đã thức suốt đếm để canh chừng vẫn không hay biết gì cả! Đến canh năm, quân Tây Sơn ra khỏi Thăng Long xuôi về Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh mới được tin “trong bụng cực kỳ hoang mang, tự biết mình thất thế, ở lại thì không dám, bỏ mà đi thì cũng dở, đường thuỷ không có thuyền, đường bộ không có quân, muốn trốn thì không có chỗ trốn, không biết nên đi đường nào’. Trong lúc sống chết nguy cấp như vậy, nhưng Chỉnh vẫn tự trấn an: “Ta đi khắp bốn biển chín châu, chẳng lẽ khi trở về xó bếp, lại bị chuột chù cắn chân ư? Không sợ? Không sợ! Ta cứ ở đây xem sao”.
Ngày 21 tháng 12 năm 1788, đô đốc Nguyễn Văn Tuyết mang tin về tình hình quân Thanh vào
chiếm đóng ở thành Thăng Long về đến Phú Xuân để cấp báo cho Nguyễn Huệ, trong khi các tướng sĩ hoảng hốt thì Nguyễn Huệ tỏ ra rất bình thản, ông ra lệnh đắp đàn Nam Giao ở núi Bân, một quả đồi ở phía Tây, cạnh núi Ngự Bình để làm lễ lên ngôi Hoàng đế, một bước chuẩn bị cho cuộc phản công. Ngày hôm sau (22 tháng 12), đại lễ được cử hành, hơn 6 vạn nghĩa quân Tây Sơn được lệnh
tập trung quanh lễ đàn nghe Nguyễn Huệ đọc Chiếu lên ngôi và hạ lệnh xuất quân. Với phương tiện thông tin liên lạc và vận chuyển hồi đó còn rất sơ sài, nhưng chỉ cần sau 12 tiếng đồng hồ mà hơn 6 vạn binh sĩ được lệnh triệu tập để có mặt tại lễ đàn với đầy đủ trang bị, tinh thần chiến đấu để kịp thời lên đường, quả là một sự tổ chức tài tình của Quang Trung mà chúng ta không thể hiểu nổi.
Ngay trên đường hành quân, Quang Trung đã cho tuyển thêm hàng vạn binh lính, số tân binh này
được luyện tập, trang bị tinh thần, vũ khí, quân trang, quân dụng như thế nào để khi ra trận giáp mặt
với quân thù mà vẫn đảm bảo được tiêu chuẩn của một đội quân tinh nhuệ bách chiến bách thắng.
Lúc bình thường, Nguyễn Huệ cho tuyển quân tuổi từ 15, nhưng đến ngày tiếp cận với cuộc kháng
chiến chống Thanh, ở Thuận Hoá bình Trị Thiên ngày nay), số tân binh được tuyển từ độ tuổi 12. Với một đội quân quá trẻ như vậy, không biết Quang Trung đã tổ chức luyện tập và bồi dưỡng, trang bị và sử dụng như thế nào mà vẫn đạt yêu cầu của cuộc kháng chiến, đánh bại được đội quân nhà nghề của giặc Trung Quốc dưới thời Thanh triều đã được Hán hoá.
2. Vế tốc độ hành động.
Năm 1788, Quang Trung hai lần ra Thăng Long, lần đầu vào tháng 4 để phán xét tên phản bội Võ
Văn Nhậm, đội quân có 150 voi với 100 võng. . . thế mà đoạn đường từ Phú Xuân ra Thăng Long chỉ đi chưa đầy 10 ngày. Lần thứ hai là cuộc phản công tiêu diệt quân xâm lược Mãn Thanh, ra đi từ Phú Xuân vào ngày 22 tháng 12 năm 1788 đến 30 tháng 1 năm 1789 đã vào Thăng Long, chỉ mất 40 ngày.
Bằng phương tiện vận chuyển thơ sơ, điều kiện đi lại hiểm trở khó khăn của nước ta vào thế kỷ
XVIII, trên đường hành quân lại vừa tuyển quân, bồi dưỡng sức chiến đấu, vừa đánh địch trên hệ thống phòng thủ Thăng Long ở tuyến phía Nam, dày đặc gần 100 km, đó là các cứ điểm quan trọng của quân địch, là nơi xảy ra những trận đánh quyết định của cuộc kháng chiến.
Riêng đoạn đường từ Phú Xuân đến Nghệ An dài hơn 300 km mà nghĩa quân di chuyển chỉ mất 4
ngày. Các đội quân bộ, quân thuỷ và tượng binh đều ra quân cùng một lúc ở Phú Xuân và hẹn tập kết ở Tam Điệp trước Tết để sẵn sàng triển khai lực lượng ở vị trí chiến đấu. Có người cho rằng, quân bộ di chuyển cứ 3 người một chiếc cáng, thay phiên nhau để di chuyển (hai người gánh một người nằm). Nhưng trong thực tế, việc di chuyển như vậy không nhanh, không an toàn, cơ động và thoải mái được, có chăng là dùng để vận chuyển lương thực, vũ khí, quân nhu hoặc lúc rút quân, nghĩa quân đã mang theo những thương binh trên những chiếc cáng?
Những giả thiết để cắt nghĩa về tốc độ “hành quân như bay” “xuất quỷ nhập thần” của nghĩa quân
Tây Sơn vẫn chưa đủ sức thuyết phục như một thực tế mà Trần Công Xán đã từng chứng kiến, Xán đã nói với Ngô Nho: “Người Tây Sơn hành binh như bay, tiến quân rất gấp, xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần, chống không thể được đuổi không thể kịp, xưa nay chưa từng nghe nói có giặc nào như thế”.
Không phải chỉ người Việt mà cả người Pháp cũng phải ngạc nhiên và lo sợ lối hành binh của quân
Tây Sơn. Ngày 11 tháng 6 năm 1788, trong một lá thư gửi cho ông Letondal, giáo sĩ La Bartette có viết: “tôi không rõ cuộc viễn chinh của người Pháp khi nào sẽ xảy ra, nhưng tôi sợ rằng quân Pháp của chúng ta vì khinh thường bọn này (Tây Sơn) và không am hiểu tường tận về cách hành binh của họ, sẽ không đủ sức mạnh thì có thể trở thành nạn nhân bi thảm”.
Trên tuyến hành quân từ Phú Xuân ra Thăng Long, đường bộ bị cắt ngang bởi những sông lớn (lúc
đó chưa có cầu) làm chậm trễ cho việc di chuyển của quân bộ, còn đối với đoàn voi chiến và ngựa
chiến muốn qua sông quả là khó khăn hơn.
Có người cho rằng, ngoài con đường thượng đạo ở miền núi dành cho voi đi (thực tế khó và chậm
hơn), nhân dân ở các vùng hai bên bờ sông đã ghép thuyền lót ván để binh sĩ, voi và ngựa di chuyển
qua sông như đi trên một chiếc cầu phao dã chiến, cơ động nên đội quân Tây Sơn dễ dàng vượt sông
một cách nhanh chóng mà đảm bảo tốc độ của cuộc hành quân.
Cuộc hành quân từ Phú Xuân ra Bắc chống giặc Thanh đúng vào lúc gió mùa đông bắc, dù ngược
gió nhưng đoàn thuyền chiến Tây Sơn vẫn tiến quân kịp thời. Có người cho rằng, đội thuyền Tây Sơn đi lệch gió theo hình Z nên thuyền có thể căng buồm và tiến quân được.
Có phải Quang Trung đã áp dụng các biện pháp vận chuyển nói trên không? Trong thực tế, Quang
Trung đã thực hiện kỹ thuật tiến quân của các loại binh chủng như thế nào nhằm đạt được tốc độ vận hành thần tốc, để khi tập kết dưới chân núi Tam Điệp, binh sĩ vẫn không mỏi mệt, còn đủ sức khoẻ, ý chí và tinh thần chiến đấu để đánh định tan tành trong những ngày đầu xuân Kỷ Dậu (1789).
Có phải Quang Trung đã áp dụng các biện pháp vận chuyển nói trên không? Trong thực tế, Quang Trung đã thực hiện kỹ thuật tiến quân của các loại binh chủng như thế nào nhằm đạt được tốc độ vận hành thần tốc, để khi tập kết dưới chân núi Tam Điệp, binh sĩ vẫn không mỏi mệt, còn đủ sức khoẻ, ý chí và tinh thần chiến đấu để đánh định tan tành trong những ngày đầu xuân Kỷ Dậu (1789).
3. Khoa học và kỹ thuật quân sự
Chỉ riêng về trang bị, nghĩa quân Tây Sơn đã đạt một trình độ kỹ thuật của tiêu chuẩn quốc tế mà
các nước phương Đông, phương Tây hồi bấy giờ không thể so sánh kịp. Chính sự cải tiến và phát triển võ trang dưới thời Quang Trung là một trong những nhân tố thắng lợi mang ý nghĩa thời đại của đội quân Tây Sơn.
Thuyền chiến: Nhiều tài liệu cho biết, một thuyền chiến Tây Sơn có thể chở được từ 700 đến 800
thuỷ thủ và mang được 60 - 70 đại bác. Trong khi đó thuyền chiến phương Tây trang bị cho Nguyễn
Ánh chỉ chở được chừng 30 đại bác và số thuỷ thủ chỉ bằng một nửa mà thôt.
Barizy, một sĩ quan người Pháp từng “giúp” cho Nguyễn Ánh kể lại rằng, trong trận Thị Nại năm
1801, quân Nguyễn đã gặp đội thuỷ quân Tây Sơn phòng thủ ở cửa cảng, có 9 thuyền chiến loại lớn,
mỗi thuyền trang bị 60 đại bác và có 500 lính, 40 thuyền loài nhỏ mỗi thuyền mang 16 đại bác và có
200 lính. Vẫn theo Barizy thì trong trận thuỷ chiến này, quân Nguyễn ánh có 26 thuyền chiến,
mỗi chiếc chở 1 đại bác và 200 lính.
Chaigneau, một sĩ quan Hải quân Pháp theo Nguyễn Ánh đã từng va chạm với quân Tây Sơn, mới
thấy thực tế là ông đã nhầm lẫn. Chaigneau viết: “Trước khi nhìn thấy thuỷ quân của địch, tôi rất khinh thường, nhưng tôi bảo đảm với các ông rằng đó là sai lầm. Họ có những thuyền chiến mang từ 50 đến 60 đại bác cỡ lớn”.
Vậy ở bên bờ đầm Thị Nại, dọc theo sông Hương, sông Gianh. . . là nơi Tây Sơn cho lập các công
xưởng đóng thuyền chiến. Địa điểm cụ thể ở đâu? Hiện còn vết tích gì? Một mẫu thuyền đích thực với các cấu kiện cùng quá trình hoàn chỉnh ra làm sao? Các công trình sư và kỹ thuật gia đóng thuyền thời Tây Sơn là những ai, họ đã áp dụng phương pháp chế tác như thế nào để đạt được trọng tải kỷ lục đó?
Chúng ta có thể biết được một vài chi tiết do giáo sĩ Sérard tiết lộ trong một bức thư viết tại làng
Lữ Đăng châu Bố Chánh (Quảng Bình) ngày 17 tháng 7 năm 1791, với sự huy động sức dân trong việc cung cấp gỗ đóng thuyền chuẩn bị đánh Nguyễn ánh như sau: “Bởi vậy, ông (Quang Trung) ra lệnh đóng biết mấy trăm “ghe sai” hay nhiều chiến thuyền. Riêng ở Bố Chánh, nơi tôi cư ngụ từ 15 ngày nay đã đóng hơn 100 ghe . . . số ván gỗ cung cấp cho việc này là 2.500 tấm, mỗi tấm phải dài từ 30 đến 35 thước và rộng vài phân, nếu mua thì mỗi tấm giá 15 quan”. Tất cả phải hoàn tất trong 3 tháng”.
Voi chiến: Từ thuở đầu công nguyên, Hai Bà Trưng đã huy động voi vào sự nghiệp cứu nước của
dân tộc. Bà Triệu cưỡi voi đi đánh giặc Ngô. Nhưng phát huy hết khả năng vốn có của nó là vào thời
Tây Sơn, Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân. . . là những tướng lính chỉ huy tượng binh xuất sắc.
Voi Tây Sơn có thể chở 13 người mang theo cả đại bác trên mình hoặc kéo theo sau. Do đó, voi
Tây Sơn vừa là phương tiện của hoả lực, xung trận theo nhịp trống trận và tiếng tù và của người chỉ
huy. Vòi voi và thân voi có khả năng quật đổ và chà nát đối phương và các chướng ngại vật khi chúng mở đường, phá huỷ cho bộ binh tiến lên.
Đội tượng binh Tây Sơn dũng mãnh trong cuộc kháng chiến chống Thanh làm đối phương vô cùng
khiếp sợ. Bởi thế, trước khi đưa quân sang xâm lược nước ta, quân Thanh đã bày trận voi giả để cho
người và ngựa của chúng tập làm quen. Trong 8 điều quân luật mà Tôn S Nghị ban bố, đã dành một
điều (điều thứ 4), hướng về việc chống voi chiến Tây Sơn.
Nhưng thực tế, khi nghe đồn Ngọc Hồi bị đánh, đoàn ngựa chiến của quân Thanh vừa mới ra trận,
thấy mặt voi Tây Sơn đã hí chạy, giẫm đạp lên nhau và đạp luôn cả danh giá của Thiên triều làm Tôn Sĩ Nghị hốt hoảng, liền bỏ chạy qua bên kia sông Nhị, vội vàng cho cắt luôn cầu phao tạo chướng ngại vật cho cuộc truy bức của đội tượng binh Tây Sơn.
Vậy việc huấn luyện voi và đội tượng binh như thế nào để voi chiến Tây Sơn trở thành loại “vua chiến trường” trong cuộc kháng chiến chống Thanh?
Vũ khí: Một quả đạn đại bác của pháo binh Tây Sơn nổ có thể làm sập một cây cổ thụ, phá vỡ một
mảng thành bằng gạch một cách dễ dàng, hơn hắn loại đại bác của triều Nguyễn chế tạo vào thế kỷ
XIX. Năm 1786, khi quân Tây Sơn ra Thăng Long chặn đuổi bọn quan lại nhà Lê, lính Bắc Hà tận mắt chứng kiến tác năng của đại bác Tây Sơn: “Bỗng nhiên nghe tiếng súng ầm ầm như sấm, khói lửa ngút trời, quân lính hoảng sợ, đều nói nhao lên rằng “giặc đã chặn mất đường về rồi”. Nhưng đáng chú ý hơn là hoả hổ, một thứ vũ khí chế bằng thuốc cháy, đó là một loại súng tung lửa, có thể xem là một thứ tên lửa thủ công bắn vào kẻ địch, biến tên địch thành cây đuốc sống, làm mồi lửa để bắn phá thành luỹ, đốt dinh trại của địch. Loại vũ khí đặc biệt này được trang bị cho tất cả binh chủng lục quân.
Hoả hổ đã mở màn cho thắng lợi trong trận đánh quân Trịnh ở Thăng Long vào năm 1786, tài liệu
có ghi lại trận ác chiến ở cung Tây Long như sau: “Các đội quân Trịnh thấy mũi giáo Tây Sơn quá sắc liệu không chống nổi, cố sức lấy súng lớn bắn ra, quân Tây Sơn đều cúi đầu tránh đạn mà nhảy vào. Chúa Trịnh mặc nhung phục, đứng trên voi phất cờ hồng thúc các quân. Quân Tây Sơn lấy ông Hỏa hổ tung ra, quân Trịnh đều tan vỡ, vứt gươm, bỏ giáo, xô nhau chạy trốn thể như núi đổ.
Quân Thanh nghe tiếng Hoả hổ của Tây Sơn cũng khiếp sợ, nên trong 8 điều quân luật, có điều thứ
5 để chống lại Hoả hổ như sau: “Quân Nam không có sở trường gì khác, toàn dùng ống phun lửa làm lợi khí, gọi là hoả hổ”. Khi hai quân giáp nhau, trước hết họ dùng thứ đó để đốt cháy quần áo người ta, buộc người ta phải rút lui. Nhưng tài nghệ của họ cũng chỉ có thế thôi, so với súng ống của ta thì họ kém rất ra.
Hiện nay, ta chế sẵn vài trăm lá chắn da trâu sống. Nếu gặp Hoả hổ của người Nam phun lửa, thì
quân tay cầm lá chắn ấy đỡ lửa một tay cầm dao chém bừa chắc rằng chúng bỏ chạy tan tác”.
Một dạng Hoả hổ là “rồng cỏ” trang bị cho thuỷ quân. Rồng cỏ thực chất là một loại bãi cháy dùng
đánh hoả công để vây đốt binh thuyền của địch mà trận đánh hoả công do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đốt cháy tàu chiến của Manuel ở chiến trường Gia Định vào năm 1782. Đây là một trong những trận hoả công bằng “rồng cỏ” ngoạn mục nhất.
Nghĩa quân Tây Sơn đã được trang bị súng cá nhân, đó là loại súng ngắn có miệng loe, bắn từng
phát một, tầm bắn chừng vài trăm mét, kết hợp giữa xung lực và hoả lực mỗi khi tấn công.
Cũng có tài liệu ghi rằng, nghĩa quân Tây Sơn đã sử dụng súng máy liên thanh với công sức phá có
thể bắn sập cả cột buồm của thuyền địch. Trận do Ngô Văn Sở chỉ huy đánh quân Nguyễn Việt Tuyển vào năm 1788 được mô tả như sau: Văn Sở giương cao cờ chiến, xung thẳng vào trận, súng bắn liên thanh phát nào trúng khói bay, nước sủi. Một cột buồm bỗng ngã xuống, quân Tây Sơn bỗng reo vang như sấm dậy. Chốc sau nhũng cột buồm khác cũng ngã xuống.
Các loại vũ khí trên, về hình dạng, kỹ thuật chế tác, xạ năng sử dụng như thế nào cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nói rõ.
4. Vấn đề tình báo.
Cũng như chiến thắng Phú Xuân năm 1786, một trong những nhân tố đưa đến thắng lợi oanh liệt
của chiến dịch xuân Kỷ Dậu (1789) là nhờ Quang Trung đã tổ chức được đội quân tình báo giỏi, nhanh nhẹn, chính xác, nhờ đó mà Quang Trung nắm chắc được tình hình địch, rõ được ý đồ của chúng để đưa ra phương án tốt nhất, giải quyết chiến tranh.
Quang Trung chủ trương “quân lính cốt hoà thuận chứ không cốt đông, cốt tinh nhuệ chứ không cốt
nhiều”. Khi ra hội binh ở Tam Điệp, Quang Trung tuyên bố. “Lần này ta ra trận, hành quân phương lược tiến đánh đã có sẵn, chẳng qua mươi ngày là đuổi được quân Thanh“. Một ngày cuối tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), Quang Trung cho binh sĩ ăn Tết trước rồi tuyên bố đợi sang xuân ngày mồng 7 vào Thăng Long sẽ mở tiệc lớn, các ngươi hãy nhớ lấy lời ta xem ta nói có sai không, không hề sai đấy!”.
Đêm 30 Tết, Quang Trung mở đầu chiến dịch đánh vào Gián Khẩu chủ yếu để diệt gọn đội thám
báo “Quân tình báo nhà Thanh bị đánh úp bất ngờ, bắt gọn cả và giết sạch để dứt tuyệt tin tức quân
báo”. Nếu không thấy được sự lợi hại của địch, cũng như không phát huy tài năng của đội quân tình
báo Tây Sơn, Quang Trung không thể dự đoán một cách chính xác và tin tưởng về ngày thắng lợi như thế được. Chắc chắn các mật tin từ trong nội bộ địch, đã cung cấp cho vua Quang Trung biết rằng: Ngày mồng 6 tháng Giêng, quân địch từ Thăng Long sẽ kéo vào đánh Phú Xuân. Biết tin, Quang Trung đã chủ động đưa chiến trường ra tận bắc Hà và hạ quyết tâm vào ăn Tết ở Thăng Long ngày mồng 7 và quả thật trưa mồng 5 Tết, Quang Trung và đội quân chủ lực đã có mặt giữa kinh thành, sớm hơn một ngày so với ngày chúng quy định kéo quân vào Phú Xuân.
Nhờ có tin tình báo cho biết, địch sẽ mở hai mũi tiến công, quân bộ từ Thăng Long, quân thuỷ từ
Trung Quốc kéo vào đánh Phú Xuân sau Tết nên Quang Trung vừa chuẩn bị chu đáo cho Phú Xuân để sẵn sàng chiến đấu tại chỗ, vừa bảo vệ Kinh đô và mảnh đất Thuận Hoá quê hương. Nhưng mặt khác, Quang Trung cử đại quân ra Bắc quyết đưa chiến trường chống Thanh ra Thăng Long, chủ động tấn công vào đầu não xâm lược của chúng. Nhờ có tình báo giỏi, Quang Trung biết được từng cứ điểm phòng vệ của địch, ông đã chuẩn bị tốt về lực lượng, vũ khí, chiến thuật phù hợp và phối hợp để tấn công.
Với đồn Hà Hồi (cách Thăng Long 30 km), nửa đếm ngày mồng 3 Tết (28 - 1 - 1789), Quang
Trung cho binh sĩ bí mật bất ngờ vây chặt đồn luỹ. Ở trong đồn quân giặc hốt hoảng, nửa hư nửa thực. Quang Trung bắc loa gọi hàng, nghe lời truyền gọi của Quang Trung, binh sĩ dạ vâng như sấm, “địch kinh hoàng” ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, liền xin ra hàng, đồn Hà Hồi bị hạ trong chốc lát, không tốn một viên đạn, không đổ một giọt máu.
Với đồn Ngọc Hồi (cách Thăng Long 14 km), quân địch phòng bị rất kiên cố. Quang Trung cho
thực hiện lối đánh công thành dữ dội, được vận động từ trước nên nhân dân Thăng Long mang ván,
rơm ra ủng hộ. Ván được bện thành từng chiếc một như những phiến ghép che tên đạn để đội tiền đạo tinh nhuệ mang đi đầu, những phiến mộc đỡ đạn đó sẽ biến thành những chiếc thang leo, tiếp theo là đội cảm tử và đội voi chiến có đại bác xạ kích phá thành.
Với lối đánh thần tốc, tài tình ấy, làm tên tướng Tôn Sĩ Nghị phải kinh hoàng, hắn thốt lên: “Sao
mà thần đến thế”.
Như vậy, trong cuộc kháng chiến chống Thanh có sự đóng góp to lớn của lực lượng tình báo của
Tây Sơn, nhưng đội quân “thầm lặng” đó có bao nhiêu người, được tổ chức huấn luyện như thế nào,
tướng lĩnh nào chỉ huy? Cho đến nay, chưa một ai biết đến.
5. Vấn đề hậu cần
Những lần viễn chinh trong các cuộc chiến tiền cơ giới thì vấn đề hậu cần rất phức tạp. Quân Trịnh
vào đánh quân Nguyễn ở vùng sông Gianh phải đưa theo cả gia đình, vợ con để tải lương thực cho
chồng. Quân Thanh xâm lược nước ta, cứ một tên lính đi kèm theo hai tên dân binh để làm hậu cần,
còn nghĩa quân Tây Sơn nhiều lần đánh ra Thăng Long, với tốc độ hành quân thần tốc như vậy thì việc tổ chức hậu cần sẽ như thế nào? Nhiều tài liệu cho biết, nghĩa quân Tây Sơn đã giải quyết hậu cần tại chỗ, đã chuẩn bị trước từ trong dân, dân giúp, dân nuôi?
Hiện nay dân nhiều làng ở Hà Nội có tục lệ sau khi nấu bánh chưng xong, vứt xuống ao đến ngày
mùng 5 Tết mới lấy nên ăn. Tục này bắt nguồn từ sự kiện đánh quân Thanh đầu năm 1789. Dân Thăng Long lúc đó nấu bánh chưng vứt xuống hồ là quân Thanh không cướp lương được. Đến ngày mồng 5 Tết, quân Tây Sơn ra đánh, nhân dân mang ra để khao quân.
Có người cho rằng, nhờ hành quân vào dịp Tết nên nghĩa quân Tây Sơn được dân chúng ở các nơi
trên đường hành quân mang bánh chưng ra để đón tiếp. Có tài liệu cho rằng, nghĩa quân Tây Sơn đã sử dụng bánh tráng nhẹ làm lương khô để tiện mang theo nên sau ngày thắng trận Đống Đa, loại bánh này được gọi là Bánh Đa- một món ăn truyền thống và thông dụng của nhân dân Bình Định, quê hương của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.
Cũng có tài liệu cho rằng, ở làng Dương Xuân nới có phường Đúc nổi tiếng của xứ Huế, dưới thời
Tây Sơn, các thợ đúc đã đúc được một thứ nồi có thể vừa nấu (thổi cơm) vừa di chuyển, mà truyền
thống hội xuân của dân làng Cảnh Dương vẫn còn lưu giữ.
Đây là một chứng cứ thực tế về lịch sử hay chỉ là những sản phẩm tưởng tượng do lòng cảm phục
của người đời sau nhằm góp phần giải mã những bí ẩn về cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Quang Trung.
Một hiện thực quá vĩ đại nên bản thân Quang Trung cùng nghệ thuật dụng binh của ông dễ bị thần
thánh hoá cũng là điều dễ hiểu. Người đương thời tôn ông là anh hùng, là Thần, là Trời vì một sự kì
diệu mà trước đó không thể tìm thấy ở một nhân vật nào khác.
[3] HOÀI BÃO CỦA VUA QUANG TRUNG
Trước tình hình chính trị khủng hoảng, xã hội phân hoá, lòng dân ly tán, kinh tế suy sụp nghiêm
trọng sau nhiều năm chiến tranh, tài chính khô kiệt, văn hoá, tư tưởng đã xuất hiện nhiều thiên
hướng cản trì và hủ lậu. Thù trong giặc ngoài vẫn còn đe doạ từ nhiều phía. Trên cơ sở đó,
Quang Trung đưa ra những chính sách cải cách, đổi mới, kiên quyết và mạnh mẽ hòng cứu vãn
tình thế, nhầm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, bế tắc đã dồn ứ cả trăm năm
về trước.
Trong bài Chiếu lên ngôi đọc tại Phú Xuân ngày 22 tháng 12 năm 1788, vua Quang Trung đã nhấn
mạnh “nhân nghĩa, trung chính là đạo lớn của con người. Trẫm nay cùng dân đổi mới”.
Xuất thân không là trí thức, nhưng vì yêu cầu dựng nước, nên Nguyễn Huệ không những không thành kiến với trí thức mà còn hết sức trân trọng và thuỷ chung nên ông đã tập hợp được nhiều trí thức tâm huyết, tận tuỵ với nước, với vua như Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Nguyễn Thiếp. Nguyễn Huệ đã phong tước hầu Trung thư lệnh cho Trần Văn Kỷ ngay từ buổi gặp đầu ở Phú Xuân, cũng như lần đầu gặp Ngô Thì Nhậm ở Thăng Long, Nguyễn Huệ cũng phong tước hầu với chức Tả thị lang Bộ Lại, là bộ quan trọng nhất dưới thời phong kiến, trực tiếp trông coi việc nội chính Bắc Hà. Trước Nguyễn Huệ và sau Nguyễn Huệ, hiếm có ai nhìn nhận đúng đắn về vai trò của trí thức và mạnh dạn sử dụng tài năng của trí thức vào việc dựng nước như ông.
Quan điểm sử dụng trí thức của Quang Trung được thể hiện rõ ràng trong bài Chiếu lập học.
“Dựng nước lấy việc học làm đầu, trị nước chọn nhân tài làm gốc. . . Trẫm buổi đầu dựng nghiệp, tôn trọng việc học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài ra giúp đất nước”. Và chúng ta thấy con người Quang Trung lồng lộng bao dung trong bài Chiếu cầu hiền, có đoạn cuối như sau: “Vậy ban chiều xuống, quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều được phép dâng thư tỏ bày công việc, lời có thể dùng được thì đặc cách bổ dụng, lời không dùng được thì để đấy, chớ không ai bắt tội vu khoát, những người có tài nghệ gì có thể dùng được cho đời, thì cho các quan văn võ tiến cử, lại cho dẫn đến yết hiên, tuỳ tài mà bổ dụng. Hoặc có người từ trước đền nay giấu tài ẩn tiếng, không ai biệt đều cũng cho phép dâng thư tự cử chớ ngại cho thế là “đem ngọc bán rao”. Ôi! Trời đất bế tắc thì hiền tài ẩn náu. Xưa thì đúng vậy, còn nay trời đất thanh bình, chính lúc người hiền gặp gỡ gió mây. Những ai tài đức, đều nên gắng lên được rạng rỡ chôn vương đình, một lòng cung kính đểcùng hưởng phúc tôn vinh. Bố cáo gần xa để cùng nghe biết” .
Chỉ có nhân tài kiệt xuất mới dám sử dụng những tài năng lớn trong thiên hạ và các tài năng trong
thiên hạ sẽ phát huy hết khả năng của mình khi đất nước xuất hiện minh chúa.
Nguyễn Huệ đã đưa tài năng của thế kỷ XVIII lên một tầm cao, làm đất nước ta nhanh chóng
chuyển biến và phát triển mạnh mẽ. Đất nước thịnh cường là nhờ có Nguyễn Huệ và những nhân tài
giúp rập bên ông.
Khác với đội quân thời Trung cổ chuyên đi cướp bóc của cải và nô lệ, năm 1786 Nguyễn Huệ ra
Thăng Long đã tìm ngay các tiến sĩ, quan lại của Lê - Trịnh, chọn trong họ những người có tài để đưa về Phú Xuân nhằm thực hiện một nền văn trị lâu dài.
Ông tìm các thợ rèn giỏi đưa về Phú Xuân để phát triển kỹ thuật của một kinh đô và một nền quân
chính cần được đẩy mạnh kiến thiết và được xây dựng ở một tầm mới của thời đạt. Việc cầu hôn với
công chúa Ngọc Hân của nhà Lê là một chiến lược thu dụng nhân tài Bắc Hà về với Phú Xuân.
Nhịp sống mới của thời đại Quang Trung xuất phát từ hai nguồn, đó là một nền thương võ dân giã
của Đàng Trong và một nền văn hiến uyên thâm của Đàng Ngoài, hội nhập và cuồn cuộn sinh lực tạo cho Phú Xuân một sức sống kỳ diệu mà lịch sử dân tộc lần đầu tiên bắt gặp, tạo nên một phong cách riêng của Tây Sơn.
Phong cách đó vốn được ẩn chứa từ lâu đời và bàng bạc khắp mọi nơi, để cuối cùng kết tụ thành
tinh hoa mà chúng ta có thể nhận ra từ con người Nguyễn Huệ chứ không nhầm lẫn được với một thời đại nào khác ngoài Nguyễn Huệ - Thế kỷ XVIII - Việt Nam. Chính đặc điểm này đã làm Nguyễn Huệ vượt hẳn lên Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Ánh, lên trên Lê Chiêu Thống và đám di thần Trịnh - Lê cùng thời với ông. Tính cách đó chúng ta có thể cảm khoái khi nghe Nguyễn Huệ nói với Ngô Thì Nhậm trong những ngày binh lửa ở chiến trường chống Thanh tại Thăng Long: “Phải phiền ông làm một bài thơ đế đuổi giặc. Nếu không được thì túi dao, bao kiếm là phận sự của kẻ võ thần”.
Thế mới thấy cái tinh anh của Nguyễn Huệ, khi chính ông, một danh tướng mà đã khám phá ra tính
diệu kỳ của cây bút, của thơ văn trong sự nghiệp đánh giặc cứu nước. Và Ngô Thì Nhậm đã thành công, những bản văn ngoại giao do ông soạn ra làm nhà Thanh phải kiêng nể và khiếp sợ, không dám động đến dân tộc ta mặc dù khí thế phục thù sau bại trận Đống Đa vẫn còn hừng hực trong lòng Càn Long và bọn quan tướng nhà Thanh tự cao, tự đắc.
Trong muôn vàn nho sĩ, quan lại được các chế độ Trịnh - Nguyễn đào tạo mà Nguyễn Huệ đã tiếp
xúc Nguyễn Huệ vẫn mến phục những người có tài năng thực sự, có tâm huyết thực sự với nước với
dân, những người có bản lĩnh, có tính khí khẳng khái cho dù trong quan điểm chính trị có khác ông.
Nhưng vì hiểu họ là sản phẩm của một xã hội khổ đau và đầy biến động nên Nguyễn Huệ kiên trì thuyết phục, chăm lo để có những thực tài ra cùng ông giúp nước. Như trường hợp Nguyễn Đăng Trường, Trần Công Xán, Nguyễn Thiếp. . .
Có những người Nguyễn Huệ tin ngay, giao giữ những trọng trách của đất nước như Ngô Thì
Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích. . . Có những người dùng mà không tin nhưng cần thiết phải sử dụng cho một giai đoạn trước mắt như Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm . . .
Cái ưu việt của Nguyễn Huệ là nhãn quan nhận biết bản chất và lòng trung thành của con người
ngay từ lúc sơ ngộ. Không một mưu đồ hắc ám, xấu xa nào có thể che mắt được Nguyễn Huệ. Đặc
điểm đó làm cho Nguyễn Huệ mạnh dạn tin và dùng các trí thức cũ ở ruột xã hội đầy rẫy những biến
động như thế kỷ XVIIT.
Năng lực dùng người của Nguyễn Huệ là một thành công lớn cho sự nghiệp Tây Sơn. Tính rộng
lượng, bao dung và thuỷ chung đối với trí thức là một đặc điểm để ông thu phục nhân tài trong thiên hạ, kể cả những người theo Tây Sơn ngay từ đầu dưới cờ của Nguyễn Nhạc như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Ngô Văn Sở, Nguyễn Văn Tuyết. . . Nhưng họ không theo Nguyễn Nhạc để về lại Quy Nhơn và là quê hương của họ ngay sau thời điểm đoạn giao giữa hai anh em Tây Sơn tại Phú Xuân vào năm 1786.
Trí thức đến vời Nguyễn Huệ vì họ thấy mục tiêu đấu tranh của Nguyễn Huệ phù hợp với nguyện
vọng chân chính của trí thức nên họ đã nhiệt thành phục vụ, muốn sự nghiệp của họ góp nên sự nghiệp của Nguyễn Huệ và đó chính là sự nghiệp của Tây Sơn, của dân tộc.
Nguyễn Huệ là một tài năng hiếm có của đất nước, nhưng quan trọng hơn, ông đã biết sử dụng trí tuệ của nhiều tài năng khác ở khả năng cao nhất trong nhiều hoàn cảnh khác nhau để phục vụ cho đất nước, cho sự nghiệp Tây Sơn.
Những nho sĩ thời Lê - Trịnh, sau khi xoá bỏ cái u tịch, trì trệ lâu đời ở Thăng Long, tự cải tạo
mình và vươn theo yêu cầu mới đến Phú Xuân. Nguyễn Huệ đã chắp cánh cho họ, đưa họ ra khỏi cảnh cá chậu chim lồng để tung bay trong bão táp của cuộc đấu tranh xã hội, để cùng ông gánh vác những trách nhiệm lớn lao của đất nước, của dân tộc.
Buổi đầu, các chức vụ quan trọng ở trong triều và trấn nhậm các địa phương, Nguyễn Huệ thường
giao cho các võ tướng cao cấp đã từng theo ông chiến đấu bấy lâu. Nhưng dần dần các văn thần thay
các chức vụ chủ chốt trong công cuộc trị nước, kể cả chức Thượng thư bộ Binh. Để bổ sung cho đội ngũ quan lại có đủ năng lực thực hiện chính sách “văn trị” là việc cấp thiết, nên sau khi đánh tan quân Thanh (1789), Quang Trung đã tổ chức kỳ thi Hương đầu tiên ở Nghệ An, để tuyển chọn nhân tài do Nguyễn Thiếp làm chánh chủ khảo. Quang Trung ước mong có một nhà nước vững mạnh và có hiệu lực nên rất chú trọng đến chất lượng của công việc đào tạo. Trong Chiếu lập học, Quang Trung đã chỉ rõ : “Nho sinh và sinh đồ cử đợi đến kỳ thi vào thi hạng ưu thì được tuyển vào, hạng kém thì bãi học ở trường xã còn như sinh đồ ba quan nhất thiết bắt về làm dân, cùng dân chịu sưu dịch”.
Thế mới biết tính kiên quyết của Quang Trung, muốn cải tổ hệ thống quan lại các cấp cho phù hợp
với yêu cầu mới của đất nước, Quang Trung cũng là vị nguyên thủ đất nước đầu tiên thông cảm với sự lạc hậu, mù chữ của quần chúng lao động nên đã tổ chức cho các địa phương “chọn nho sĩ trong xã có học thức, hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò của mình”. Như vậy ngay cả giáo viên trường làng, Quang Trung cũng không coi nhẹ hai tiêu chuẩn vừa tài, vừa đức và được dân làng tín nhiệm.
Bản thân Quang Trung cũng phải học văn hoá và lịch sử Việt Nam do một quan bí thư riêng “mỗi
tháng 6 lần chầu để giảng giải kinh sách” nên ông khá am tường về lịch sử và văn hóa dân tộc.
Trống đồng được phát hiện với ý nghĩa giá trị đích thực của nó là thời Tây Sơn. Lần đầu tiên trống
đồng thời Hùng Vương được phát hiện ở Thanh Hoá và đưa về Phú Xuân trưng bày như một di sản của văn hoá dân tộc.
Về luật pháp, buổi đầu Quang Trung cho áp dụng chế độ quân chính, sự “nghiêm khắc” đó, tất
nhiên sẽ đưa lại hiệu quả nhất định trong xã hội biến động, phức tạp, tình hình an ninh chính trị bất ổn liên tục xảy ra. Ngay cả những người thiếu thiện cảm với Tây Sơn cũng thừa nhận sự hiệu lực nhất định của biện pháp cai trị đó. Sách Tây Sơn thuật Được có nhận xét, vua Quang Trung không lập pháp lệnh, điều ước việc thưa kiện đều do miệng ngài phân xử, có tội thì phần nhiều dùng đòn mà đánh để trừng trị. Bầy tôi ở trong hay ngoài đều sợ oai của ngài, không dám can tội hối lộ”.
Dù thế, Quang Trung rất công bằng với mọi người kể cả bà Ngọc Hân, Bắc cung Hoàng hậu cưng
chiều của quốc vương, có lần cũng bị Quang Trung ra lệnh đánh 20 dùi về tội bao che cho việc bà mẹ (thân mẫu - vợ vua Hiển Tông), vì thân mẫu của Ngọc Hân đã xin tha cho các quan lại nhà Lê bất phục Tây Sơn, trong đó có viên quan Đốc Chiên đã dùng 100 thoi vàng mua chuộc, hối lộ cho quan Tây Sơn vào năm 1788”.
Chứng kiến trong những ngày đầu Nguyễn Huệ đưa quân Tây Sơn ra Đàng Ngoài, giáo sĩ Le Roy ở
Nam Định có viết như sau: “Những người Nam Hà ấy (quân Tây Sơn) đã áp dụng sự xử án khắc
nghiệt. Mới thấy tố cáo, chẳng cần đợi xét xử lôi thôi họ đã chém đầu bọn trộm cướp, dân chúng thích sự xử phạt vậy và sự liêm khiết của quân Tây Sơn. Vì họ không cướp bóc ai, họ chỉ biết chặt đầu mà thôt. Điều đó đã khiến cho yên bình một vài nơi trong một thời gian”.
Năm 1787, giáo sĩ Thiebaud cũng xác nhận điều đó “quân trộm cướp không dám hành nghề”. Năm 1790, giáo sĩ La Mo the cũng viết: “Phải nói trắng ra rằng, tình cảnh không đến nỗi tệ. Dưới triều đại này chúng tôi được che chở khỏi bị lũ cướp phá phách, và về phần đạo giáo thì chúng tôi được hưởng tự do và an ninh hơn các triều đại trước”.
Nhưng luật pháp nhà nước không thể kéo dài sự tuỳ tiện và khắc nghiệt như thế được. Nguyễn
Thiếp đã có lần thấy sự sai trái đó và đề nghị với vua Quang Trung “Nhà nước thì uy võ có thừa mà ân trạch chưa ban (1791). Thật ra, vào cuối năm 1788, vua Quang Trung đã thấy sự phi lý đó và đã tìm cách sửa sai, trong Nhật ký của Giáo hội Bắc kỳ năm 1788 có ghi lại nội dung một sắc lệnh của Quang Trung... “từ trước đến nay, các vua chúa đều lấy luật pháp để cai trị thần dân và duy trì hoà bình nên ta cũng noi gương các vị tiền bối mà đánh dấu ngày khởi đầu triều đại ta bằng cách soạn ra bộ Luật để dân chúng sống trên đất ta nghiêm ngặt tuân theo”.
Lệnh của vua Quang Trung là trong thời gian từ một đến hai tháng phải soạn xong bộ luật nói trên,
nhằm tạo dựng một thể chế nhà nước - pháp quyền hoàn chỉnh sau ngày mới lên ngôi ở Phú Xuân
(1788) nên có lẽ tác dụng của bộ luật đó còn nhiều hạn chế, nhưng chắc chắn đã được bổ sung và hoàn chỉnh dần trong những năm sau.
Có một bộ luật được soạn thảo một cách hoàn chỉnh dưới thời vua Quang Trung đã được dịch ra
tiếng Pháp, do một linh mục người Việt thực hiện vào năm 1793. Trong một bức thơ của giáo sĩ Sérard ở Bố Chánh, Quảng Bình viết ngày 5 tháng 6 năm 1793 đã tiết lộ điều đó, bức thư có đoạn viết: “Về việc dịch luật Bắc Hà, thì linh mục Văn đã dịch cả tập hay một phần, tôi đã có đọc được qua quyển sách đó”. Năm 1822, một người Anh là Crawfurd đến Việt Nam, có thuật lại rằng. “Tôi đã gặp những thương nhân Hoa kiều ở Huế, đã nói chuyện với họ. Họ đã sống dưới chế độ Tây Sơn và chế độ nhà Nguyễn, họ nói chắc chắn rằng, triều đại Tây Sơn cai trị công bằng và ôn hoà hơn nhà nước hiện tại (tức Minh Mạng) hay cha nhà vua ấy (Gia Long).
Muốn nước giàu dân mạnh phải lo phục hồi và phát triển kinh tế, vua Quang Trung đã có chủ trương đúng đắn đối với ngành sản xuất nông nghiệp, cho đó là nghề gốc của dân, là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước phong kiến tiến bộ. Có phục hồi nông nghiệp mới ổn định được trật tự xã hội, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác, nhất là kinh tế hàng hoá đã tiêu điều sau chặng đường dài bị tàn phá bởi chiến tranh và những biến động của đất nước.
Ước mong của vua Quang Trung có một nền nông nghiệp thịnh vượng được chứa đựng trong bài
Chiếu khuyên nông, bài chiếu có đoạn viết: “Chính sự đạo vương cốt để vun gốc vén ngọn, làm cho
dân yên ổn cấy cày, nhờ đó trong nước không có người lười biếng, ngoài đồng không có đất bỏ hoang. Trải qua buổi loạn ly binh lửa liên miên, lại thêm nạn đói kém, nhân dân lưu tán, ruộng còn được bốn, năm phần mười so với trước. Trẫm chịu mệnh trời, giữ nghiệp lớn, bôn bề trong lặng. Nay buổi đầu đại định, chính sách khuyên khích sản xuất làm cho dân giàu phải được tiến hành lần lượt. Xét ra trốn tránh công việc, giấu giếm của cải là thói thường ở đời, cho nên phương pháp đề phòng không gì tốt hơn là phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn đất hoang, phàm dân du thủ du thực về làng chăm lo đồng áng . . .”
Vua Quang Trung cũng có một hoài bão xây dựng nền kinh tế công thương nghiệp phát triển trên tinh thần tự cường mạnh mẽ, sản xuất ra nhiều hàng hoá nhằm không ngừng thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Một cuộc đối thoai giữa vua Quang Trung và Nguyễn Thiếp tại Nghệ An trên đường ra Bắc đánh giặc Thanh đã cho chúng ta biết quan điểm của Quang Trung. Quang Trung hỏi:
- Nghe thầy học tinh lý số, lại có tài mưu lược, nay Tôn Sĩ Nghị sang, thầy đã có cách nào chưa?
Nguyễn Thiếp thưa rằng:
- Thần tốc?
Quang Trung nói:
- Phải, phải. Tôi nay ra đánh cho nó chết. Tôi mà dẹp yên được giặc Tàu, xin rước thầy về dạy
học. Tôi muốn khí dụng gì cũng chẳng phải mua của nước Tàu.
Nguyễn Thiếp thưa lại rằng: Chỉ có thuốc bắc là phải dùng của Tàu mà thôi.
Câu nói đó của Quang Trung, bao hàm một tinh thần độc lập cao, không để cho nền kinh tế bị lệ
thuộc nước ngoài và ngoại bang chi phối, chứ không có nghĩa là cắt đứt quan hệ ngoại thương với
Trung Quốc và các nước khác.
Sau chiến thắng giặc Thanh (l789), vua Quang Trung đã chủ động viết thư cho Tổng đốc Lưỡng
Quảng là Phúc Khang An, đề nghị “mở cửa ải thông chợ búa, khiến cho hàng hoá không ngơng đọng để làm lợi cho dân”. Chấp nhận yêu cầu đó, nhà Thanh mở cửa ải Bình Nhi, Thuỷ Khẩu, Du Thôn cho thương nhân người Hoa sang buôn bán, họ lập các phố Kỳ Lừa, Mục Mã, Hoa Sơn. Các phố này nằm trên lãnh thổ của ta, gần biên giới Trung Quốc. Thương nhân người Hoa đã lập hai cửa hiệu Thái Hoà và Phong Thịnh ở các phố trên để buôn bán. Thương nhân qua lại buôn bán đều miễn thuế.
Năm 1790, vua Quang Trung lại đề nghị lập nhà hàng ở phủ Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây để
thương nhân người Việt sang buôn bán”. Chính sách ngoại thương rộng rãi đó làm nhiều thuyền buôn Trung Quốc đến buôn bán trực tiếp với Phú Xuân, Quang Trung đã mời gọi các thuyền buôn Tây đến đầu tơ buôn bán.
Trong thơ gửi cho viên Quản đạo Tả Giang kiêm Tổng lý binh vụ đạo Quảng Tây là Thang Hùng Nghiệp, Quang Trung đã phân tích sâu sắc những điểm yếu cơ bản của địch và thế mạnh của ta: “Việc quân cốt hoà chứ không cột đông, cột tinh nhuệ chứ không cốt nhiều. Người khéo thắng là thắng ở chỗ mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu lấy nhiều hiếp ít mà được”. Sau ngày đại thắng quân Thanh, Quang Trung làm tờ biểu gửi cho Càn Long để kể tội Tôn Sĩ Nghị, nhưng mục đích để mỉa mai hóm hỉnh vua nhà Thanh “không biết việc đó quả do đại Hoàng đế sai khiến hay do Tôn Sĩ Nghị vì một người đàn bà sai khiến mong lập công ở biên cương để cầu lợi lớn”.
Với tư thế vững vàng của người chiến thắng, vua Quang Trung đã vạch trần bản chất tham lam, độc
ác của nhà Thanh và kiên quyết dùng mọi biện pháp để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trong tờ biểu gửi cho Càn Long, Quang Trung đã chỉ rõ: “Nay lấy thiên triều to lớn để đi tranh giành với một nước nhỏ để thoả lòng tham lam, tàn bạo, lại muôn đeo đuổi vũ lực đến cùng, xua quần chúng ra nghi trận địa để chịu thảm độc, thì lòng Thánh thượng cũng không nỡ làm thế, nếu vạn nhất đánh nhau liên miên không dứt thì lúc đó thần không còn lấy nước nhỏ để trọng nước lớn nữa, buộc phải nghe theo mạng trời. Việc xảy ra không thể lường trước được, để rồi ra sao thì ra”. Tiếp được thư của vua Quang Trung, Thang Hùng Nghiệp kinh sợ nói với sứ giả Hô Hổ hầu rằng: “Nay không phải là lúc hai nước đánh nhau, sao lại nói toàn giọng tức giận”. Còn càn Long sau ngày bại trận đã xuống chỉ cho viên Tổng đốc Lưỡng Quảng mới nhậm chức là Phúc Khang An và triều thần, sau khi phân tích tình hình nước ta, nào là “lam chướng, dịch lệ, nước độc” nào là “dân tình hay phản trắc, hay sinh sự” rồi “Trẫm đã nghĩ kỹ, thực không nên làm” và kết luận “Tóm lại, bấy giờ không nên đánh”. Sau đó, trong một lần dụ ban hành ngày 19 tháng 4 năm 1789, Càn Long đã nhấn mạnh: “Ý Trẫm nhất định không cho tiến binh nữa “.
Do nắm chắc được ý đồ của đối phương nên vua Quang Trung đã tài tình và đúng đắn khi xác định
mối quan hệ với Trung Quốc ngay từ lúc mới tiến quân trên đường ra Bắc đánh giặc Thanh. Quang Trung đã nói với Ngô Thì Nhậm dưới chân núi Tam Điệp: “Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có sẵn, chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh, nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo báo thù, như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao. Không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ dân giàu nước mạnh, thì ta có sợ gì chúng”.
Do trước đó nhà Mạc hèn nhát nộp đất cho nhà Minh, có lần quan sở tại đòi xin trả lại cho chủ cũ,
nhưng nhà Thanh không chịu, chúng cho lập bia cắm làm địa giới trên đất trấn “’Tuyên Quang và Hưng Hoá”, lấy sông Đỗ Chúc làm giới hạn của hai nước. Cũng có lần thủ lĩnh nông dân Hoàng Công Chất đã chiếm lại đất của 7 châu đó, nhưng sau cuộc khởi nghĩa thất bại, nhà Lê cũng bỏ mất luôn. Sau ngày đánh bại giặc Thanh, vua Quang Trung làm tờ biểu xin đòi lại đất 7 châu ở Hưng Hoá.
Đoạn cuối bài biểu, Quang Trung tỏ ra rất cương quyết:
- Thần không dám bỏ rơi phần đất ấy, coi là đất hoang giấu giếm tình hình không đưa ra ánh sáng.
Vì vậy đánh liều làm tờ biểu nhờ công tước Phúc Khang An, Tổng đốc Lưỡng Quảng chuyển tâu.
Thần sẽ phái quan viên đền đầu địa giới Hưng Hoá tra xét cẩn thận về đia giới 7 châu để được
Người cho đem lại đất bản quốc.
Mặc dù Quang Trung đã nêu lên những bằng chứng xác đáng về chủ quyền và sự hợp lý khi đòi trả
lại đất, nhưng bọn quan lại Trung Quốc bác bỏ, lấy cớ là cương giới xác định từ lâu rồi. Biết việc đòi lại đất không thể có lời nói khéo, không thể chỉ có nói suông mà được, Quang Trung đã quyết định dùng vũ lực để đòi lại đất đã mất.
Đại Nam chính biên liệt truyện ghi lại rằng:
Vào năm 1790, vua Quang Trung gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng xin phân rõ biên giới cũ.
Tổng đốc Lưỡng Quảng cho rằng biên giới đã đinh rồi, trả lại thư. Vua Quang Trung bất bình, khuyên khích quân sĩ làm tàu thuyền âm thầm có chí dòm ngó đất Quảng Đông - Quảng Tây. Ngài thường nói với các tướng lĩnh rằng: Rộng cho ta vài năm bồi dưỡng uy lực, nhuệ khí, ta nào sợ chúng”.
Một hôm, vua Quang Trung hỏi viên quan bí thư rằng:
- Sử sách sao chép quá nhiều việc thế?
Quan bí thư trả lời:
- Sử sách chép sự tích thiện ác của đế vương và lý do Hưng phế để đời sau ghi chép mà răn đe.
Quang Trung hỏi:
- Như thế xưa nay có ai đánh Tàu không?
Thưa :
- Nước ta có Trần Hưng Đạo, đánh quân Tàu ở sông Bạch Đằng, Lê Thái Tổ đánh quân Tàu ở
Đông Quan, nhưng đều đánh khi chúng tiến sang, chứ chưa có tiến sang đất Tàu mà đánh chúng.
Quang Trung nói:
- Nay ta sẽ đánh Tàu cho ngươi xem. Vua Quang Trung ra lệnh cho công viện may vá lại chiến y
rồi giao cho gia thiếp các đại thần cất giữ, hẹn đủ 20 vạn chiếc áo mới ban cấp cho quân sĩ để đánh
Quảng Tây”.
Quang Trung đã liên kết với Thiên địa hội, một tổ chức bí mật của nhân dân Trung Quốc để chống
lại nhà Thanh. Thu nạp bọn cướp biển gọi là giặc Tàu ô, các thủ lĩnh Tàu ô quy thuận được, Quang
Trung cho tập kết ở Biện Sơn, phong chức tước, cấp ấn tín, bằng sắc, cấp lương thực trở về đánh phá miền ven biển các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang. . .
Năm 1792, để thăm dò thái độ nhà Thanh, vua Quang Trung cử một phái đoàn do tướng Vũ Văn
Dũng làm Chánh sứ với hai yêu cầu: xin cầu hôn với công chúa nhà Thanh và xin đòi đất Lưỡng Quảng để đóng đô. Lúc này, vua Thanh lại lo đối phó với các cuộc khởi nghĩa của nông dân Thiên địa hội và những cuộc đánh phá ven biển của các hải tặc Trung Quốc mà Quang Trung đã liên kết làm nhà Thanh lo âu, không còn nghĩ đến phục thù bằng võ lực.
Với thái độ kiên quyết, Quang Trung đã chuẩn bị công phu về vũ lực và áp lực ngoại giao để lấy lại cho được 7 châu đã mất. Trước uy thế lớn mạnh của ta dưới thời Quang Trung, vua Thanh đã nhượng bộ hai yêu sách trên, nhưng rất tiếc ở thời điểm huy hoàng của “ước mơ vượt biên giới” đó thì vua Quang Trung từ trần, việc đòi đất vì thế đành dở dang.
o o o
Theo sử sách nước ta, của Trung Quốc và các giáo sĩ đương thời ghi lại cho biết, vua Quang Trung
đã có kế hoạch đánh Gia Định với một lực lượng quân chủ lực huy động đến 30 vạn dự án của chiến
dịch như sau:
1 - Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tích cực chuẩn bị lực lượng, đóng thêm thuyền chiến phối hợp với
quân “Tàu ô” đánh thẳng vào Biên Hoà, Gia Định.
2 - Bộ binh từ Phú Xuân theo đường thượng đạo qua Lào, xuống Chân Lạp, phối hợp với quân Chân Lạp, từ phía Tây đánh thẳng vào Sài Gòn và chặn đường biên giới Chân Lạp không cho địch tháo lui.
3 - Thuỷ quân từ Phú Xuân thẳng vào Côn Lôn, Hà Tiên, đánh ngược lên Sài Gòn, chặn mọi ngả đường không cho quân Nguyễn Ánh trốn thoát ra các hải đảo hoặc trốn chạy sang Xiêm.
Để chu đáo trong việc chuẩn bị hành quân và cũng để yên lòng dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy
Nhơn, ngày 28 tháng 8 năm 1792 (tức ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5), vua Quang Trung có lệnh truyền cho quan lại và quân dân hai phủ có đoạn như sau:
“Bây giờ theo lệnh của Hoàng đại huynh, Trẫm sẽ thân chinh cầm quân theo hai đường thuỷ bộ vào
dẹp giặc, Trẫm sẽ đập tan bọn cựu Nguyễn dễ dàng như đập tan một cành củi khô, một thanh gỗ mục. Còn nhân dân hai phủ, các ngươi đừng lo âu đừng sợ giặc, các ngươi hãy để mắt nhìn, để tai nghe xem Trẫm làm gì. Các ngươi sẽ thấy rằng, Trẫm chỉ đánh một trận là Bình Khang, Nha Trang, như mảnh xương tàn của các thây vua Gia Định. Cũng như Phú Yên đã từng là trung tâm chiên trường và suốt từ dải Bình Thuận vào tới Chân Lạp sẽ túc khắc được thu phục. Như thế để ai nấy đều hiểu rằng Trẫm và Hoàng đại huynh là hai anh em ruột, là cùng chung một dòng máu, Trẫm không bao giờ quên điều đó”.
Tháng 9 năm 1792, thời điểm thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao do phái đoàn Vũ Văn Dũng
đang có mặt tại cung điện nhà Thanh ở Bắc Kinh và cũng vào lúc Quang Trung ở Phú Xuân, Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn đang ráo riết chuẩn bị triển khai kế hoạch đánh tập đoàn Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp ở Gia Định.
Bài hịch của Quang Trung truyền đi, được binh sĩ và nhân dân nô nức chờ đợi.
Nhưng chưa đầy 20 ngày sau, ngày 16 tháng 9 năm 1792, vua Quang Trung mất.
Đây là một tổn thất lớn cho sự nghiệp Tây Sơn và cả dân tộc, không gì bù đắp nổi.
Nếu việc đánh Gia Định được triển khai đúng như kế hoạch của vua Quang Trung đã đề ra, chắc
tình thế đất nước từ đó và cả sau này có thể lạc quan hơn.
Như một ngôi sao sáng, vụt tắt.
Một hoài bão đấu tranh thống nhất và xây dựng đất nước giàu mạnh phải chịu dở dang.
Nhưng hoài bão về diệt giặc, dựng nước của vua Quang Trung còn nóng hổi sinh khí cũng như
thực tiễn và kinh nghiệm của nó đối với thời đại chúng ta.
***
Trích từ: Những khám phá về hoàng đế Quang Trung - Đỗ Bang
Đọc thêm: Lịch Sử Nội Chiến Ở Việt Nam Từ 1771 Đến 1802 - Tạ Chí Đại Trường
Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
No comments:
Post a Comment