Văn Quang - Tên thật là Nguyễn Quang Tuyến, sinh năm 1933 tại Thái Bình.
Từ năm 1957, là Trưởng Phòng Báo Chí Quân Đội thuộc Cục Tâm Lý Chiến, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH và là Trưởng Ban Biên Tập của các tờ báo Quân Đội VNCH thời đó. Từ năm 1969 cho đến tháng 4, 1975, là Quản Đốc đài Phát Thanh Quân Đội, cấp bậc Trung Tá.
Tác phẩm đầu tay của Văn Quang là Tiếng Tơ Lòng được đăng trên nhật báo Than Dân, Hà Nội cuối năm 1953 và tác phẩm thứ nhì là tập truyện ngắn Thùy Dương Trang do Lạc Việt xuất bản tại Sài Gòn năm 1957. Văn Quang cộng tác thường xuyên với nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí tại Sài Gòn như Ngôn Luận, Chính Luận, Tiếng Chuông, Tin Sớm, Tiếng Vang, Kịch Ảnh, Truyện Phim, Điện Ảnh, Văn Nghệ, Tiền Phong, Bách Khoa, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Tuần San...
Trong khoảng thời gian này, Văn Quang hoàn thành hơn 50 tác phẩm in trên các báo và đã có 28 tác phẩm được xuất bản. Các tác phẩm của ông hầu hết là truyện dài, trong số có những tác phẩm từng gây sôi nổi một thời trong giới độc giả trẻ như Nét Môi Cuồng Vọng, Nguyệt Áo Đỏ, Người yêu Của Lính... và đặc biệt đã có 4 tác phẩm được chuyển thành phim từ 1962 đến 1972 là Ngàn Năm Mây Bay, Chân Trời Tím, Đời Chưa Trang Điểm, Tiếng Hát Học Trò.
***
Sau đây là chương 1 và 6 trong truyện dài của ông "Một Người Đàn Bà Những Người Đàn Ông (1998)".
[1] Một Người Đàn Bà Những Người Đàn Ông - Chương 1
[2] Một Người Đàn Bà Những Người Đàn Ông - Chương 6
[3] Chú Tư Cầu (Lê Xuyên) và Những Ngày Cuối Đời
Chương 1
Lão lơ mơ tỉnh giấc, mắt nhắm mắt mở trong căn phòng tĩnh lặng. Theo thói quen thường lệ, lão nằm ườn thưởng thức cái thú sau một đêm ăn no ngũ kỹ. Nhưng chỉ một vài giây sau, lão bỗng thấy đầu óc choáng váng nặng nề. Nhìn thẳng lên trần nhà, lão nhận ra ngay không phải là cái trần nhà có cái đà ngang bằng gỗ vuông loại thượng hạng của nhà lão. Vậy lão đang ở đâu đây? Cái mái tranh thấp lè tè này là của nhà nào? Rồi tấm chăn bông đang phủ ngang người lão cũng lạ lẫm, nó mỏng và nhẹ hều, không phải là cái chăn bông dầy cộm lão vẫn thường đắp. Lão rờ tay và kéo lên coi kỹ, một mùi thơm thoang thoảng phảng phất tỏa ra. Nhất thời lão không thể phân biệt được đó là loại hương thơm của loài hoa nào. Hoa ngọc lan hay hoa hồng hay mẫu đơn hay hoa lài? Nhưng cái mùi thơm ấy khiến lão cảm thấy dễ chịu. Đầu óc như tỉnh hẳn, lão tung chăn, từ từ bước xuống đất, khoắng hai chân tìm đôi dép. Song dép không thấy, lại thấy ngay một đôi guốc. Đôi guốc chật cứng đối với bàn chân to như cái chổi của lão. Chẳng còn cách nào khác, lão đành cố nhét hai cái chổi ấy vào đôi quai guốc hẹp.
Trời lạnh buốt, lão húng hắng ho. Dừng lại một chút trong bóng tối để định hướng, kiếm cánh cửa ra vào. Lão đã nhìn ra một vệt sáng mờ mờ kéo dài. Nhưng lão chưa kịp bước tới thì cánh cửa đã mở ra. Ánh sáng dìu dịu của buổi sáng mùa đông tràn vào căn phòng nhỏ. Lão đứng khựng ra nhìn người đàn bà vừa bước vào. Có nằm mơ lão cũng không thể ngờ rằng người đàn bà đang đứng trước mặt lão lại là chị Tửng, vợ một anh thợ cắt tóc đã bỏ làng ra đi cách đây vài năm. Người thiếu phụ duyên dáng mặn mà, khả ái khiến nhiều anh trong làng thòm thèm, kể cả những vị chức sắc ngũ lục tuần cũng tơ tưởng ngấm ngầm nhưng không anh nào dám nói ra mà thôi.
- Ông dậy rồi sao? Tối hôm qua ông say quá.
Giọng nói êm ái của chị Tửng khiến ông cả So biết chắc rằng không phải mình nằm mơ và ông cố trấn tĩnh hỏi lại:
- Tại sao tôi lại ở đây?
Chị Tửng mỉm cười hiền lành:
- Chính nhà cháu cũng không hiểu. Chỉ biết là đêm hôm qua ông té vào cánh cổng nhà cháu làm con vàng sủa om lên. Nhà cháu chạy ra thì thấy ông nằm sõng soài bên bụi găng. Ông cố đứng dậy nhưng không nổi, đường làng lại vắng tanh, mà ông thì nặng quá, nhà cháu cố dìu ông dậy, trời lại đang mưa nên nhà cháu chỉ còn cách dìu tạm ông vào trong nhà.
Ông cả So cố nhớ lại những gì xảy ra đêm hôm qua. Thì ra sau một bữa nhậu tân gia tại nhà lão Lý Hoạch, rượu vào lời ra, cả So và Lý Hoạch cãi nhau một trận đến nỗi lôi cả đời ông nội ông cố ra chửi xiên chửi xỏ nhau, không còn ai can được, suýt đâm ra ẩu đả. Cả So giận quá hầm hầm bỏ ra về giữa cơn say túy lúy. Lão vừa đi vừa chửi thề và càng nghĩ đến câu Lý Hoạch khinh cả dòng họ lão không ai có bằng cấp gì, chỉ là loại trọc phú, lão càng tức sôi lên. Cùng với cơn say quật ngã lão lúc nào lão cũng không hay. Cả So cười gượng:
- À tối hôm qua... tôi có hơi quá chén...
Chị Tửng mỉm cười:
- Vâng, các ông lúc nào cũng như vậy cả.
- Không phải lúc nào cũng vậy! Thỉnh thoảng gặp lúc... vui hay có chuyện gì đó mới vậy thôi. Làm phiền chị quá.
- Có gì đâu!
Cả So nhìn chị Tửng đăm đăm rồi làm ra vẻ bối rối:
- Dù sao thì nhà chị cũng là... nhà không có đàn ông mà tôi lại ngủ ở đây thì thật là điều bất tiện. Lỡ có ai thấy...
- Ông yên tâm, đêm qua nếu có ai ở đó thì nhà cháu đã nhờ người ta đưa ông về nhà rồi. Ông đừng sợ.
- Tôi ấy à? Tôi sợ cái gì? Chẳng qua là tôi nghĩ đến tai tiếng không hay cho chị thôi.
- Nhà cháu cũng chẳng sợ.
Cả So tròn mắt. Chị Tửng điềm tĩnh lảng chuyện:
- Mời ông ngồi. Để nhà cháu đi pha ấm trà ông dùng cho ấm bụng. Trời mới tờ mờ sáng thôi mà.
Nói rồi chị bước nhanh ra khỏi phòng. Cả So quay trở lại giường, lão trở nên lơ mơ suy nghĩ vớ vẩn về người thiếu phụ này. Cô ả coi bộ cũng tình tứ ướt át lắm đấy chứ. Vậy mà thiên hạ cứ đồn là chị ta nghiêm trang khó tính. Thì ra mấy chị cỡ tuổi này mà xa chồng cả mấy năm trời, bề ngoài làm ra vẻ lạnh lùng thế thôi, chớ cái bề trong thì nóng hôi hổi. Cứ thấy cái đôi mắt long lanh của chị ta vừa rồi là đủ hiểu. "Nhà cháu cũng chẳng sợ". Câu ấy có nghĩa là thế nào? Cả So lại bỗng thấy hồi hộp. Tuy vậy lão vẫn chưa dám hoàn toàn tin vào nhận định của mình. Chưa biết chừng chị ta có âm mưu gì chăng? Rất có thể cô ả cho lão vào tròng. Cô ả lợi dụng lão rồi la toáng lên. Nhưng không có lý, lão có thù oán gì với chị ta đâu. Khi vợ chồng chị cần vay tiền, lão chỉ tính lời như mọi người, đôi khi lão còn sẵn lòng cho vợ chồng chị khất nợ, không làm khó dễ, bởi lão biết vợ chồng chị tuy nghèo nhưng sống rất đàng hoàng sòng phẳng so với những kẻ nghèo túng trong làng này. Có lẽ chị ta có cảm tình với lão cũng vì vậy. Như thế thì rõ ràng là cô ả chỉ tỏ ra tử tế với lão mà thôi chứ không có tình ý gì hết. Lão cần phải thận trọng.
Chị Tửng đã bước vào với khay trà trên tay. Chị lỏn lẻn:
- Nhà cháu chỉ có loại trà này thôi, ông dùng tạm vậy.
- Không sao! Được một hớp trà vào lúc này là quý lắm rồi. Người ta nói "miếng khi đói hơn gói khi no" kia mà.
Cả So đưa bàn tay bụ bẫm ra xách cái quai ấm tích, rót trà vào chiếc chén uống nước thô kệch. Khói trà tỏa lên nhưng không có mùi thơm. Lão nói:
- Mời chị ngồi xuống đây uống luôn cho vui.
Chị Tửng khép nép như không dám ngồi. Cả So lại giục:
- Chị cứ tự nhiên đi. Chị là chủ mà. Vả lại, có ai đâu.
Chị Tửng đẩy cái chăn bông lùi vào rồi ngồi xuống một bên chiếu. Cả So rót thêm một ly nữa đưa cho chị. Chị đưa hai tay ra đỡ:
- Nhà cháu mời ông.
- Mời chị. Uống trà vào lúc này, trong khung cảnh này thật tuyệt, không còn gì hơn. Hà...hà... trà cũng ngon đấy chứ.
Lão hớp một hớp nhỏ nữa nhưng thật ra lão chỉ để ý đến thái độ của người thiếu phụ đang ngồi đối diện với lão như con cá tươi ngúng nguẩy trước miệng con mèo đói mà thôi. Chị Tửng thản nhiên uống một hớp, hai bàn tay thon thon ôm nhẹ lấy chiếc chén tìm hơi ấm. Cả So chỉ mong mình là cái chén ấy, chắc là... ấm lắm. Nghĩ vậy mà lòng cả So càng rạo rực. Đôi mắt lão sáng lên, lão nhìn chị Tửng đăm đăm không cần che giấu như muốn nói với chị điều gì đang cháy bỏng trong lòng lão.
Đôi má chị Tửng đỏ hồng, chị cúi xuống để tránh cái nhìn xoáy vào da thịt đó. Lão cả So khẽ hỏi:
- Anh ấy đi lâu rồi đấy nhỉ? Chị có được tin gì của anh ấy không?
- Dạ, hơn ba năm rồi mà chẳng có tin tức gì.
- Đàn bà thờ chồng cũng chỉ có ba năm thôi.
Chị Tửng yên lặng. Cả So tiếp luôn:
- Chị cũng phải lo nghĩ cho tuổi xuân của chị chứ chẳng lẽ nằm đó mà đợi hoài sao? Tôi thấy chị còn trẻ còn đẹp lắm.
Bây giờ thì chị Tửng ngước lên, chị mỉm cười:
- Thật vậy sao ông?
Cái cử chỉ như có vẻ đồng lõa ấy khiến cả So càng nôn nao hơn, lão trả lời chắc như đinh đóng cột gỗ lim:
- Các bà các cô ở làng này không ai bằng chị đâu, không ai so sánh được với chị hết.
- Ông cứ nói thế...
- Tôi nói thật đấy. Nếu tôi còn trẻ chắc tôi sẽ quỳ dưới chân chị mất thôi.
Cả So không ngờ rằng lão lại thốt được ra một câu văn chương tha thiết đến như thế. Lão hứng chí nói luôn:
- Quy từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, mặc cho mưa gió bão bùng, tôi vẫn cứ quỳ cho đến khi nào chị bằng lòng mới thôi.
Chị Tửng có cảm tưởng như mình đang đứng xem một vở tuồng "cải lương". Chị nhìn cả So rồi làm ra vẻ nghịch ngợm hỏi lại:
- À, thế ra đêm hôm qua, ông cố tình ngã vào cánh cổng nhà cháu đấy?
Cả So cất tiếng cười:
- Tôi không cố ý, nhưng bây giờ chị hiểu thế nào cũng được. Cứ cho là như thế đi. Chị nghĩ sao?
Chị Tửng lắc đầu:
- Nhà cháu chẳng nghĩ gì cả. Cái đó là tùy ở ông thôi. Ông cho là có thì nó có mà không thì nó không.
- Tôi đã nói rồi, cứ cho là tôi cố tình ngã vào cánh cổng nhà chị đi.
Tiếng cười của chị Tửng cất lên dịu dàng:
- Nhà cháu không tin.
- Sao vậy?
- Ông cố tình ngã vào cánh cổng nhà cháu mà sau đó ông lại nằm ngủ như chết. Chẳng lẽ ông chỉ có ý định đến đây nằm ngủ nhờ một đêm thôi sao?
Cả So gật gù:
- Đúng, nhà chị thông minh thật. Nhưng bây giờ tôi... tôi mới tỉnh và.. và...
Cả So không tìm được lời nào giải thích đúng ý muốn của mình. Lão đành lúng túng nhìn chị Tửng, xuống giọng hỏi:
- Chị hiểu tôi muốn nói gì chứ?
Thiếu phụ vẫn giữ vẻ e dè, chị lại cúi xuống, trả lời nhẹ như hơi gió:
- Dạ, hiểu.
Cái vẻ e thẹn nửa vời ấy càng làm cho cả So thích thú hơn, lão gạt khay nước sang một bên, nhoài sang cầm lấy cánh tay người thiếu phụ:
- Hiểu rồi, vậy thì còn chờ gì nữa?
Chị Tửng phản kháng yếu ớt:
- Đừng... ông.
- Sao lại đừng? Chỉ có hai chúng ta thôi.
Hai cánh tay mập mạp của lão cả So còn khỏe mạnh đột ngột ôm cứng lấy đôi vai người thiếu phụ, kéo chị ta về phía mình. Chị Tửng mất đà ngã vào lòng lão, mái tóc xổ ra, nhưng chị giãy giụa:
- Ơ kìa, ông này lạ chưa. Người ta đã bằng lòng đâu.
Lão cả So vẫn ôm cứng lấy cái thân hình mềm mại nóng hôi hổi đó. Lão cười hì hì như nắm chắc phần thắng trong tay, lão lục soát bừa bãi. Chị Tửng trở nên phản ứng quyết liệt hơn, chị vùng ra:
- Ông mà còn làm thế, tôi la lên bây giờ đấy.
- Cứ la đi. Tôi thích nghe tiếng la của chị.
- Tôi nói thật đấy.
- Ừ thì la to lên đi cho mọi người cùng biết. Không lẽ bỗng dưng đêm hôm qua tôi chui được vào phòng chị sao?
Chị Tửng đã nhích xa ra một chút. Chị dịu giọng:
- Ông muốn gì thì cũng phải từ tốn chứ. Ông coi tôi là hạng người nào?
Cả So còn nắm chắc cánh tay chị Tửng:
- Thì... chồng em đi vắng lâu ngày, chuyện đó cũng là chuyện thường tình thôi.
Mặt mũi chị Tửng đã đỏ càng đỏ hơn, giọng chị gay gắt:
- Ông cho tôi là hạng gái thèm khát đàn ông ư? Nếu chỉ có thế thì làng này không thiếu những anh trai trẻ hàng ngày vẫn ve vãn tán tỉnh tôi, cần gì đến một người có tuổi như ông!
Cả So ngây mặt, không hiểu nổi cô ả này còn giở trò gì nữa. Bằng lòng thì như đã bằng lòng rồi, cớ sao bỗng dưng cô ta lại phản đối dữ dội như thế? Thoáng một chút nghi ngại, lão đề phòng. Nhưng buông chị Tửng ra thì nhất định lão không chịu buông. Lão bèn dịu giọng:
- Ờ ờ... tôi hồ đồ quá. Ngồi xuống đây đi. Tôi thề sẽ không làm thế nữa.
Chị Tửng lại ngồi xuống:
- Ông đàng hoàng thế có phải dễ thương hơn không.
Và chị buông mặc cho lão cả So cầm hai bàn tay mình. Cả So bình tĩnh nói:
- Vậy thì em nói đi, em thương tôi vì lẽ gì?
- Có ai nói thương ông đâu.
- Thì ít nhất cũng phải có đôi chút cảm tình. Có phải vì tôi đối xử tử tế với vợ chồng em không?
- Đúng thế. Nhưng một phần khác vì... tôi biết ông không phải là loại người gian tham lắm chuyện như ấy ông khác trong cái làng này. Bởi vậy nên đêm hôm qua em mới dìu ông vào trong nhà.
Cả So gật gù ra cái điều hiểu biết, Lão ngồi sát vào chị hơn bởi cái lối xưng hô mà chị Tửng vừa thay đổi. Từ "nhà cháu" chuyển sang "tôi" rồi "em" ngọt xớt. Bàn tay lão trở nên dịu dàng hơn, lão ve vuốt đôi vai chị Tửng, nhẹ nhàng đưa xuống rẻo lưng thon thả. Lão nói như để khỏa lấp và cũng để dụ dỗ:
- Tôi biết ngay mà, em có cảm tình với tôi. Tôi hứa với em là tôi sẽ biết cách đối xử với em đâu ra đấy. Tôi không để em thiệt thòi đâu. Em muốn cái gì cứ nói, làm được tôi sẽ làm ngay cho em.
Chị Tửng trở nên lúng túng, tiếng chị nhát gừng:
- Thật ra thì... em không muốn thề đâu... Em em... chỉ nghĩ tới việc này đêm hôm qua... khi ông ngủ trong phòng này. Em phải ra nhà ngoài nằm mãi không ngủ được. Em suy nghĩ kỹ rồi.
Lão cả So choàng lấy người thiếu phụ:
- Tôi chưa hiểu em nói gì cả.
- Rồi ông sẽ hiểu.
Thấy chị Tửng có vẻ "chịu trận", cả So kéo khuôn mặt xinh đẹp đang đỏ hồng hồng của chị lên. Lão vụng về áp cái má phinh phính của lão vào làn da mịn màng của người thiếu phụ. Chị Tửng tỏ vẻ đón nhận nhưng không sốt sắng cho lắm. Cả So khôn ngoan hơn, lão từ tốn đẩy chị xuống giường. Nhưng chị Tửng khẽ nói:
- Đừng ông. Không phải là em không chịu, nhưng không phải là bây giờ.
- Lúc này vắng vẻ mà, em ngại cái gì chứ. Cứ để...
- Trời sáng rồi, ông không thấy sao?
- Trời sáng thì mặc trời sáng, có nhằm nhò gì.
- Ông buông em ra đi, em còn phải lo cho đứa con gái của em ăn sáng rồi đến trường học.
Lão cả So chưa chịu thua:
- Con nhỏ bé xíu đó mà biết cái gì.
- Trẻ con ngày nay tinh khôn lắm. Ông đừng coi thường, từ ngày nó biết bố nó bỏ đi, con bé không muốn em quen bất kỳ người đàn ông nào. Vả lại, sáng nay em còn hẹn bà Hai Bún đi đong gạo ra bán ngoài chợ. Không biết bà ta sang đây lúc nào.
Rồi chị dứt khoát đẩy cả So ra, tiếng chị tình tứ:
- Mình còn thì giờ mà ông. Em còn ở đây, ông muốn lúc nào chẳng được.
Giữa lúc đó có tiếng lục đục ở căn buồng đầu nhà vọng tới. Chị Tửng mỉm cười, đôi mắt ướt rượt:
- Con bé phá đám dậy rồi đó, em phải sang với nó đã.
Cả So đành chịu thua, lão ngây mặt. Chị Tửng đã ấn vai lão xuống an ủi:
- Ông cứ ngồi đây, em trở lại ngay.
Chị hấp tấp ra khỏi phòng khép kín cánh cửa. Cả So lặng lẽ uống một hớp nước, lão có cảm tưởng như vừa ở chín từng mây lọt xuống cái xó tối này. Tuy nhiên, lão vẫn chưa hết rung động, người lão lâng lâng trong một sự chờ đợi khoái trá. Lão lắng nghe từng tiếng động bên ngoài. Tiếng gió bấc lẫn với tiếng mẹ con chị Tửng lào xào. Âm thanh trong trẻo của chị Tửng vẫn nổi lên, chị đang dịu dàng săn sóc cho đứa con gái. Con bé nũng nịu khiến lão cả So lộn ruột, bỗng dưng lão coi con bé như kẻ thù. Lão bực mình nằm dài ra giường. Lão đang được giam lỏng trong cái nhà giam ấm cúng này.
Một lát sau, chị Tửng đẩy nhẹ cánh cửa trở vào. Cả So bật dậy như cái lò so:
- Con bé đi học rồi à?
Chị Tửng gật đầu:
- Em phải tống khứ nó đi cho nhanh kẻo ông đợi.
Câu nói làm cho cả So sung sướng lạ lùng. Lão ôm chầm lấy chị Tửng:
- Bây giờ chỉ còn hai chúng ta.
Bàn tay lão bạo dạn hơn trên ngực người thiếu phụ. Người chị Tửng co lại:
- Ông này lại thế rồi.
Nét mặt chị hơi nhăn lại vì sự bạo dạn của cả So. Chị cho lão tự do một chút rồi chị cầm tay lão nói như năn nỉ dỗ dành:
- Để lúc khác đi ông! Giờ này sáng bạch rồi. Em còn phải đi chợ, bà Hai Bún sắp sáng rồi. Tối nay ông tới đây nhé. Em đợi ông. Bây giờ thì ông về đi. Ông nhớ đi lối sau vườn ấy.
Cả So đứng lên, lão ôm gọn thân hình người thiếu phụ. Chị Tửng đẩy lão ra gần chiếc cửa sổ nhỏ bên hông nhà. Chị kéo nhẹ cánh cửa liếp, chỉ tay ra khu vườn:
- Đây, ông đi lối này. Qua hết vườn chè, có một bụi tre, ông đi thẳng qua bên kia là vườn chuối của nhà lão Phó Chu. Con đường nhỏ sẽ đưa ông ra rìa làng. Tối nay ông cũng đến bằng ngả đó, không ai biết đâu. Nhưng đến muộn muộn một chút để con nhỏ đi ngủ cái đã.
Cả So chẳng cần để ý đến con đường mà chị Tửng vừa chỉ ra vì đối với lão, từng ngõ ngách trong cái nơi sinh rau cắt rốn này của lão, không còn gì xa lạ. Chỉ cần nói qua là lão biết như lòng bàn tay. Lão làm ra vẻ quyến luyến, nhưng thật ra là vì tham lam, lão còn gục đầu vào cổ người thiếu phụ đang toát lên một mùi hương thoang thoảng. Hàm râu quai nón của lão khiến chị Tửng không chịu nổi, chị giãy lên:
- Thôi mà, ông về đi.
- Một chút thôi mà.
- Tối hãy hay.
Có tiếng bà Hai Bún toang toác ngoài sân:
- Mẹ Tửng đâu rồi, đi thôi chứ. Tửng ơi! Tửng.
Lão cả So và chị Tửng cùng giật mình cuống lên. Chị Tửng thì thào:
- Ông cứ ở đây. Đợi tôi và mẹ Hai Bún đi rồi hãy ra. Nhớ khép cửa phòng lại cẩn thận nha.
Cả So gật đầu. Chị Tửng hé mắt nhìn qua khe cửa, khi thấy bà Hai Bún đi thẳng vào trong bếp, chị nhanh nhẹn lách người ra ngoài, đi vài bước chị mới lên tiếng:
- Tôi đang đợi bà đây.
Cả So cũng tò mò hé mắt nhìn qua khe cửa. Lão thấy cái dáng người lùn tịt của mụ Hai Bún đầu trùm cái khăn vuông mỏ quạ đang lạch bạch cắp cái thúng từ nhà bếp quay ra. Chị Tửng đón mụ kéo tuột vào trong phòng bên cạnh. Tiếng mụ Hai Bún vẫn toang toác bàn với chị về chuyện mua bán. Một vài phút sau, hai người đàn bà cùng nhau ra khỏi nhà. Đợi họ đi khuất hẳn rồi cả So mới mò ra, lão nhanh như con sóc trườn qua đầu hè băng xuống khu vườn mất hút.
° ° °
Cả So đúng là một tay tốt số, đỏ hơn số đỏ. Xét về gia phả thì đúng như lời lãi Lý Hoạch đã mỉa mai ba đời nhà anh không người nào có lấy một mảnh bằng làm vốn chữ nghĩa. Nhưng xét về sự giàu sang sung sướng thì cả So sướng hơn Lý Hoạch và các vị tai mắt trong làng này rất nhiều.
Ba đời nhà cả So đều làm ăn rất phát đạt. Cứ mỗi đời lại giàu thêm. Hầu hết các cụ lại hiếm muộn về đường con cái. Từ đời ông cố, ông nội cả So, mỗi cụ chỉ có một người con trai duy nhất. Cụ nào giỏi lắm cũng chỉ thêm được vài mụn con gái. Nhưng con gái trong cái thời buổi này thì "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô". Vậy là con gái kể như không có. Một mình cả So hưởng hết gia tài ba đời để lại, hưởng luôn cả phúc lộc của các cụ mà không phải chia chác cho ai xu nào. Cả So vừa lớn lên đã thấy mình có một gia tài đồ sộ, lão điềm nhiên tọa hưởng. Một ty rượu ngay giữa phố chợ, một cửa hàng tạp hóa kiêm luôn nghề cầm đồ và cho vay lời, một dãy nhà cho thuê, vài chục mẫu ruộng, một dinh cơ năm bảy cái nhà ngói ngang dọc giữa làng. Một bà vợ hơn lão sáu bảy tuổi. Cả So cũng chẳng nhớ mình có vợ từ hồi nào. Lão chỉ mang máng nhớ rằng hồi còn bé tí, có lẽ mười hai hay mười ba tuổi, vào một ngày đẹp trời, mẹ lão đã bảo lão vận quần áo mới để đi cưới vợ. Thế là lão lon ton đi theo cái đám người đông đảo đó đến nhà vợ. Từ đó hắn ở riêng một phòng với cô vợ lớn tướng. Cô vợ chăm nom săn sóc lão như một người chị đối với cậu em út.
Có một điều lạ là sống với nhau như chị em mà lão chẳng hiểu tại sao chỉ vài năm sau lão đã có một đứa con. Đứa con gái đầu lòng. Vài năm sau, lão lại có một đứa con nữa. Lại con gái! Bố mẹ lão và vợ lão đi cầu xin van vái hết chùa này đến miếu khác để xin một thằng con trai. Nhưng rồi vợ lão lại cho ra đời một mụn con gái thứ ba. Bố mẹ lão sốt ruột quá, đi xem bói xem tướng, mỗi ông nói một phách. Ông thì đổ tại đất cát, mồ mả. Ông thì cho rằng tại cái hướng nhà không hạp. Ông thì phán rằng phải lấy cho cậu cả một cô vợ hai nữa mới có thể có con trai được. Có lẽ ông này bói đúng nhất. Thế là bố mẹ lão lập tức kiếm người, kiếm mai mối, tìm cho được một cô về làm vợ hai cả So. Cô vợ hai cả So lúc ấy trẻ măng, con gái làng bên, vốn dòng đông con, có tới bảy anh em trai, chỉ có mình cô là gái. Dáng người tròn trĩnh, chắc nịch, lưng ong hơi lượn xuống, hy vọng là sẽ cho ra đời một lũ nhóc trong đó theo tướng số thì sẽ có một thằng con trai.
Quả thật lão thầy bói hay thiệt tình, chỉ cần chín tháng sau, cô vợ hai của cả So đã cho lão một thằng con trai kháu khỉnh. Cô vợ hai được ở hẳn một gian nhà ngoài phố chợ, làm bà chủ cái cửa hàng tạp hóa. Tuy nhiên, gia đình nhà cả So lại bắt đưa thằng con trai về nuôi ở trong làng. Bởi nó sẽ là đứa cháu đích tôn của cả dòng họ này. Bà vợ cả đương nhiên phải là mẹ của đứa bé. Cô vợ hai chỉ còn biết tuân lệnh. Rồi cô lại có thêm hai đứa con gái nữa nên dần dần cũng quen đi. Thằng bé lớn lên trong bọc lụa điều và cũng phốp pháp tốt tướng như bố nó vậy. Cả So nhất định bắt nó ăn học thành tài, học hết trường làng, lão tậu cho thằng con trai cái xe đạp, cho lên theo học trường huyện. Tối về nó ê a dăm ba bài học tiếng tây, cả So lấy làm hãnh diện lắm và đặt rất nhiều hy vọng vào vào thằng con này. Lão mày mò kiếm cho được một ông thầy thuê làm gia sư, kèm thêm cho cậu quí tử.
Hôm nay lão vừa về đến nhà không nghe tiếng học bài của cậu con trai và cũng không thấy ông gia sư đâu, lão quát:
- Thằng Son đâu rồi?
Ông quản gia chạy bổ lên thưa:
- Bẩm ông, cậu vừa đi chơi với thầy giáo. Hôm nay là chủ nhật.
Lão yên tâm nhưng vẫn ra cái vẻ hậm hực:
- Chủ nhật cũng phải học, nghe không?
Lão quản gia biết rằng ông chủ đã dịu, lão "vâng" một tiếng cho phải phép rồi quay sang chuyện khác:
- Bẩm ông, mấy nhà cấy rẽ bên phường Tam Hiệp xin được "cấn" thóc bằng tiền.
Lão suy nghĩ một chút rồi gật:
- Được, ông cứ nhận cho họ đi.
- Nhưng bà chủ bắt họ phải nộp bằng thóc vì mùa này thóc để ít ngày nữa vào Tết sẽ có lời hơn. Cánh canh điền Tam Hiệp nói rằng lúc này công xá đắt, thuê mỗi công gánh thóc từ bên đó qua đây rất nhiêu khê, mưa dầm, đường xá lầy lội. Như thế họ sẽ rất tốn kém và phải đợi năm bữa nửa tháng nữa họ mới nộp thóc cho nhà mình được.
Cả So suy nghĩ một chút rồi phất tay:
- Tôi bảo ông nhận là nhận. Làm khó người ta để kiếm thêm vài ba chục bạc không đáng đâu.
Lão quản gia nịnh thẳng tuột:
- Dạ thưa ông chủ đúng là người có phúc, có đức.
Nói như thế chẳng khác nào lão quản gia chê bà chủ của lão là "vô phúc, vô đức". Cả So biết rõ tính keo kiệt của bà vợ cả của mình, có lẽ chính vì thế nên ông trời không cho bà một mụn con trai cũng là đúng. Nhưng lão chỉ lẳng lặng bỏ vào trong nhà. Lão hoàn toàn tin rằng lệnh của lão sẽ được thi hành triệt để vì trong nhà này đã có truyền thống là đàn ông quyết định hết mọi sự. Lão đã phán ra cái gì là mọi sẽ đúng y boong như thế, không sai một ly. Còn chuyện đêm hôm, lão ở nhà vợ cả hay vợ hai là chuyện của lão, thậm chí hai bà vợ của lão cũng không bao giờ dám ho he ghen bóng ghen gió.
Lão vào phòng thay quần áo. Bà vợ cả cũng vừa bước vào, tiếng bà cất lên tuy đã cồ làm ra vẻ mềm mỏng nhưng vẫn cứ quê mùa cục mịch:
- Ông mới về đó à? Tôi tính mua cho con "nhớn" nhà mình một chiếc áo dài lụa để dịp này bên nhà trai đến chơi "chạm ngõ" cho nó mặc. Chẳng gì cũng...
Cả So gạt ngang:
- Ôi chao, bà muốn làm gì đó thì làm. Mẹ con bà có dát vàng lên người cũng thế thôi, không đẹp được đâu.
Bà cả So đã quen với lối ăn nói trịch thượng của ông chồng nên bà vẫn làm lành:
- Tôi thì già rồi không nói làm gì, nhưng con gái lớn sắp đi lấy chồng thì cũng phải cho nó ăn vận cho ra vẻ một tí, kẻo người ta cười, rồi sau này chúng nó cũng không thể oán trách mình vào đâu được.
Hôm nay cả So không muốn khó dễ với bà vợ già nua của mình nên lão gật:
- Được, bà cứ bảo cô hai chọn cho.
Ý lão muốn nói là nên nhờ bà vợ hai của lão là dân buôn bán ngoài chợ chọn hàng giùm. Nhưng bà cả đã lắc đầu:
- Hôm qua đã có một người bán vải ngoài tỉnh mang hàng đến tận nhà này chào mời. Nhiều loại vải vóc tơ lụa đẹp lắm, cả huyện này không có đâu. Mai mốt người ta trở lại, ông có may thêm mấy cái áo gấm Thượng Hải nữa không?
Cả So thấy cũng nên ăn diện thêm một tí cho bảnh nên lão gật gù:
- Ừ, cứ để người ta đến coi xem sao cái đã.
Lão lại nhìn bà vợ cả của mình. Bà ta đã già lại càng làm ra vẻ già thêm với chiếc áo bông dày cộm cũ kỹ bạc phếch trên cái thân hình gầy gò xẹp lép như con cá mắm. Bà lại ăn trầu nên đôi môi nửa như đỏ choét nửa như thâm sịt. Lão động lòng trắc ẩn, chẳng gì thì bà ta cũng đã sống với lão từ những năm còn bé tí, dù sao thì cũng là tình là nghĩa. Bản tính cả So tuy là con nhà địa chủ, nhưng lại có đôi chút nhân hậu. Lão chỉ là kẻ thừa hưởng những gì ba đời ông cha lão để lại chứ đời lão chưa hề nghĩ đến chuyện bóc lột của ai. Lão chỉ làm những gì theo truyền thống của ba đời trước đã có sẵn. Đôi khi lão lại ra ơn cho những người khác khi hoạn nạn. Vì vậy lão rất được lòng dân làng. Lão nói với bà vợ cả:
- Bà có muốn may mặc gì thêm thì cứ may. Tiền kiếm được để làm gì.
Bà vợ cả có vẻ xúc động, đôi mắt kèm nhèm chớp mau:
- Thì để cho con cái.
Cả So chưa kịp nói câu gì thì bà vợ cả đã lại le te bước ra:
- Tôi còn phải đi coi cho nó gặt mấy xào lúa gạo tám thơm. Chuyến này phải đi biếu cụ Chánh, cụ Phó Tổng, bà cố Hỷ, mỗi người vài ba thùng.
Người đàn bà gầy gò đi khuất, cả So lại quay về với hình ảnh chị Tửng và cái hẹn hấp dẫn vào buổi tối hôm nay. Lòng lão rộn lên, bàn tay lão như còn nguyên vẹn cái cảm giác kỳ thú khi tiếp xúc với làn da thịt người thiếu phụ xuân tình đó. Làn da mềm mại nhưng cơ bắp lại rắn chắc khỏe mạnh. Đúng là cả đời lão, chưa bao giờ lão có thể nghĩ ra mình lại có cái diễm phúc từ trên trời rơi xuống đó. Đến giờ này lão còn bần thần với cái dư vị của khoái cảm ngất ngư. Mắt lão mờ đi khi tưởng tượng ra cuộc hội ngộ đêm nay sẽ còn hứa hẹn nhiều điều sôi nổi quyết liệt hơn.
Cả So nằm vật ra giường, không thèm ngó đến ấm trà mạn sen mà người làm vừa mang lên. Đối với lão, không có gì hơn là cuộc hẹn hò buổi tối hôm nay. Lão chỉ còn mong thời gian trôi nhanh lên, cho trời mau tối. Lão hình dung lại toàn bộ những diễn biến từ khi mở mắt trong căn phòng nhà chị Tửng. Người thiếu phụ có vẻ như hơi kỳ lạ. Có lúc cô ả đa tình tưởng như có thể cho phép lão làm bất cứ đều gì lão muốn. Nhưng rồi có lúc cô ả lại cự tuyệt thẳng thừng cứ như bị lão...ức hiếp. Thế là cái quái gì? Lão cố bình tâm suy nghĩ lại. Rất có thể có một mưu toan nào đây. Cô ả muốn lợi dụng lão để làm tiền chăng? Điều này có vẻ như đúng. Song dù sao thì lão cũng thấy rằng cô ả có cảm tình với lão, cô ả thích lão về một điểm nào đó. Lão gần năm mươi, nhưng lão tốt tướng, to con, khỏe như một con trâu. Dù cô ả chỉ có mục đích kiếm tiền, hãy cứ giả tỉ như thế đi, nhưng cũng không loại trừ khả năng cô ả xa chồng lâu ngày nên khi cần kén chọn thì phải chọn một người cho xứng đáng. Mà lão thì quá đủ điều kiện cho cô ả vừa lòng cả về tiền bạc và sức vóc. Lão chấp nhận nếu cô ả cần một số tiền. Mua được một lạc thú như thế không phải là chuyện dễ, không phải là ai muốn mua cũng được. Lão đã từng có cô vợ hai trẻ đẹp cách đây hơn mười năm. Lão nhớ lại là cái xúc cảm hồi đó dường như chỉ dành cho một mình lão. Cô vợ hai của lão chỉ như tuân theo một mệnh lệnh mà không hề có sự đồng tình nồng nhiệt nào hết. Cô ta chẳng có chút xíu hiểu biết nào trong cuộc sống lứa đôi. Mặc lão muốn giày vò thế nào cũng xong. Cô ta ngoan ngoãn vâng lời. Thế là hết. Rồi cái thứ bổn phận đó kéo dài cho đến ngày nay, đôi khi chẳng còn thú vị gì.
Suốt ngày hôm đó, cả So tâm thần bất định. Lão dễ tính với tất cả mọi người. Có vài con nợ xin khất dăm ba tháng, lão cũng ừ ngay. Lão cho thằng em vợ đang sửa nhà hai tạ xi măng và một số gỗ quý lão ngâm dưới ao.
Buổi trưa lão cố nhắm mắt tìm một giấc ngủ muộn để dành sức lực cho buổi tối. Buổi chiều lão pha một ấm hồng sâm ngồi uống nhìn trời mưa rả rích. Lão bắt đun nước nóng tắm, mang cục xà bông Cô Ba ra xài không thương tiếc. Buổi tối lão bắt làm một con gà mái dầu, uống một chút rượu cho ấm. Lão không dám uống nhiều, sợ say ngủ quên thì đúng là hận ngàn đời. Lão vừa nhậu vừa nhìn cái đồng hồ quả lắc dài thoòng, thỉnh thoảng lại phát ra một điệu nhạc quen thuộc buồn tẻ. Lâu quá mà chưa đến chín giờ tối. Thời gian cứ như kéo chậm lại. Ruột lão nóng như lửa đốt. Nhưng rồi thời cơ cũng đã đến. Lão khoác thêm chiếc áo dạ dài, cầm cái đèn Pin ra đi. Trời vẫn mưa sụt sùi, đường trơn như đổ mỡ, nhưng lòng lão lại nắng chang chang. Lão vòng ra rìa làng, lủi nhanh vào trong khu vườn tối om.
° ° °
Chị Tửng cho đứa con gái đi ngủ, chị căn cho nó ngủ say rồi mới trở lại căn phòng trước kia dành cho hai vợ chồng chị mà tối hôm qua chị đã phá lệ đưa lão cả So say rượu vào đây. Thật ra chị không cố ý, nhưng trong lúc quýnh quáng chị không biết để lão nằm đâu cho kín gió, đành đưa đại lão vào phòng này. Từ ngày chồng chị bỏ đi, chị thường ngủ với con gái ở phòng cuối dãy nhà, còn căn phòng này vẫn bỏ không. Phải vất vả lắm chị mới khênh được lão cả So vào đây.
Phải thú nhận rằng từ ngày thiếu vắng đàn ông, chị Tửng không hề nghĩ đến chuyện thèm khát lang chạ. Chị vẫn còn yêu chồng và vẫn hy vọng có một ngày nào đó chồng chị sẽ trở về. Nhưng đêm hôm qua, trời xui đất khiến thế nào chị lại gặp ngay cái cảnh một mình phải cứu vớt lão cả So to béo chắc nịch này. Lão say không còn biết trời đất gì nữa và lão quơ chân múa tay chửi bới huyên thuyên. Sự đụng chạm lần đầu tiên với thân hình một người đàn ông sau một thời gian dài xa chồng, đôi khi khiến chị nhột nhạt. Và cái giấc ngủ đông của con tim cùng cái cơ thể tràn đầy xuân sắc kia bỗng như được đánh thức trở dậy. Lấy chăn đắp cho cả So rồi, chị trở ra nhà ngoài mà không giấu giếm được cảm giác lâng lâng, rờn rợn.
Đã hơn ba năm rồi, chị cố sống thật đàng hoàng và cố tỏ ta lạnh lùng với tất cả mọi người đàn ông con trai bu quanh. Chị đã làm được. Đôi lần chị đã nghĩ đến việc phải đi tìm chồng, trở lại quê nội, quê ngoại để dò la tin tức. Nhưng cái khó khăn vẫn là đồng tiền. Mang theo một đứa con gái mà ra đi xa lắc xa lơ, tứ cố vô thân, quả là một cuộc mạo hiểm ngu xuẩn, chị sẽ rơi vào tay một bọn lưu manh, dễ dàng xa vào hố sâu đen tối. Chị lại phải bỏ ngay ý định điên rồ đó. Nhưng mặt khác chị biết rằng chị cũng không thể sống mãi với cái cảnh này nếu chồng chị không trở về. Đêm qua, bỗng dưng trong chị lại nổi lên một ý định táo bạo khác. Chị đã trằn trọc suy nghĩ gần như suốt đêm. Cuối cùng chị thấy rõ rằng đó là cách lựa chọn duy nhất đúng, không còn con đường nào khác. Chị phải thực hiện nó.
Cho nên tối nay chị bình tĩnh đợi cả So. Một ngọn đèn dầu leo lét, lờ mờ không đủ soi sáng căn phòng im ắng. Chị cũng cảm thấy một nỗi hồi hộp, không phải như một người tình mong đợi một người tình mà là sự hồi hộp của một người sắp bước vào một quyết định táo bạo. Tiếng gió bấc vẵn thổi đều đều làm xào xạc những cành là trong vườn cây trở thành một điệu nhạc quen thuộc. Đêm nay chị nghe rõ âm thanh ấy hơn bao giờ hết. Một tiếng động nhẹ của cành cây cũng khiến chị thấp thỏm. Chị thầm nghĩ lão già này cũng là tay cẩn thận. Lão đợi cho cả cái làng này chìm trong giấc ngủ rồi lão mới mò đến. Chị có vẻ yên tâm với ý nghĩ này.
Cánh cửa sổ bên hông nhà có tiếng gõ nhè nhẹ. Chị Tửng hắng giọng ra hiệu rồi chị đẩy nhẹ cánh liếp mỏng. Khuôn mặt cả So hiện ra trong bóng tối mơ hồ. Chị mỉm cười gật đầu chỉ tay ra phía cửa phòng. Cả So nhìn quanh quẩn kiểm soát xem có ai rình mò không rồi mới vòng ra cửa bước vào. Lão cẩn thận gài then cửa. Lúc này căn phòng như đã hoàn toàn là một thế giới riêng của lão và người thiếu phụ đang đứng trước mặt lão. Chị Tửng vận một chiếc áo len màu xanh đã cũ che đậy hờ hững chiếc áo cánh vải phin trắng nõn. Mái tóc búi lại gọn gàng, trông chị còn trẻ đẹp gấp bội so với buổi sáng nay. Đôi mắt chị long lanh như cười cợt tình tứ. Cả So tiến lại vồ vập choàng lấy cái thân hình thon nhỏ như muốn ăn tươi nuốt sống một trái chín trên cành. Chị Tửng ngoan ngoãn cho hắn dìu đến chiếc giường đã được trải sẵn một chiếc chiếu hoa mới tinh, trên đó có chiếc chăn bông vải hoa trải dài phía sát tường sẵn sàng để sử dụng. Nhưng lão cả So khựng lại khi thấy một khay trà để ngay ngắn giữa giường. Lão xua tay:
- Thôi bày vẽ trà nước làm gì cho lôi thôi. Cất nó đi.
Chị tửng khôn khéo trườn khỏi tay cả So:
- Trà thiết quan âm, em mới mua ở tiệm chú Tàu sáng nay đấy. Ông uống một ly cho... thêm hào hứng.
Mắt lão cả So mờ đi vì câu nói gợi cảm này. Lão cười hì hì:
- Em làm gì mà long trọng thế, mình gặp nhau là đủ rồi.
- Hãy cứ từ từ, mình còn nhiều thì giờ mà ông. Em có chuyện muốn thưa với ông trước đã.
Cả So tự tay rót ly trà, nhưng lão lại đang tính toán xem cô ả này giở trò gì đây. Có lẽ lúc này mới là lúc vô đề, lão cũng đang muốn biết ý định chính của cô ả này là thế nào. Lão lại cố làm ra vẻ bình thản hớp một ngụm trà:
- Ngon đấy, thơm lắm. Đúng là thiết quan âm thứ thiệt. Em cũng uống một ly nhé?
- Vâng, em xin ông.
- Còn khách sáo nữa sao. Cứ xưng anh em cho nó thân.
Chị Tửng mủm mỉm cười:
- Chưa dám đâu. Em phải thưa chuyện với ông xong đã rồi ông muốn em gọi bằng gì cũng được.
Lão cả So gật gù:
- Vậy thì em cứ nói đi.
Chị Tửng nhấp giọng một chút trà thơm rồi nói rất rõ ràng:
- Em muốn bàn với ông một việc. Đây là một cuộc trao đổi giữa hai chúng ta.
- Em nói sao? Chỉ là một cuộc trao đổi thôi sao?
- Vâng, nếu cần thì ông cứ hiểu là một cuộc thuận mua vừa bán cũng chẳng sao. Nhưng không phải là với ai em cũng chịu trao đổi như với ông đâu. Nói thẳng ra đây là một cuộc trao đổi có sự lựa chọn hẳn hoi chứ không bừa bãi. Em không phải là loại người như thế.
Cả So gật đầu như máy:
- Tôi hiểu mà.
- Ông hiểu được như thế thì tốt. Em chọn ông vì em biết ông là người đàng hoàng, biết điều, không lắm chuyện và tồi tệ như những anh nhà giàu khác. Dù chuyện gì xảy ra giữa ông và em, ông cũng sẽ không bao giờ đem đi khoe với thiên hạ. Ông sẽ giúp em...
- Điều đó thì dĩ nhiên rồi.
- Và em sẵn sàng chiều theo mọi ý muốn của ông với... với sự đồng tình của cả đôi bên cho vui vẻ.
- Ờ có thế mới hứng thú chớ. Em nói đi. Tôi hiểu em quá mà.
Chị Tửng lắc đầu:
- Thật ra thì ông chưa hiểu gì về em đâu.
- Em đến cái làng này cả gần chục năm nay rồi, tôi không hiểu em sao được!
Bàn tay chị Từng giơ lên:
- Nhưng ông có biết em từ đấu đến ngụ cư tại cái làng này của ông không?
- Sao lại không? Vợ chồng em từ Nam Định qua đây...
- Sai bét.
Mắt cả So tròn lên:
- Chẳng lẽ lão Lý Trưởng nói láo sao?
- Lão Lý trưởng chỉ tin vào một người bà con hắn ở Nam Định giới thiệu vợ chồng em vì chán cái cảnh ông bà già chồng tàn ác nên cho vợ chồng em đến ngụ cư ở đây thôi. Lúc ấy em đang có bầu con bé Mùi.
Cả So cắt ngang:
- Vậy thật ra vợ chồng em từ đâu tới?
- Từ Thái Nguyên. Bố chồng em là quân của cụ Đề.
- Cụ Đề là anh nào vậy?
Chị Tửng mắng yêu:
- Ông này đúng là chặng biết cái gì ngoài đồng tiền ra. Cụ Đề tức là cụ Đề Thám nổi lên chống Pháp, ông biết chưa?
- Biết! Biết! Có nghe nói đến cái tên ấy. Nguy hiểm lắm cho nên tôi chỉ cần biết đến đấy thôi. Vậy ra bố em cũng là dân chống Pháp à?
- Không phải bố em mà là bố chồng em. Cụ đi theo cụ Đề rồi bị tử trận. Chúng nó lùng sục, bắt bớ cả dòng họ nhà chồng em, cho nên chúng em phải chạy về Nam Định lánh nạn tạm ở nhà một người cũng là lính của cụ Đề nhưng ông ta thoát được. Rồi vài tháng sau ông ta cũng bị truy lùng nên mới giới thiệu với lão Lý trưởng làng này cho chúng em lánh nạn về đây.
Lão cả So ngồi im. Lão đã cảm thấy vấn đề này đã có vẻ rắc rối, nguy hiểm rồi đây. Song lão chỉ lẳng lặng uống trà. Chị Tửng khích:
- Ông sợ à?
Cả So cố lên gân:
- Sợ cái gì? Tôi có làm gì đâu mà phải sợ?
- Thì ông giao thiệp với con một người làm cách mạng chống các quan Tây.
- Nhưng em có là cách mạng không?
- Không! Đó là chuyện của đàn ông. Em chỉ là người bị vạ lây thôi. Chồng mới ti toe theo bố vài tháng, cũng chưa biết gì cả. Nhưng chúng nó cứ truy lùng, diệt cỏ phải diệt tận gốc.
- Hiểu rồi.
- Chồng em là Tưởng, Chu Văn Tưởng. Về ngụ cư ở làng này đổi tên là Trần Văn Tửng. Anh ấy có học hành đàng hoàng chứ có cắt tóc cho ai bao giờ đâu. Ông bạn bố em ở Nam Định mua cho một mớ đồ nghề và truyền cho cái nghề hớt tóc trước khi qua đây.
Lão cả So lại gật gù:
- Hèn chi tôi thấy mặt mũi anh ta cũng sáng sủa.
- Còn em cũng được học hành chút đỉnh, biết đọc biết viết cả đôi ba câu tiếng Tây. Nhưng về đây vợ chồng em phải làm ra cái vẻ ngu dốt. Em phải đóng vai chị Tửng mù chữ, buôn thúng bán bưng cho qua ngày để nuôi con.
Cả So lại hỏi giật giọng:
- Thế tại sao thằng chồng em lại nỡ bỏ em ra đi?
- Vài năm trước đây, một người về bắt liên lạc lại với chồng em. Thế là anh ấy ra đi, không phải đi tìm đường cứu nước mà đi tìm thân nhân, tìm cách trả thù cho bố anh ấy.
- Nó có hẹn bao giờ trở lại không?
- Anh ấy hẹn năm sau sẽ trở về đón mẹ con em ra đi. Hơn ba năm rồi, em cố gắng chờ đợi, không thấy anh ấy trở về. Chắc chắn là anh ấy gặp nạn gì đó hay là sang tận bên Trung Quốc rồi cũng nên. Em nghe nói có nhiều người cách mạng trốn sang bên ấy lắm.
Cả So cười hề hề:
- Chưa biết chừng nó bỏ xác trong rừng già hay chết queo vì sốt rét ngã nước rồi cũng nên.
- Cái nhà ông này chỉ được cái độc mồm độc miệng thôi.
- Em không nghĩ tới chuyện đó sao?
Đôi mắt đen láy của chị Tửng chớp nhẹ:
- Thật tình thì em cũng đã nghĩ tới việc không lành đó xảy ra. Tội nghiệp cho anh ấy.
Cả So lại phang thêm một câu:
- Chưa biết chừng nó sang Tàu rồi lấy một cô vợ Tàu, lập nghiệp luôn ở cái xứ đó rồi, bây giờ có hàng tá con lai xì xồ, nó quên em luôn.
- Em không tin anh ta là người như thế.
- Đàn ông mà xa vợ con lâu ngày, em tin làm sao được?
Chị Tửng ngồi im. Lão cả So đẩy khay nước sang một bên tự bao giờ, lão ngồi sán lại bên chị, quàng tay lên vai chị rất nhẹ nhàng như để dò la tình hình, trong khi lão vẫn nói:
- Em nên quên hắn đi. Rõ ràng là thằng chồng em nó bỏ rơi mẹ con em rồi. Đừng có tơ tưởng đến con người phụ bạc ấy nữa. Bọn con trai nó phụ rẫy người khác, có bao giờ nó để lộ cái chân tướng của nó ra đâu.
Chị Tửng thở dài:
- Đôi khi em cũng đã nghĩ như thế.
Cả So bỗng kêu nho nhỏ:
- Lạnh quá. Đắp cái chăn cho ấm nghe em. Vai em cũng lạnh cóng rồi đây này.
Chị Tửng cũng cảm thấy lạnh thật, chị nghĩ "trước sau gì rồi cũng đi tới cũng đó" cho nên chị gật nhẹ, song chị còn giao hẹn:
- Đàng hoàng "nghiêm chỉnh" nghe ông. Để mình nói rõ mọi chuyện cái đã.
- Yên tâm đi, tôi không phải loại vũ phu.
Bàn tay chuối mắn của lão cả So đặt khay nước sang chiếc ghế gỗ đầu giường. Lão nhích người vào trong rồi tung chăn, kéo chị Tửng xuống, ân cần phủ chăn ngang người chị. Tiếng lão chân thành:
- Hoàn cảnh của em thật tội nghiệp. Rồi bây giờ em tính sao?
- Ông thấy đấy, em chỉ lánh nạn trong cái làng này thôi. Em già đui giả điếc, sống như con mẹ nhà quê ngu dốt bao nhiêu năm nay, như thế đủ rồi. Em không thể giam hãm mãi trong cái ao tù này nữa, em không thể chết già ở trong cái chỗ này. Em sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy tương lai của mình, của con gái em. Em phải ra đi, phải thoát ra khỏi cái cảnh đời đen tối này.
- Em đinh ra đi sao?
- Nhất định em phải đi. Nhưng muốn đi thì phải có tiền. Em không muốn ra tỉnh đi tìm chồng hay đi tìm một tương lai khác mà phải bán thân vào chốn bụi trần.
Cả So hiểu ý, lão hỏi:
- Em cần bao nhiêu, tôi liệu xem có thể giúp em được không?
- Không! Em không cần ông giúp. Em đã nói ngay từ đầu đây là một cuộc trao đổi thẳng thắn dứt khoát. Em sẽ ở lại đây một thời gian ngắn nữa. Mỗi tối ông đến với em, ông cho em một trăm đồng. Nhưng ít nhất là ông cũng phải đến với em bảy tối để em kiếm đủ bảy trăm đồng.
Lão cả So lặng lẽ tính toán. Bảy trăm đồng, mua được gần hai sào ruộng thượng đẳng điền chứ đâu phải chuyện chơi. Chị Tửng ngoảnh sang:
- Thế nào? Ông cho là đắt quá không thực hiện nổi phải không?
- Không phải, không phải! Tôi còn đang tính xem liệu trong thời gian ấy có thu đủ cho em số tiền mặt đó không.
Chị Tửng lững lờ:
- Cái đó tùy ông quyết định. Nếu không được thì ông cứ coi như giữa em và ông chưa bao giờ gặp nhau. Mình nói chuyện với nhau như thế này cũng vui rồi. Em sẽ tính cách khác. Nói thẳng với ông là em chỉ bằng lòng làm đĩ với một người chứ không muốn bán mình cho trăm người. Nếu em ra tỉnh bây giờ, chịu khó tiếp khách thì chỉ trong một thời gian không lâu em sẽ có đủ số tiền đó. Song đó là điều bất đắc dĩ. Em không muốn vậy, nhất là lại gặp những kẻ tục tĩu, mình không có cảm tình chắc là khổ sở lắm. Vì vậy cho nên em mới nói chuyện thẳng với ông.
Cả So không thể để mất miếng mồi ngon mà lão đã cho rằng cả đời hắn và cả đời những lão già chưa chắc đã gặp được một lần. Khoản tiền tuy có lớn thật, nhưng lão có tới ba mươi tám mẫu ruộng thì hai mẫu đâu có ăn thua gì. Vả lại lão có tiền, gặp dịp ngàn năm một thuở này mà không biết hưởng thụ thì lão chỉ còn là thần tài giữ của mà thôi, khi chết rồi có mang theo được cái gì đâu. Lão nhẩm tính, trong vòng nửa tháng, lão thừa sức gom góp được số tiền mặt đó. Lão hăng hái vòng tay ngang người chị Tửng:
- Em yên tâm, tôi sẽ có đủ cho em. Cứ mỗi tối tôi đưa cho em một trăm thì có thể được.
- Ông ăn chắc thế? Tiền trao cháo múc à?
Lão cười hự hự:
- Đâu phải tôi tính toán kỹ với em, em phải hiểu là nhà tôi thường không giữ nhiều tiền mặt trong nhà. Có vàng, có cửa hiệu, có thóc nhưng còn phải bán đi chứ. Bắt đầu từ mai tôi sẽ không cho vay nữa, tạm hoãn mua hàng một thời gian...
Chị Tửng quay sang vuốt ve khuôn mặt lão:
- Nói chơi vậy tôi, em hiểu mà.
- Ngay ngày mai, tôi về thu vét tiền trong tủ, tiền hàng ngoài chợ, được bao nhiêu tôi sẽ mang sang đưa hết cho em trước. Chắc cũng được vài ba trăm. Em tin tôi chứ?
- Tin. Em biết ông là người đàng hoàng.
- Chúng ta cứ như thế mà làm. Nhưng em đi rồi tôi sẽ nhớ em lắm. Hay là em cứ ở lại, tôi sẽ bảo đảm...
Chị Tửng cười rúc rích:
- Làm vợ ba của ông à? Cái trò đó em không ham đâu. Vả lại em không hạp với ông. Gặp nhau năm bữa nửa tháng thề này thì được chứ còn chết già trong cái lồng chật hẹp này thì không bao giờ em chịu nổi.
Cả So từ tốn gác một chân ngang người thiếu phụ. Chị Tửng nằm im. Trong khi lão cả So lại tiếp tục đánh trống lảng để thừa cơ tiến tới:
- Tại sao em dám nói với anh về thân thế của em? Em không sợ à?
- Ông chỉ là anh nhà giàu, không quyền thế chức tước gì, ông không dại gì mà đi báo quan lãnh thưởng hay lập công đâu. Em nói thật với ông đâu có hại gì mà chỉ có lợi thôi.
- Lợi lộc gì?
- Lộc thì không, nhưng lợi thì có. Chắc chắn ông sẽ im re dù mẹ con em còn ở đây hay đã đi xa rồi. Vì ông sợ liên can đến những người có dính dáng đến cách mạng. Cho kẹo ông cũng không dám hé môi. Có đúng như vậy không?
- Đúng! Em khôn thật. Anh hứa không những không hé răng nói nửa lời với bất cứ ai mà còn che chở cho mẹ con em nữa. Bất cứ khi nào cần tới anh, em cứ về đây, anh sẽ giúp đỡ em ngay. Hay em chỉ cần nhắn tin về thôi anh cũng sẽ giúp tận tình.
Chị Tửng cong người lại vì bàn tay thô nhám của lão. Hơi thở của chị đã lạc nhịp. Chị hổn hển nói:
- Ở vào cái thế kẹt lắm em mới phải làm như thế này.
Lão cả So được voi đòi tiên. Lão rủ rỉ:
- Vậy em chỉ trao đổi chứ không có tình với anh sao?
- Có chút chút mới như thế này chứ.
- Thật không?
- Thật...
- Anh biết mà. Ngoan đi.
Chị Tửng mặc cho lão tự do thao túng, chị vẫn nói để tránh ngượng ngùng:
- Em thề là chỉ có lần này em trao đổi và có cảm tình với ông thôi, không có lần thứ hai trong đời em đâu.
- Đấy, lại "ông" rồi. Gọi bằng anh chứ.
Chị Tửng thở hắt ra:
- Ừ thì "anh"! Anh! Anh!. .. Ối chà.. . Anh!
Lão cả So đúng là một con trâu và con trâu cũng có cái đặc biệt riêng của nó. Người thiếu phụ cảm nhận ra ngay điều này.
Tờ mờ sáng hôm sau cả So lại chuồn theo lối vườn sau ra về. Đường làng còn vắng ngơ vắng ngác, không một bóng người. Chân lão lâng lâng như đi trên mây. Quả là đáng giá ngàn vàng, lão đã biết những điều mà từ xưa tới nay chưa có người đàn bà nào cho hắn biết. Đối với lão bây giờ hai sào ruộng không nghĩa lý gì cả, hai mẫu lão cũng sẵn lòng bỏ ra ngay. Lão như lạc vào mê hồn trận.
Hôm đó về nhà lão cho quản gia tính toán sổ sách, gom hết tiền mặt lại, lão tuyên bố là lão sẽ buôn một chuyến hàng quan trọng, cấm ai hở môi. Lôi thôi, hở ra là đi tù ngay. Cho nên cả nhà chỉ biết tuân lời, không ai dám ho he một câu. Lão gom góp cả tủ trong tủ ngoài được hơn bốn trăm. Như thế này chưa theo đúng giao kèo. Lão cần có thêm ba trăm nữa. Lão lần ra chợ, bòn mót thêm một số vàng, đòi thêm một số nợ, mãi đến gần tối lão mới gom đủ bảy trăm. Ngay buổi tối lão mang sang cho chị Tửng, lão muốn chứng tỏ cho người tình biết rằng lão là người quân tử, lão giữ đúng lời hứa, lão không phải là đồ chắc lép. Lão đưa luôn cho chị một lần, chứ nếu mỗi tối đưa cho chị một trăm thì không khác gì kẻ mua người bán. Lão ôm chị nói một câu rất hùng hồn:
- Em cất tiền và quên nó đi. Chúng ta sống với nhau bằng tình chứ không vì cái gì khác hết.
Chị Tửng cảm động, cất tiền và chị cố gắng đánh lừa mình rằng chị đang sống bằng tình với người đàn ông này. Dù sao thì sự tự lừa dối ấy cũng chỉ kéo dài trong ít ngày nữa và tránh cho chị được cái mặc cảm phải bán thân cho một gã trọc phú. May ra chị cũng tìm được một chút thú vui. Liên tiếp trong bảy đêm, cả So không chịu nghỉ ngơi một đêm nào. Đến đêm thứ tám, giao kèo đã hết, chị Tửng khẽ thở dài làm ra vẻ lưu luyến:
- Rất tiếc là ngày mai em đã ra đi rồi. Chẳng biết đến bao giờ mới gặp lại anh. Có lẽ là không bao giờ.
Cả So rầu rĩ ra mặt, lão năn nỉ:
- Em có thể ở lại thêm ít ngày nữa không?
- Để làm gì?
Cả So nhìn ngắm người đàn bà mà lão đã tham lam quấn quít, hương lửa mặn nồng trong suốt bảy đêm qua. Lão không thể rời xa người tình này được, lão sẽ mất cô ta vĩnh viễn. Có một ngày nào đó cô ta sẽ lại rơi vào tay một gã đàn ông khác và cô ta lại sẵn sàng dâng hiến tất cả những gì cô đã cho lão. Một nỗi đau trong lòng lão nhói lên như vết dao chém. Có lẽ tất cả những ghen tuông của con người, dù là đàn ông hay đàn bà đều phát xuất từ một điểm chung này. Thế nhưng lão đâu có quyền gì ghen tuông. Lão chẳng là cái gì của cô ta cả. Lão chỉ còn bài năn nỉ:
- Anh xin em đấy. Em ở lại với anh bảy ngày nữa thôi, anh cũng sẽ lại đền bù cho em như trong bảy ngày vừa qua. Em có một số vốn nhiều hơn khi em đi xa.
- Em không cần nhiều tiền đến thế đâu. Có ở lại rồi cũng đến lúc phải chia tay thôi. Thà em đi sớm còn hơn. Em phải dứt khoát, cuộc đời son trẻ của em chẳng còn được bao lâu.
- Anh chỉ xin em bảy ngày nữa, có đáng là bao. Bao nhiêu năm nay em còn chịu được, em tiếc với anh vài ngày à?
Chị Tửng lùa tay vào mái tóc cứng như rễ tre của lão già đang gục trong lòng chị, chưa biết quyết định ra sao thì chị nghe tiếng lão nức nở khóc. Chị không thể nào ngờ được rằng lão có thể khóc. Chị trở nên mềm lòng:
- Thôi được, anh đã muốn thế thì em chiều anh. Nhưng chỉ một lần nữa thôi đấy nhé. Anh còn phải để cho em lo cho đời em nữa chứ.
Cả So ôm chầm lấy chị, hôn hít lung tung. Lão trở nên bé dại điên cuồng.
oOo
Chương 6
Người ra đi, kẻ ở lại. Không khí tưng bừng mới mẻ xen lẫn những lo lắng đợi chờ không biết cái gì sẽ đến với mình trong những ngày sắp tới. Đường phố đầy xe tăng và những người bộ đội tươi tỉnh nhưng cũng ngơ ngác nhìn những dẫy building, những cửa tiệm, những cái lạ hoắc của "tàn dư Mỹ Ngụy" để lại. Sau những ngày hoảng loạn, người dân thành phố cố gắng kéo lại cái nhịp sống bình thường nhưng không bình thường chút nào. Người ta biết chắc mọi chuyện sẽ phải đổi thay, có thể ngay hôm nay hay ngày mai sẽ có một qui định mới làm đảo lộn hết mọi cuộc đời. Song chẳng còn cách nào hơn là phải làm ra vẻ "phấn khởi" chào đón nó, chào đón một định mệnh bất ngờ.
Mộng Vân dắt chiếc Honda vào nhà, cô khóa cổng sắt lại cẩn thận. Kim Yến hé mắt nhìn qua khe cửa đóng hờ, khi nhận ra con gái chị mới yên tâm. Vừa vào đến nhà, Mộng Vân đã hậm hực nói với mẹ:
- Con vừa thấy thằng Phát ở đường Nguyễn Huệ, chẳng biết nó làm gì mà đeo cái băng đỏ, ngực đeo cờ giải phóng, đứng chỉ đường chỉ lối huyên thuyên.
Kim Yến lắc đầu:
- Lúc này không thiếu gì anh đón gió như thế.
- Con nghĩ nó là sinh viên tranh đấu, chắc nó theo cách mạng từ lâu mà mình không biết đấy thôi.
- Còn phải đợi xem sao cái đã. Hồi Cách Mạng Tháng Tám chẳng thiếu gì anh con nhà địa chủ cũng nhào ra làm cách mạng rồi cũng bị đi tù như thường.
Trong khi Mộng Vân thay quần áo, Kim Yến hỏi:
- Con có tin tức gì của thằng Sinh không?
- Không! May ra anh ấy đi thoát.
Kim Yến ngồi lặng, chị thầm nghĩ có thể Sinh đã bỏ xác ở một nơi nào đó rồi cũng nên. Chị nói lảng:
- Chắc giờ này dì Nhung của mày ung dung ở đảo Guam rồi.
- Nhà dì ấy mở cửa toang hoang, bị lấy sạch. Hình như có một cơ quan nào đến đóng ở đó. Con thấy có mấy anh bộ đội ra vào.
Mộng Vân trở ra trong bộ pyjama mỏng. Kim Yến bàn:
- Còn vụ vượt biên với cánh ở ngoài Phước Tĩnh thế nào?
- Họ đang chuẩn bị tàu, chỉ còn toàn loại tàu nhỏ thôi. Chủ tàu còn đang đòi thêm tiền mua xăng dầu, lương thực và tiền lót tay cho cánh dân phòng. Họ bảo con đóng thêm một triệu, nhưng con chưa đưa. Chỉ sợ nó lừa mình, lấy tiền rồi bỏ đi luôn hay kiếm cớ này cớ khác nói rằng không đi được hoặc xúi đám khác bắt mình là mình vừa mất tiền vừa phải lạy van họ.
Kim Yến lại thở dài, chị nói:
- Thôi thì hãy cứ đợi ít lâu xem có chỗ nào tin cẩn thì mình tính sau.
Hai mẹ con ngồi vào bàn ăn. Có một chị người làm, Kim Yến đã trả tiền sòng phẳng rồi cho chị về quê. Lúc này chị nấu cơm lấy, như thế vừa đỡ có vẻ tư sản vừa giữ được kín đáo mọi chuyện trong nhà. Không ai muốn ăn bất cứ thứ gì trong hoàn cảnh này. Tối đến, hai mẹ con chỉ mở máy truyền hình một vài phút rồi tắt. Mỗi người chui vào phòng riêng của mình.
Đến nửa đêm. Có tiếng chuông gọi cửa. Hai mẹ con cùng giật bắn người bò dậy. Kim Yến thấy nét lo lắng trên mặt con, chị phải bật đèn sáng choang ra mở cổng. Mộng Vân cũng đi theo mẹ. Cả hai cùng tin rằng đây là một cuộc khám xét chẳng lành. Kim Yến đứng sát vào cánh cổng dõng dạc lên tiếng:
- Ai đấy? Đang đêm...
Tiếng người từ bên ngoài vọng vào:
- Sinh đây má.
Mộng Vân reo lên:
- Trời ơi anh Sinh! Anh còn ở đây sao?
Cánh cổng hé mở. Sinh lách vào. Bộ quần áo nhàu nát, râu tóc bờm xờm, mặt mũi hốc hác, Sinh nhìn vợ. Mộng Vân ôm choàng lấy chồng như đón một người từ cõi chết trở lại. Ba người đưa nhau vào trong nhà. Mộng Vân nhìn bộ quần áo của chồng:
- Anh lấy đâu ra bộ này thế?
- Xin của một người đi đường. Đơn vị anh không có lệnh lạc gì hết. Bộ tư lệnh quân đoàn rút lui không kèn không trống, dân chúng xô nhau bỏ chạy. Anh đưa đơn vị ra chiến đấu, nhưng chỉ thấy dân, không còn biết chiến đấu với ai. Tiểu đoàn cho lệnh rút lui cấp tốc về miền duyên hải. Rút cái kiểu ấy thì chỉ còn cò nước chạy thục mạng thôi. Anh không còn đủ sức duy trì đơn vị nữa. Súng bắn tứ tung gây nên một cảnh hoảng loạn khủng khiếp. Người sống đè lên người bị thương tìm đường tẩu thoát. Có đôi lúc anh đã muốn kê khẩu súng vào đầu, anh không còn xứng đáng là một người chỉ huy nữa.
Mộng Vân ôm vai chồng:
- Nếu anh làm thế, em cũng chết theo anh thôi. Cả hai đứa con của chúng ta nữa.
- Chính vì vậy nên anh tìm đường về đây. Người ta bảo anh đi trình diện ở một cơ quan quân quản, anh đành đi theo. Anh hiểu thế nào là nỗi đau đớn của một người chiến bại. Không chết được, anh tự thấy là mình hèn. Không phải là anh sợ chết đâu, anh nghĩ đến em, đến các con. Nếu có chết thì chúng ta cùng chết.
Kim Yến xen vào:
- Con về tới đây là được rồi. Chúng ta sẽ phải tìm cách vượt biên. Con yên tâm, má sẽ lo cho các con. Gặp thời thế này, đành phải thế thôi.
Sinh lặng lẽ ngồi im. Anh như một cái xác không hồn. Mộng Vân hỏi chồng:
- Chắc anh đói lắm rồi, để anh kiếm cái gì cho anh ăn nhé?
- Anh chẳng còn biết no đói là gì nữa. Cho anh thăm con rồi anh đi tắm đã.
Đêm đó nằm bên vợ, Sinh hiểu rằng cái hạnh phúc này chẳng được bao lâu. Ân ái nào cũng như lần cuối cùng. Lúc nào Sinh cũng thấy rõ cái mặc cảm bại trận đè nặng lên tâm khảm, sự hèn hạ của một người lính bại trận làm con người anh như gục xuống. Anh không còn là anh nữa, thằng Sinh của những ngày tháng vẫy vùng đã chết rồi. Bây giờ anh chẳng còn hiểu mình là ai, là cái thứ gì trong cuộc sống này. Anh cũng chẳng thiết nghĩ đến chuyện vượt biên. Cái ý nghĩ thầm kín nhất trong đầu anh là có nên chết không? Nhưng khi thấy Mộng Vân ở bên, anh hiểu rằng mình đã thất bại thêm một lần nữa. Anh lắng nghe những lời sỉ nhục, đầu tiên anh còn thấy khó chịu, nhưng rồi anh lại mỉm cười một mình. Đêm đêm cả ba người xúm lại nghe đài phát thanh nước ngoài. Họ chẳng mang lại cho anh một điều gì tốt lành. Anh nghĩ đến những người bạn anh đã ra đi. Anh không thù oán họ, không ghen ghét họ, anh chỉ buồn cho mình. Nỗi mất mát quá lớn, anh chỉ còn có Mộng Vân và hai đứa con.
Hai vợ chồng đi phố, tất cả đều lạ hoắc. Mộng Vân biết chồng buồn, cô tìm đủ mọi cách để làm giảm bớt những đổi thay đang bày ra trước mắt. Sinh hiểu những cố gắng của vợ, anh cũng muốn cho Mộng Vân cái cảm giác rằng anh coi mọi chuyện là việc đã rồi, nhưng anh vụng về, không thể đóng trọn vai kịch này, anh lầm lì như đi trong đám tang. Gặp lại một số bạn bè cũ, họ nhìn nhau ngao ngán và mang một chút ích kỷ là "mày cũng kẹt lại" như tao, chúng ta cùng chung một số phận. Cũng chính vì vậy mà họ thấy mình đỡ trống trải hơn.
Vài hôm sau, Nhung bỗng khăn gói trở lại. Kim Yến kêu lên:
- Tao tưởng mày tới thiên đàng rồi chớ?
Nhung Bờ Hồ vận một chiếc áo bà ba đen, trông chị giống hệt như một cô gái ở nhà quê lên tỉnh. Cô than thở:
- Tàu của tao bị chìm, tao tưởng làm mồi cho hà bá rồi chớ. May gặp được cái tàu buôn vớt lên. Mười phần chết bảy còn ba. Leo lên được tàu rồi, tưởng phen này thoát nạn, nhưng vô phúc lại gặp cái tàu của Liên Xô, thế là các "đồng chí Liên Xô vĩ đại" lại đưa trả về cho Việt Nam. Tao nằm ấp cả nửa tháng, khai báo lung tung. Giấy tờ mất hết nên tao khai tên láo Nguyễn thị Tèo, bán xôi ở chợ Tân Định. Thế là ho cho về. Tao đòi một cái giấy chứng nhận đàng hoàng mới chịu ra khỏi trại. Đói thấy mồ, mẹ con mày có cái gì cho tao ăn không? Mới không được ăn thịt có mười lăm ngày mà đã thèm rồi.
Mộng Vân cười tít:
- Cháu vào xóm mua cho dì một con gà.
- Tao ăn một mình đấy, cấm tụi mày ăn ké.
Câu chuyện thời sự lại nổ như pháo tết. Bản tình Nhung Bờ Hồ vốn hồn nhiên vô tư như thế. Kim Yến lấy quần áo cho Nhung thay rồi nói:
- Nhà mày tan tành xíu oách rồi, lúc này có cơ quan nào đóng ở đấy. Mày đến đây ở với chúng tao, hoạn nạn có nhau.
Nhung gật ngay:
- Em có trở về nhà rồi, mấy anh bộ đội không cho vào. Họ nói là nhà này do ủy Ban Quân Quản của Thành phố quản lý, đã phân chia cho đơn vị đặc công, đừng có lơ mơ mò vào là bị bắt ngay. Em chuồn lẹ đến đây, chỉ lo mẹ con chị đi rồi là em bơ vơ. May quá, tất cả còn ở lại đầy đủ.
- Phải nói là vô phúc còn đầy đủ ở đây mới đúng.
Nhung Bờ Hồ lại cất tiếng cười ngất:
- Chị này nói giọng phản động đấy nhé. Phải nói là ở lại để được hưởng độc lập tự do hạnh phúc mới đúng chứ.
- Con bé này mới học tập được mười lăm ngày mà đã ra vẻ con người tiến bộ rồi. Như thế thì phải cho mày học tập mười lăm năm, chắc mày tiến bộ không ai theo kịp. Tiến bộ cái kiểu đó thì lên đến mặt trăng ở một mình mất thôi.
Nhung Bờ Hồ giơ tay:
- Bà chị cứ yên tâm đi, con Nhung này thời nào cũng sống được. Vài năm nữa bà chị sẽ thấy, em qua mặt thiên hạ cái vù.
Kim Yến lắc đầu:
- Thời buổi nào thì cô nói thế được chứ thời này cô không thể tin vào cái tài khôn lanh vặt của cô được đâu.
- Thời nào cũng thế thôi. Đàn ông vẫn cứ thích đàn bà và đàn bà khôn ngoan vẫn có thể xỏ mũi đàn ông dắt đi chơi như dắt con nít vậy.
Có Nhung trở về, căn nhà của mẹ con Kim Yến bớt buồn tẻ, cô mang lại một không khí dễ chịu hơn. Cô an ủi Sinh:
- Thắng bại là lẽ thường của người lính, cháu chẳng việc gì mà chán đời. Một người đàn ông phải biết thắng trong mọi hoàn cảnh.
Sinh vẫn im lặng. Cả nhà, kể cả Mộng Vân không ai biết Sinh dự tính gì. Họ vẫn lo sợ rằng Sinh có thể làm liều, kết liễu cuộc đời mình một cách lặng lẽ. Có lẽ chính Sinh cũng nghĩ vậy. Nhưng rồi cái bản năng sinh tồn mà anh cho là hèn hạ cứ cầm chân anh lại. Anh không còn hiểu nổi mình nữa.
Vài hôm sau, Phát lại lò dò lần đến nhà Kim Yến. Anh ta vẫn nhơn nhơn đeo cái băng đỏ và lá cờ giải phóng trên ngực. Nhung Bờ Hồ vừa nhìn thấy Phát, cô nói móc ngay:
- Chào nhà cách mạng! Anh không định đến khám nhà hay bắt chúng tôi đấy chứ?
Phát ngồi xuống salon:
- Tôi nghe Nhung còn ở lại nên tôi đến thăm.
- Tôi không ở lại mà bị bắt ở lại.
- Thì cũng thế thôi.
- Khác nhau nhiều chứ. Chúng tôi bây giờ như dân ngụ cư, còn các anh như những ông chủ mới của thành phố.
Phát cười nhạt:
- Tôi cũng chưa biết số phận của tôi ra sao, làm sao cô biết được? Những thứ tôi mang trên người chẳng qua là để che mắt thiên hạ thôi. Chúng tôi là học sinh tranh đấu chống lại nạn thối nát của chế độ cũ làm cho xã hội tốt đẹp hơn chứ có phải là dân cách mạng thực thụ đâu.
- Nhưng anh vẫn có thể lấy nó làm cái chiêu bài đi theo cách mạng, anh vẵn dễ sống hơn chúng tôi.
- Cô nói vậy thì đúng, song cái chiêu bài khác mà người cách mạng thực sự khác. Gia đình tôi cũng kéo nhau đi hết rồi, tôi hiện đang sống với một ông chú. Tôi cũng đang muốn ra đi.
Nhung tròn mắt:
- Ngực đeo cờ giải phóng mà tính chuyện vượt biên sao? Anh có gài chúng tôi không đấy? Chúng tôi quyết định ở lại sống với độc lập tự do...
- Thôi tôi xin cô, tôi nói thật lòng đấy. Ở lại đây thì tôi không sợ bị đi tù nhưng tôi sợ đói, bố mẹ anh em tôi đi hết rồi, tôi sống với ông chú nghèo rớt mồng tơi. Vả lại tương lai tôi sẽ ra sao. Mấy năm đại học rồi bỏ dở dang à?
- Anh sẽ đi theo cách mạng, cách mạng sẽ nuôi anh, anh sẽ là một nhà trí thức của chế độ mới. Họ không bỏ rơi anh đâu.
- Cô vẫn không tin tôi.
- Bố ai mà tin nổi những người như anh. Quay tít thò lò như chong chóng.
- Tôi phải làm thế nào cô mới tin?
Nhung nhìn Phát cười cợt:
- Chẳng có cách nào cả. Khi người ta đã không tin được nhau thì làm cách nào cũng bằng thừa. Vả lại, anh cần gì phải làm cho chúng tôi tin anh. Nếu anh muốn vượt biên thì anh kiếm lầm địa chỉ rồi, tôi không có ý định đó.
Phát thở dài:
- Lúc này người ta dễ dàng nghi ngờ nhau quá. Bạn bè, hàng xóm láng giềng, anh em họ hàng, chẳng còn ai giám tin ai nữa cả. Niềm tin vào con người suy sụp nhanh thật.
- Chẳng phải lỗi tại con người đâu.
Suy nghĩ một chút, Phát hạ giọng:
- Thật ra tôi muốn đi với cô, sang bên đó chúng ta cùng có một cuộc đời mới. Gia đình tôi đi theo chuyến tàu của Việt Nam Thương Tín, mang theo được tất cả gia sản, dư sức sống sung túc.
- Đó là chuyện của anh, không liên quan gì đến tôi cả. Nhưng tại sao anh không đi cùng gia đình anh?
- Hôm đó tôi đi chơi về đến nhà thì mọi người đã ra tàu rồi. Tôi chạy theo, tàu đã đi mất.
Phát đứng lên, trước khi bước ra cửa, anh còn nói:
- Rồi cô sẽ hiểu tôi. Nhưng nếu có một chuyến vượt biên nào chắc chắn, cô làm ơn báo giùm cho tôi. Cần đóng góp bao nhiêu cũng được.
Nhung không tiễn Phát. Cô chỉ gật đầu lấy lệ rồi quay vào. Cô trở nên phân vân, không hiểu gã con trai này đóng kịch hay là hắn muốn đi thật.
Một bà già tóc bạc, xách một chiếc túi vải đứng thập thò ngoài cổng nhà Kim Yến. Bà không biết chỗ bấm chuông, cứ ngơ ngẩn nhìn cánh cổng sắt. Một người đi qua đường dừng lại hỏi bà cụ:
- Cụ muốn hỏi thăm nhà này sao?
- Vâng, nhà cháu ở ngoài Bắc vào đây, tìm nhà người quen.
Người đàn ông giơ tay bấm chuông giùm bà cụ rồi nói:
- Cụ đứng đợi một chút, chắc sẽ có người ra mở cổng.
Người đàn ông bỏ đi. Bà cụ vừa đứng chờ vừa ngắm nhìn những cây bông giấy leo tràn trên khung sắt, ngắm căn lầu sang trọng. Một lát sau có người nhìn qua khe cổng, tiếng nói vọng ra:
- Bà hỏi ai?
- Tôi hỏi thăm nhà chị Tửng.
Người đứng trong khựng ra. Kim Yến nheo mắt nhìn người đàn bà có nét mặt quen quen. Bà cụ nói vọng vào:
- Tôi là bà Đội đây.
Cánh cửa vụt mở toang, Kim Yến chạy ra ôm hai vai bà Đội:
- Trời ơi, bà Đội đây sao? Bà già quá rồi. Gặp được bà cháu mừng quá. Cháu cứ tưởng chẳng cò bao giờ gặp được bà nữa. Bào vào đây.
Kim Yến kéo bà già vào trong nhà. Chị săn văn hỏi tiếp:
- Bà lặn lội từ ngoài Bắc vào trong này sao?
- Ấy tôi phải đi theo xe của thằng Thắng mới vào được đấy. Đã có ai ở ngoài đó được vào thăm bà con ở trong này đâu.
- Sao bà biết nhà cháu mà tìm?
- Cũng nhờ thằng Thắng chỉ đường.
- Thắng là ai vậy?
Bà Đội dương cặp mắt kèm nhèm lên nhìn Kim Yến rồi nhe hàm răng chỉ còn trơ lợi ra cười:
- Nó là đứa con trai của chị, ngày xưa tôi phải gửi cho đứa cháu làm huyện ủy nuôi đấy. Bây giờ nó làm to lắm rồi. Bố nuôi nó làm ở Bộ Nội Vụ, nó giữ chức gì mà vào cải tạo xã hội ở miền Nam này đấy. Nó đi về hai ba lần rồi. Mãi đến lần này nó mới cho tôi đi theo.
Kim Yến cảm thấy choáng váng. Ngay từ những ngày đầu giải phóng, chị đã nghĩ đến đứa con trai này. Nó là đứa con của chị và cả So. Đứa con của "tai nạn" mà chị không muốn, nhưng đã sinh ra nó, chị vẫn nhớ thương nó từng ngày. Đó là thứ tình mẫu tử không thể nào giải thích được. Chị có thể quên lão cả So, nhưng không thể nào quên nó. Chị nhớ rằng chị không đặt tên nó là Thắng mà tên nó là thằng Song, chị muốn giữ lại một chút kỷ niệm với thằng bố nó. Có lẽ sau này nó về ở với bố nuôi, bố làm huyện ủy, thường hay đặt cho con trai con gái những cái tên như những khẩu hiệu của con nhà cách mạng như Nguyễn Quyết Chiến, Trần Quyết Thắng, Lê Thành Công... đó cũng là chuyện thường tình. Kim Yến hồi hộp hỏi tiếp:
- Vậy bây giờ nó đâu?
- Nó bận lu bu cả trăm thứ chuyện, nhưng chị yên tâm, nó sẽ đến thăm chị. Nó chưa quên chị mới chính là mẹ nó đâu. Tôi cũng thường nhắc nó.
Kim Yến xúc động cầm tay bà cụ:
- Dù sao thì gia đình cháu cũng nhờ cụ cưu mang, cả hai đứa con mới còn nguyên vẹn như ngày hôm nay, cháu không dám quên ơn cụ.
- Ối dào! Ơn với nghĩa gì! Có chúng nó vợ chồng tôi cũng vui vẻ, ấm cúng thêm. Chỉ tiếc rằng tôi không nuôi nổi cả hai đứa con chị, làm mỗi đứa phải sống một nơi. Từ ngày chị đón con Vân đi, tôi sống thui thủi một mình. May có họ hàng nội ngoại giúp đỡ mới sống nổi tới ngày nay. Thời chiến tranh mà, người này phải sống dựa vào người khác. Lần này tôi vào trong này cũng là để thăm bà con anh em, nhất là chị, tôi vẫn coi như con cháu trong nhà. Tôi cũng muốn mang thằng con trai chị vào, giao cho chị đến nơi đến chốn.
- Còn anh hai Toản thế nào?
- Nó bị giam ở trại Lý Bá Sơ rồi bỏ xác ở đó. Vợ chồng tôi không được chứng kiến, chỉ nghe bạn bè nó nói lại thôi. Mồ mả ở đâu cũng chịu, không tìm ra được. Tội nghiệp cho nó, Tây cũng muốn giết mà mấy ông cách mạng cũng cũng muốn giết. Nó sống với ai đây? Tôi biết là cô đã cứu nó...
Bà Đội chấm nước mắt, sụt sùi. Kim Yến an ủi:
- Con người ta có số cả, biết đâu không bị chết ở trại Lý Bá Sơ thì cũng chết vì bom đạn. Thôi, cụ đã tìm vào được đến đây thì cứ coi nhà này như nhà cụ. Chúng cháu cũng như con cái cụ.
Bà Đội ở nhà Kim Yến vài ngày vẫn chưa thấy Thắng đến thăm. Hai lần cụ gọi điện thoại đến cơ quan thì người ta đều trả lời là thủ trưởng bận họp. Lần sau cụ đã có vẻ bực tức, tiếng cụ hách dịch:
- Kêu anh thủ trưởng của các anh ra đây nói chuyện với tôi.
Đầu giây bên kia người thư ký trả lời:
- Bà "nà" ai?
- Tôi là bà nội thủ trưởng của các anh.
- Ơ! Cái nhà bà "lày" ăn "lói nạ nùng" đấy nhỉ.
- Tôi nói thật đấy, anh cứ kêu cái thằng Thắng ra đây cho tôi.
- Đã bảo "nà" thủ trưởng bận họp mà. Bà có muốn "lói" kí gì thì "lói" với tôi.
Bà Đội nói như hét vào máy:
- Anh bảo nó là tại sao chưa đến thăm mẹ nó. Nếu ngày mai nó không đến thì bà nội nó về Bắc đấy.
Rồi bà cúp máy, vẻ mặt hầm hầm.
Sáng hôm sau, bà Đội nhất định đội nón đòi đi thăm một người bà con ở vùng Ngã ba Ông Tạ. Mộng Vân lấy xe đưa bà đi. Cô cũng gọi bà Đội là bà nội cho thân tình. Mà quả thật, Vân thấy ở người đàn bà quê mùa chân chất này có một cái gì gần gụi với cô. Những ngày thơ ấu của Vân loáng thoáng ẩn hiện trong ký ức khiến cô ngậm ngùi. Tuy hồi đó còn nghèo, cô phải đi kiếm củi về giúp bà đun nấu, giặt giũ quần áo nhưng cô vẫn thấy một tình nghĩa ấm áp. Cô mong có được một bà nội thật như thế. Cô không muốn rời xa bà nữa. Bỏ bà xuống trước cửa nhà người bà con cô còn căn dặn:
- Khi nào bà muốn về, bà cứ gọi điện thoại cho cháu xuống đón bà nha. Con nhớ bà nội lắm đấy. Bà chơi một hai hôm là phải về đấy.
Bà Đội xoa đầu Vân như hồi cô còn nhỏ, bà chỉ gật không nói gì, nhưng con mắt yếu đuối của bà nói rất nhiều. Mộng Vân lên xe ra về mà lòng lâng lâng. Cô lại bỗng ước ao mình được sống lại những ngày xưa cũ. Những đổi thay của cuộc sống đã khiến cô lo sợ chán ngán cho cái tuổi lớn khôn rồi. Dường như mỗi tuổi khôn lớn là một thiệt thòi, là một mất mát những gì trong sáng hồn nhiên nhất của một đời người.
Vài hôm sau, một chiếc xe du lịch dừng lại trước cửa nhà Kim Yến, hai người lính ôm súng AK bước xuống. Chiếc xe bóng lộn mới toanh, đúng là xe của những người di tản bỏ lại. Một người tầm thước, vận quần ka ki xanh, sơ mi trắng, chân lê đôi dép râu chễm chệ đi vào, tỏ rõ phong cách của một người chỉ huy. Ông ta đứng nhìn căn nhà còn nguyên vẻ bề thế rồi lừng lững bước qua cánh cổng sắt vừa được người lính mở rộng. Kim Yến và Nhung Bờ Hồ đang ngồi ăn hai tô bún ốc, vội vàng đứng lên. Kim Yến đã có thể đoán ra ngay người đàn ông này là ai. Chị nhìn sững và hồi hộp. Thằng con trai chị vẫn có những nét phục phịch của cả Song, nhất là đôi mắt với cặp lông mày chổi sể và chiếc mũi to thì không khác bố nó tí nào. Chị trở nên lúng túng hồi hộp. Đứa con mà đã hơn hai mươi năm chị mới gặp lại. Chị muốn ôm chầm lấy nó mà hét lên "Con trai yêu quí của mẹ". Nhưng để cho chắc ăn chị im lặng đợi người con trai lên tiếng trước. Nhung Bờ Hồ sốt ruột hỏi ngay:
- Ông là ai? Có chuyện gì không?
Người đàn ông chợt có nụ cười nửa miệng:
- Chính tôi đang muốn hỏi cô mới đúng. Nhưng nói vậy thôi, tôi biết cô là cô Nhung mà người ta quen gọi là Nhung Bờ Hồ phải không?
Nhung trợn mắt:
- Sao ông biết?
- Cái gì mà tôi không biết. Trước khi đến đây tôi đã cho điều nghiên rất kỹ. Cô còn một người chồng Mỹ, tên anh ta là "Bờ Rao", đúng chưa?
Nhung càng run hơn. Tuy vậy bản chất cô vốn cứng cỏi nên cô gật đầu:
- Đúng thế. Anh thích bắt tôi thì cứ bắt đi. Lôi thôi làm gì.
- Nếu bắt cô thì tôi đã bắt rồi. Cái này còn tùy thuộc vào chủ trương đường lối của nhà nước. Chuyện đó tính sau.
Kim Yến xen vào:
- Anh là Thắng phải không?
Gã con trai không trả lời mà lại hỏi một câu khác:
- Bà là chị Tửng, trước kia ở làng Yên Xá. Bây giờ bà đổi tên là Kim Yến, đúng thế không?
- Đúng. Nhất định anh là Thắng rồi. Bà Đội mới ở đây hôm qua, bà đã cho tôi biết hết về anh.
Gã con trai ung dung ngồi xuống chiếc ghế bành gần đó:
- Bà nội tôi có nói tôi là con của bà không?
- Dĩ nhiên là có. Chúng tôi vẫn mong anh.
Đôi mắt sắc sảo sau cặp lông mày rậm của gã con trai nhìn quanh căn nhà một lượt rồi gật gù khen:
- Nhà đẹp nhỉ, cái gì cũng có. Đúng là nhà một người tư sản. Chắc trước đây nó còn đẹp nữa, mấy hôm nay bà đã cho thu dọn đi nhiều rồi phải không? Nhưng cái mẽ tư sản vẫn còn đầy rẫy, không che giấu vào đâu được.
Kim Yến và Nhung Bờ Hồ nhìn nhau yên lặng. Gã con trai lại đứng lên, móc bao thuốc lá ra hút, nhưng là thuốc "có cán" hiệu Dunhill đàng hoàng. Thả một hơi khói lên không, hắn nói:
- Rồi bà cũng chẳng ở mãi căn nhà này được.
Nhung Bờ Hồ sẵng giọng:
- Nhà của chúng tôi, tại sao không ở được?
- Ở đây rồi các bà làm cái gì? Buôn gian bán lận thì không được rồi, các bà có nghề ngỗng gì đâu. Sau này sẽ có hợp tác xã lo hết, các cửa hàng kinh doanh đều thuộc về nhà nước, không thể cho bọn trung gian hoành hành, đó là bọn phi sản xuất. Nhà nước sẽ có chủ trương rõ rệt, lo cho đời sống nhân dân công bằng hơn. Nói ra thì dài lắm, tôi không thể nói hết một lần ở đây. Rồi mọi người sẽ được học tập, được sinh hoạt chính trị, sẽ hiểu rõ hơn. Tôi chỉ có thể tóm tắt là tất cả những người không có nghề nghiệp gì, không trực tiếp tham gia sản xuất sẽ phải đi vùng kinh tế mới.
Kim Yến cũng đã nghe loáng thoáng về chuyện này, chị đang lo sợ. Bây giờ nghe Thắng nói vậy mặt chị hơi tái đi. Chị hỏi:
- Theo anh thì chúng tôi phải đi về vùng nào?
- Các bà cứ yên tâm, ai đi đâu về đâu đã có ủy ban nhân dân quận huyện lo hết cả rồi. Người ta không để các bà các cô chết đói như bọn ngụy quyền cũ sống chết mặc bay đâu mà lo. Cách mạng sẽ giúp đỡ chu đáo. Từ cái chiếu đến căn nhà và mảnh đất đều được phân chia đồng đều. Ai cũng sống được và mọi người sẽ được đối xử bình đẳng. Như chúng tôi ở miền Bắc bao nhiêu năm nay, đời sống vẫn tốt đẹp và còn đánh thắng giặc Mỹ xâm lược nữa.
Nhung Bờ Hồ vẫn lì lợm:
- Chúng tôi không đi đâu hết, nhà tôi thì tôi ở, tôi không quen đi cày.
- Rồi chị sẽ quen thôi. Chị không thể là tiểu thư ăn trắng mặc trơn mãi trong khi bao nhiêu người phải nai lưng ra lao động. Như thế là bất công.
Thắng ngừng lại, anh nhìn chiếc cầu thang ốp đá hoa cương lối dẫn lên trên lầu. Anh xốc lại khẩu súng ngang lưng rồi bước tới:
- Tôi muốn lên trên gác và nói chuyện riêng với bà Kim Yến.
Hắn đi thẳng lên cầu thang, Kim Yến nháy mắt cho Nhung rồi đi theo. Căn lầu vắng lặng, chiếc máy lạnh đã được tháo ra để trơ một mảng tường trống hốc như một cái miệng há ra chờ đợi một cái gì đó. Kim Yến mở cánh cửa sổ, ánh nắng tràn vào vẽ một vệt dài trên sàn gạch bông. Thắng ngắm nhìn cái tủ gỗ còn đầy những ly tách thủy tinh trắng phau và một vài món đồ cổ, một vài chậu cây Bon - sai để trên mặt tủ. Anh nói:
- Nhà đẹp thật.
Kim Yến nhỏ nhẹ:
- Nhà của má cũng là nhà của con. Tất cả những gì má có, con có thể sử dụng như của mình.
Thắng nhìn Kim Yến, anh thấp giọng:
- Con rất mong được gặp má. Không phải vì những thứ này đâu, dù má có là dân lao động đi bán xôi ngoài chợ, con cũng mong gặp má. Bà Đội đã nói rất nhiều về má.
Kim Yến bàng hoàng trước sự thay đổi của Thắng. Chị tiến lại cầm tay con trai, nước mắt chị bỗng chảy dài. Thắng ôm nhẹ lấy đôi vai mẹ:
- Má đừng nghĩ là con không còn tình cảm. Người cách mạng cũng vần có tình cảm như mọi người. Con theo bố mẹ nuôi con lâu năm, họ chỉ có một mình con và nuôi dạy con tử tế thành người. Họ giúp đỡ con mọi thứ để con có địa vị như ngày nay. Nhưng ngay từ những ngày còn bé, con đã biết rất rõ con không phải là con đẻ của họ. Con còn nhớ mang máng khuôn mặt của má và con thường nghĩ đến má. Bà Đội vẫn thường cho con biết tin tức của má. Con biết má đã di cư vào Nam. Thống nhất rồi, con nhận nhiệm vụ vào cải tạo xã hội chủ nghĩa ở trong này và con chỉ có mục đích lớn là gặp được má. Con chỉ lo má đi nước ngoài như những người khác thì chẳng biết bao giờ má con mình mới gặp lại được nhau. Má hiểu cho con. Trước mặt những người khác con phải giữ gìn. Nhất là trước mặt cô Nhung.
- Má hiểu. Con đừng buồn, cô Nhung tuy có hơi ngang ngạnh nhưng rất tốt bụng. Nó từng chia vui xẻ buồn với má nhiều năm rồi.
- Cô Nhung Bờ Hồ phải cái tội hay vạ miệng. Ở cái thời này không nên ăn nói bừa bãi kẻo mang họa, má nên bảo cô ấy.
- Nó liều rồi nên chẳng cần gì nữa.
- Chẳng có lợi gì đâu. Nhưng... có một điều cô ấy nói đúng.
Thắng ôm vai mẹ đi tới cánh cửa nhìn ra ban công, anh tiếp:
- Nếu má không muốn đi vùng kinh tế mới, má muốn giữ lại ngôi nhà này, má chỉ còn một cách là cứ lì ra, người ta có thúc giục hay có làm gì đi nữa thì má cũng cứ khất lần, cứ tìm mọi cách trụ lại, không đi đâu hết. Rồi họ cũng phải chịu. Nhưng má nên cố gắng kiếm một cái nghề gì đó gọi là trực tiếp sản xuất như làm hàng tiêu dùng, lập một cái liên doanh đan lát hay chuyên chở hàng rau quả từ ngoại ô vào thành phố cung cấp cho bà con trong phường khóm. Về điều này con có thể gián tiếp giúp cho má được. Chỉ cần nói với anh chủ tịch phường một tiếng là xong.
- Con vào đây không có nhà cửa, hay là con dọn về đây ở chung với má?
Thắng mỉm cười:
- Con ở đâu chẳng được, thiếu gì nhà. Ủy ban quân quản thành phố sẽ phân cho con một ngôi nhà riêng. Con có thể lấy một cái biệt thự đẹp hơn thế này, tùy con chọn. Nhưng cũng không phải vì thế mà con không dọn về đây ở với má đâu.
- Vậy thì vì lý do gì má con mình không thể sống với nhau? Chẳng lẽ người ta không cho má con đoàn tụ với nhau sao?
- Không phải thế. Việc này là hoàn toàn do con quyết định thôi. Hiện nay con là con của một ông Tổng cục trưởng, mẹ con là một bà giám đốc ở một cơ qua trung ương. Mẹ nuôi con chết trong kháng chiến rồi, cơ quan bà bị máy bay Mỹ ném bom, bà đã hy sinh và con đã trở thành con của một liệt sĩ được mọi người kính trọng. Lý lịch rất trong sạch vì vậy con mới được giữ chức trưởng đoàn. Con không thể khai lại lý lịch, con không thể khai con là con của một người như má. Lại còn có một người chị có một anh chồng là sĩ quan ngụy. Con sẽ mất chức ngay, bị khai trừ bất cứ lúc nào. Mẹ hiểu chứ?
Kim Yến hiểu, nhưng cô cảm thấy như bị sỉ nhục. Song mọi chuyện rõ ràng là như vậy. Thắng chỉ có một con đường để lựa chọn. Chị cúi đầu, tiếng chị lạc đi trong nỗi đau:
- Những gì má đã làm trong cuộc đời má không phải là do má muốn làm mà là vì hoàn cảnh bắt buộc thôi. Người đàn bà lưu lạc trong chiến tranh có thể phải làm tất cả những gì mình không muốn. Định mệnh đưa má tới đâu thì má tới đó. Nhưng có một điều duy nhất đúng là bao giờ và ở đâu thì má cũng chỉ còn các con, chỉ lo cho các con. Má không nghĩ gì riêng cho hạnh phúc riêng của má cả. Nếu hoàn cảnh bắt má phải hy sinh hết thẩy để được ôm các con của má vào lòng, má cũng sẵn sàng. Vì đi tìm các con, má đã buông trôi hết cơ nghiệp ở Hà Nội. Nhưng rất tiếc là má chỉ tìm lại được có một mình chị Vân con thôi. Má không tài nào dò ra tung tích của con. Má đành vào đây với hai bàn tay trắng.
Thắng gật đầu:
- Chuyện đó thì con biết. Sau khi má vào Nam được vài năm, con gặp lại bà Đội ở Hải Phòng, bà Đội đã kể lại cho con biết về chuyện này. Vì thế nên con càng nhớ má và chị Vân nhiều hơn. Con còn nhớ đến cả những ngày chị Vân cho con từng miếng bánh, sao mà miếng bánh hồi đó ngon thế. Tuy còn rất bé, nhưng đến nay dường như con vẫn còn cảm nhận được mùi thơm ngon của nó.
Thắng ngừng lại, xem đồng hồ tay rồi nói tiếp:
- Má thấy đấy, con cũng có những việc phải làm ngoài ý muốn của con. Bao giờ trong lòng con, má vẫn là má, nhưng con không thể công khai nhận má được. Không những thế, con còn phải đối xử với má... như một người không quen, như một người cần phải cảnh giác.
Kim Yến nức nở khóc. Thắng ôm lấy mẹ, nín lặng trong vài giây. Anh cố ngăn chặn tình cảm như anh đã từng phải ngăn chặn nó trong nhiều trường hợp. Anh vỗ nhẹ lên lưng người mẹ đã bao lâu nay tự trong đáy sâu tâm khảm anh vẫn hằng ôm ấp hình ảnh mơ hồ này. Giọng anh trầm xuống:
- Má cứ khóc đi, con hiểu và mong được thấy mẹ khóc trên vai con như thế này. Nhưng má con mình sẽ cò nhiều cơ hội để gặp lại nhau. Con phải đi đây, con ra phi trường đón một phái đoàn vào công tác.
Rồi anh dứt khoát rời vai mẹ:
- Còn đi đây, má ạ. Má cố giữ gìn sức khỏe, có chuyện gì cần má cứ điện thoại cho con, con không trực tiếp giúp má thì cũng sẽ có người khác giúp má. Đừng lo, còn có con ở đây thì không ai ăn hiếp được má đâu. Nhưng điều này tuyệt đối má không đẻ cho cô Nhung biết được và ngay cả chị Vân cùng ông chồng thuộc loại ngụy quân của chị ấy.
Thắng cầm tay mẹ cùng đi đến cầu thang mới chịu rời. Hai người bước xuống cầu thang. Thắng lấy lại ngay cái vẻ nghiêm trang lạnh lùng của mình. Lúc này căn phòng dưới nhà lại có thêm Mộng Vân và Sinh vừa về tới. Hình như họ đã có đủ thì giờ nói chuyện với nhau về thằng con trai làm cách mạng bạc tình bạc nghĩa như Thắng nên Vân chỉ nhìn đăm đăm thằng em trai mà ngày xưa cô đã từng săn sóc nó từng ly từng tí, nhường nhịn và yêu thương nó hơn cả bản thân mình. Thắng hiểu cái nhìn đầy vẻ dò la ấy, anh nhếch môi cười lên tiếng trước như khiêu khích:
- Có phải đây là bà chị Vân của tôi không?
Vân gật đầu, nhưng tiếng cô còn ngần ngại:
- À vâng, chào em. Em khỏe chứ?
- Khỏe, tất nhiên rồi. Không khỏe thì làm sao mà có sức lực từ miền Bắc vào đây đánh thắng giặc Mỹ chứ. Nói là đánh thắng Mỹ chứ thật ra quân Mỹ đã cút khỏi miền Nam từ lâu rồi.
Sinh hiểu câu nói xỏ xiên đó, anh giận tím mặt. Nhưng đã không được chiến đấu ngoài mặt trận, chỉ có lệnh rút và rút khẩn cấp, anh chưa thỏa lòng. Và khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng anh không giám tự tử thì đối mặt với những lời xỏ xiên này, anh cũng đành nín thinh cho yên chuyện.
Thắng lại quay sang nhìn Sinh:
- Còn đây chắc là ông anh rể sĩ quan chế độ cũ của tôi? Không sao đâu, nhà nước sẽ có chủ trương đàng hoàng đối với các anh. Một hai hôm nữa các anh sẽ được cho đi học tập một thời gian. Học tập tốt thì sẽ được trở về lao động như mọi người khác. Anh cố gắng đi. Đừng kiếm đường vượt biên nữa. Tôi biết các người đang kiếm tàu ra khơi. Tôi thành thật cho các người biết rằng chẳng có gì che mắt được chúng tôi cả. Hừ, vượt biên! Đâu có dễ dàng thế. Bị bắt hàng đàn hàng đống đến nỗi chúng tôi được báo cáo là thiếu cả chỗ giam. Lại thêm một cái tội nữa thì ở tù không có ngày ra đâu. Tiền mất tật mang, bỏ cái ý định điên rồ đó đi. Đó là lời thành thật nhất tôi khuyên các người đấy.
Nói xong Thắng bỏ đi ra ngoài cửa. Mấy người lính lục đục lên xe. Chiếc xe rồ máy vèo đi bỏ lại một làn bụi trắng.
Nhung Bờ Hồ lại hậm hực lên tiếng, chị trút cơn bực bội lên đầu Kim Yến:
- Chị có thằng con làm quan to quá nhỉ. Nó coi mẹ nó và chị nó như Tây đen. Hết thuốc chữa rồi.
Kim Yến chỉ cười:
- Nó cũng không muốn thế đâu.
Mộng Vân xen vào:
- Nó muốn con phải quỳ xuống lạy nó mới được nhận là chị em hay sao đây? Má coi nó đối xử với vợ chồng con như thế đấy. Biết có ngày hôm nay thì thà là con để nó chết phứt trong xó rừng đi cho rồi. Nó ốm, con phải nhịn cơm cho nó ăn, má có biết không?
Nhung Bờ Hồ còn nói thêm:
- Nhưng nhà này chưa cần nhờ vả gì tới nó mà. Nó có giỏi thì cứ đem công an đến bắt cả nhà này đi. Tao có làm gì đâu mà nó bắt tao được. Tao thề là dù có bất cứ chuyện gì khốn nạn nhất xảy đến, tao cũng không thèm nhờ vả thằng trời đánh này.
Mộng Vân than thở:
- Hơn hai chục năm đã làm nên hai thế hệ, hai lớp người trong này và ngoài kia khác nhau nhiều quá, đến nỗi không còn nhận ra nhau nữa.
Kim Yến lắc đầu:
- Má nghĩ không đến nỗi vậy đâu. Con người vẫn là con người, chẳng qua là cài bề ngoài thế thôi. Không phải tại họ. Tại một cái gì khác...
Nhung Bờ Hồ hất đầu:
- Tại cái quỷ gì? Không tại nó thì tại ai?
- Cô chưa suy nghĩ kỹ đấy thôi.
- Còn phải suy nghĩ nữa à? Những gì nó nói trước mặt chị và con Vân không đủ sao?
- Bây giờ người ta nói khác, nghĩ khác và làm cũng khác luôn. Nó sẽ trở thành thứ chuyện bình thường như cơm ăn nước uống hàng ngày. Tôi cũng đã sống qua một thời gian như thế. Tôi cam đoan nó không đụng chạm gì tới cô đâu.
Nhung Bờ Hồ im lặng một chút rồi mỉa mai:
- Nó vừa rỉ tai với chị cái gì ở trên lầu hả? Mây thằng đó giỏi võ tuyên truyền lắm đây, chị coi chừng. Nó nói ngon nói ngọt rồi cái gì chị cũng khai ra tuốt luốt hết, lúc đó nó mới có cớ hành chị đến nơi đến chốn, chị chẳng còn chối cãi vào đâu được. Nếu không thì tại sao nó biết tụi này đang tìm thuyền vượt biên?
Kim Yến vẫn cười:
- Chị không ngu như em tưởng đâu. Cái gì nó nói thật chị biết, nó nói láo chị biết chứ. Nó không hề nói gì đến cái chuyện vượt biên của em và vợ chồng cháu Mộng Vân cả. Chắc chắn là nó có báo cáo đầy đủ, có gì khó khăn đâu. Cả đống lý lịch của quan của lính của dân thường còn nằm lại hết ở bộ tổng tham mưu và ở phòng sưu tra của cảnh sát, nó chỉ việc giở ra là có ngay. Còn căn nhà này nó chỉ cần theo dõi một ngày và hỏi những người xung quanh là chuyện gì chẳng lòi ra. Còn chuyện kiếm đường vượt biên thì chẳng cần hỏi ai nó cũng có thể đoán ra. Cả Sài Gòn này, những nhà như nhà mình không vượt biên thì còn làm gì trong hoàn cảnh này?
Nhung Bờ Hồ đứng lên:
- Nó càng dọa em càng tìm đường ra đi, càng sớm càng tốt. Đã mất rồi, còn chút nào mất thêm nữa cũng vậy thôi.
- Cô và vợ chồng con Vân cứ tìm đường cho mình đi.
- Như thế là chị không đi phải không? Chị ở lại mà tin vào thằng con yêu quý của chị.
Nhung ngấm nguẩy bước xách xe Honda vọt nhanh ra khỏi cổng.
Cái số của Nhung Bờ Hồ là số vất vả, vượt biên ba lần bị bắt đủ ba lần. Lần thứ nhất tù tám tháng ở trại giam Tiền Giang. Lần thứ hai nhờ chạy vạy khéo, chỉ bị giữ vài ngày rồi được thả. Lần thứ ba tù năm tháng ở Nha Trang.
Còn Sinh đi học tập cải tạo hơn một năm trong những trại ở miền Nam rồi chuyển ra các trại ở Miền Bắc. Hết hang cùng núi tận ở Sơn La đến chín suối mười đèo Vĩnh Phú rồi trại mới lập Thanh Hóa. Người ta đồn rằng những người đi học tập ở Thanh Hóa sẽ được mang vợ con đến sống hẳn ở đây tạo lập một cuộc sống mới không ăn bám vào xã hội như xưa nữa.
Mộng Vân chờ chồng suốt bốn năm liền, cô thường xuyên gửi quà thăm nuôi cho chồng và một lòng chung thủy chờ chồng chứ không chịu vượt biên và cũng không sa ngã vì hoàn cảnh thiếu thốn hoặc vì cái thèm muốn tầm thường trỗi dậy trước những cám dỗ đê tiện của những kẻ lợi dụng thời cơ chồng người đi vắng đến lân la thỏa mãn thấp hèn. Nhưng cuộc sống ngày một khó khăn, cô phải dựa vào mẹ đi làm ở một nhà hàng quốc doanh để sống qua ngày cùng hai đứa con
Cuối cùng rồi Vân không nhìn thấy gì ở ngày về của chồng, cô đành tính chuyện ra đi. Cô nhận được một lá thư của Sinh ở trại gửi lén cho một người đi thăm nuôi mang về. Sinh cũng chẳng thể nào biết được ngày về nên anh khuyên Mộng Vân nên tự lo cho cuộc sống hạnh phúc của mình trong khi còn rất trẻ và còn có khả năng phát huy nghề nghiệp mà cô hằng yêu thích. Vân rất cảm động và cô theo Nhung Bờ Hồ trong lần vượt biên thứ tư. Cô cũng chẳng tin gì vào sự thành công mà cô chỉ tin vào quyết định của mình "một là được hết, hai là mất hết, kể cả sinh mạng mình". Không ngờ chuyến vượt biên này lại xuông xẻ. Sau những ngày nằm ở đảo, cô được chọn ưu tiên vào California. Nhung Bờ Hồ thì đi tiểu bang Washington. Thế là cuộc sống hai người thay đổi hoàn toàn.
Một lần Kim Yến nhận được thư của Nhung Bờ Hồ, cô ta chửi xối xả cái mảnh đất đã làm cô điêu đứng, tù đày. Cô chửi hết thảy, không chừa một ai. Kim Yến run bắn người vì những hàng chữ đầy thù hận ấy. Chị xem xong vội đốt ngay lá thư đó đi. Ở bên Mỹ chửi vọng về thì quá dễ, lại còn được tiếng là chống cộng triệt để. Nhưng người ở Việt Nam thì bụng dạ đánh lô tô. Chị vội vàng viết cho Nhung Bờ Hồ một lá thư yêu cầu Nhung Bờ Hồ đừng gửi thư cho chị nữa. Nhung hiểu ý, viết thư xin lỗi chị và nói là vì không giữ gìn được ý tứ, thiếu tế nhị nên vừa sang đến Mỹ là chửi tía lia cho hả giận. Nhung Bờ Hồ còn khoe là đã gặp lại Brown, bây giờ Brow già quá rồi, có vợ con yên ấm nên cô sẽ kết hôn với một người bà con của Brown có cơ sở làm ăn đàng hoàng. Như thế cho yên chứ lấy mấy ông Việt Nam cũng bấp bênh lắm. Ông nào cũng lo kiếm cơm hộc xì dầu, tiền đã không mà "xíu oách" cũng thua người bản xứ. Kim Yến chỉ cười "cái tính con nhỏ này vẫn vậy".
Chị đã có thể yên tâm về đứa con gái và cô bạn thân. Chị vẫn còn giữ được căn nhà cũ, phải thành thật nhận rằng Thắng đã giúp chị rất nhiều nên chị không gặp phiền toái gì. Người ta có mời chị đi vùng kinh tế mới đôi ba lần cũng chỉ là làm cho có lệ mà thôi. Thỉnh thoảng Kim Yến thuê được ngày cuốn băng vidéo thuộc loại "Hải Ngoại Thương Ca" và chị lại bắt gặp Mộng Vân của chị trên những sân khấu tân kỳ đèn đuốc sáng choang. Mộng Vân ngày một đẹp ra, cô đã ăn diện theo kiểu thời trang nước ngoài, đôi khi để hở cả ngực cả rốn. Đó là điều duy nhất chị không hài lòng, nhưng chị vẫn ngầm bênh vực cho con "Ở đâu thì phải theo nếp sống ở đó thôi". Chị quên mất một điều quan trọng là dù ở đấu người ta vẫn có thể giữ được bản sắc của dân tộc mình, ở đâu con người cũng vẫn có thể giữ được những nét đẹp riêng của quê hương mình.
Đến thời "mở cửa", thành phố bắt đầu có những biến chuyển rõ rệt. Kim Yến đã định cho thuê căn nhà dưới, nhưng rồi khi Thắng thường xuyên về thăm nhà, anh lại không đồng ý với mẹ. Anh nói lúc này anh đã được thăng chức giám đốc một cơ quan chuyên về mậu dịch của thành phố. Nếu bà muốn, anh sẽ giúp bà có một hoạt động kinh doanh hợp pháp và kiếm ra tiền. Và để chắc ăn hơn, anh sẽ giới thiệu với bà một ông có uy tín làm chủ tịch hợp tác xã, hai bên sẽ hợp tác liên doanh thì không còn vấn đề gì nữa hết. Một nửa của nhà nước, một nửa của tư nhân, không ai đụng chạm tới đâu. Mà nếu có vấn đề thì Thắng thừa sức che chở. Nếu cần, Thắng sẽ cho bá mượn vốn lập công ty.
- Con làm gì có tiền mà cho má mượn?
Thắng chỉ cười:
- Dù con không có tiền, con cũng có thể đi vay cho má được mà. Má không tin vào khả năng của con sao?
Từ đó Kim Yến lại bò dần lên trong cái giới doanh thương ở cái thành phố đang mở rộng cánh cửa này. Hãng buôn của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp lại bắt đầu nhẩy vào thị trường béo bở Việt Nam. Và những người Việt Nam trước đây vượt biên là mang tội với tổ quốc thì nay lại được đón tiếp linh đình trở về với cái danh hiệu khá hấp dẫn là Kiều Bào Yêu Nước. Còn những người thân phận hẩm hiu nằm ở các trại tỵ nạn Thái Lan, Philippin thì vẫn bị giam như những người tù giam lỏng và được tặng cái danh từ là những "thuyền nhân" hoàn toàn vô nghĩa đang được ủy hội quốc tế hợp với các quốc gia có liên quan xem xét cho trở lại quê hương bình an vô sự với một ngân khoản giúp cho có một nghề nghiệp làm ăn sinh sống.
Vào thời gian này Kim Yến và ông chủ tịch hợp tác xã tâm đầu ý hợp trong những phi vụ làm ăn còn hợp cả về mặt tình cảm. Ông chủ tịch hợp tác xã vốn là dân trong Nam tập kết ra bắc hoạt động rất hăng hái cho Phong Trào Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam. Nhưng nay ông đã về hưu sớm vì không còn thích hợp với cơ chế quản lý mới. Bà vợ ông chết từ ngày còn ở miền Bắc, ông có hai thằng con trai và một đứa con gái, chúng đã lớn và cũng đã chỗ đi làm, nhờ số vốn ngoại ngữ kha khá nên chúng được các cơ quan nhà nước tuyển dụng dễ dàng với cái lý lịch tốt đẹp chúng nó. Nhờ vậy, mỗi đứa đều có một cơ nghiệp vững vàng đang phát đạt và sẽ còn nhiều hy vọng phát đạt hơn nữa.
Không hiểu có một sự thông đồng nào giữa những đứa con của ông Vinh - chủ tịch hợp tác xã - với Thắng hay không mà cả bọn chúng nó đều tán thành một cuộc hôn nhân của ông Vinh với Kim Yến. Dù Kim Yến trẻ hơn ông đến gần một con giáp, tức là bà kém ông đến 11 tuổi, nhưng người ta vẫn thấy đó là một cặp lý tưởng. Kim Yến hài lòng với cuộc hôn nhân này, tuy nhiên chính chị cũng không hề hay biết chị có yêu ông Vinh thật tình hay chỉ là cảm nhận của một thứ tình bạn với cái tính tình rất dễ chịu của ông ta và tình thân trong công cuộc làm ăn. Bây giờ không thiếu gì những cuộc hôn nhân như thế, đôi khi còn tệ hại hơn là chỉ vì thuần túy một nhu cầu của những cái áp phe chung.
Đám cưới của Kim Yến được tổ chức rất long trọng. Nhưng Thắng không tới dự vì anh chưa bao giờ giám hé lộ thân phận đích thực của mình. Thắng kiếm chuyện bay ra Hà Nội công tác.
Kim Yến hiểu ý Thắng, chị không buồn ma trái lại còn thấy thanh thản hơn vì đám cưới của mình mà có sự hiện diện của một thằng con trai to lớn lộc ngộc thì cũng khó coi. Chị lăng xăng tiếp đón bạn bè. Đến khi về nhà, tháo bỏ bộ đồ cô dâu vướng víu. Lên giường với một người đàn ông chẳng còn là việc khó khăn gì với chị. Song dù sao chị cũng cảm thấy một chút nôn nao. Ông Vinh thì có vẻ giữ gìn ý tứ. Ông dịu dàng ve vuốt, lần dở từng cái nút áo của vợ. Bàn tay ông vụng về lúng túng trong tất cả mọi hành động khiến Kim Yến phát bực mình. Bỗng dưng chị lại muốn được hưởng cái thú vị của một anh vũ phu sục sạo bừa bãi, hành hạ chị như một ông chủ với người nô lệ. Chị hét vào tai ông Vinh:
- Anh làm cái gì mà lúng túng quá vậy? Dựt phăng nó ra.
- Anh sợ làm em đau.
- Trời ơi! Ông nội ơi, đau cái khỉ gì. Anh làm tôi bực mình.
Ông Vinh lại càng lúng túng thêm, chân tay lại càng thêm lập cập. Dường như Kim Yến đối với ông là một vật quý mà ông chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ được tận hưởng. Ông đành buông mặc cho bà vợ muốn làm gì đó thì làm.
oOo
CHƯƠNG CỦA TÁC GIẢ, NHÂN VẬT VÀ BẠN ĐỌC
Bạn đọc thân mến,
Trên đây là một truyện có thật trăm phần trăm. Nhưng tất nhiên bạn đọc có thể nghĩ đó là một truyện có tính tưởng tượng của một thể loại tiểu thuyết. Như vậy cũng chẳng sao, miễn là nó đã được viết ra và đã được đăng báo hay in thành sách hoặc còn để chơi đó với bụi thời gian...Nhưng tôi vẫn thấy có nhiệm vụ phải tường trình lại sự việc cho rõ ràng.
Tôi biết chị Kim Yến từ những ngày trước năm 1975. Chị đẹp, giàu và hấp dẫn. Đó là những yếu tố đã dẫn tôi đến với chị qua một người bạn vốn người trong giới kinh doanh của Sài Gòn suốt hơn hai thập kỷ (1950 - 1975). Tên thật của chị không phải là Kim Yến, tôi đã bỏ bớt đi một chữ và thêm vào một chữ. Bởi tôi không thể mạo muội viết thẳng tên người đàn bà đó vào đây. Mặc dầu tôi biết nếu tôi có viết thì chị cũng không trách. Bởi có một lần, trong một bữa tiệc cưới của một người bạn trên nhà hàng Caravel thuộc loại bảnh nhất Sài Gòn hồi đó, chị đã nửa đùa nửa thật nói với tôi:
- Truyện cuộc đời tôi còn hay gấp mấy lần cái truyện tình ấm ớ của anh đang đăng trên tuần báo Kịch Ảnh. Sao anh không viết?
- Tôi có biết cái cóc khô gì cuộc đời của chị đâu. Có nghĩa rằng chị muốn kể cho tôi nghe phải không? Thì kể đi, nếu nó hay thật và đáng viết thì tôi dại gì cho anh khác chớp mất.
- Được rồi, tối mai anh đến tôi chơi, tôi sẽ kể cho anh nghe từ đầu chí cuối. Không thèm giấu giếm mảy may.
- Sao không phải là ngay đêm nay?
Chị cười:
- Đừng có tán nhảm đi ông bạn. Đêm nay kẹt rồi, vả lại không chuẩn bị trước sẽ không có hứng.
Tôi chẳng hiểu chị kẹt cái gì, nhưng cũng dằn lòng đợi.
Và chị đã dành hẳn một buổi tối để tiếp tôi. Chúng tôi ngồi nói chuyện trong một căn phòng khách rộng. Người nhà chị đã được lệnh kỹ là "nội bất xuất, ngoại bất nhập". Có mấy tiếng chuông gọi cửa và chuông điện thoại đều được trả lời rất lễ phép là bà chủ đi vắng, mai mới về. Cái không khí thân mật nhưng lại vô cùng trịnh trọng mang đầy "tính văn nghệ" ấy đã khiến tôi ngồi uống cà phê, ăn săng uých ngoan ngoãn như một con cừu non. Chị kể say sưa về cuộc đời thơ ấu của chị sống trong một gia đình địa chủ, có tới hai cái ấp ở vùng Trung du Bắc Việt. Rồi đến cái ngày chị lấy chồng, tức là lấy anh Tưởng, con một nhà cách mạng thực thụ đi theo cụ Đề Thám để rồi bi truy sát tận gốc rễ đến nỗi hai anh chị phải phiêu bạt đến làng của ông cả So và thay họ đổi tên là chị Tửng.
Tôi không khoái cái đoạn ấy bằng cái đoạn lúc chị gặp ông cả So. Tôi chú ý lắng nghe cho tới khi chị vào Nam và lại lập nên cơ nghiệp nhờ vào đống rác Mỹ và những chuyến chạy hàng lậu của Mỹ. Tôi ra về vào lúc mười hai giờ khuya. Giờ hẹn của tôi với một người khác. Và tôi nghĩ đi nghĩ lại về thân phận người đàn bà này. Cuối cùng tôi thấy nó không hay bằng câu chuyện thời thế tôi đang viết dở. Chuyện của tôi có màu sắc hơn, thời đại hơn và trẻ trung hơn nhiều. Vài ba cái phơi ơ tông đang viết dở, tôi không thể ngừng ngay được. Tôi lại nghĩ chẳng qua chuyện cuộc đời của chị cũng chỉ tầm thường như hàng vạn cuộc đời khác mà thôi, chẳng có gì đặc biệt. Bởi cái ý nghĩ đó, tôi quên khuấy đi lúc nào không hay. Những năm sau này tôi còn gặp lại chị vài lần, có lẽ chị hiểu tôi không thích câu chuyện của chị nên cũng chẳng thèm hỏi gì thêm.
Cho đến một hôm, vào đầu tháng 12 năm 1997, tôi gặp một người đàn bà phúc hậu, đoan trang, tuổi tác cập kè sáu mươi nhưng không giấu được vẻ đẹp và cái nhìn còn sắc như dao bổ cau. Cái nét mặt ấy tôi nhớ mang máng là rất quen. Nhưng tôi lại quen với nếp sống "phó thường dân" của mình hơn nên thường không muốn hỏi ai trước. Chúng tôi nhìn nhau giữa một cửa tiệm thuốc tây. Kim Yến reo lên như gặp lại cố nhân. Chị gọi tên tôi thân tình như buổi tối nào chúng tôi ngồi với nhau riêng biệt trong căn phòng khách rộng. Chị ôm choàng lấy cái thân hình "lực sĩ" vừa đủ 32 kí của tôi trong vòng tay mềm mại :
- Anh đấy ư? Tôi cứ tưởng anh chết hay đi sang bên kia rồi chứ. Còn ở lại đây sao?
Tôi chúi đầu vào trong cái cánh tay khá mập, núc ních những thịt, ngửi mùi nước hoa thoang thoảng của hương thơm hoa lan, mùi hương làm tôi sống lại một giây phút mơ hồ của cả một quãng đời Sài Gòn xưa cũ. Chị lại kêu lên :
- Anh gầy và xanh quá.
- Tôi vừa đi khám bệnh, chụp hình phổi, bị ho lao !
Kim Yến giật bắn người lên :
- Cái gì ? Ho lao à ?
- Nếu chị sợ thì làm ơn đứng tránh xa ra một chút đi.
Tiếng cười của Kim Yến lại vẳng lên :
- Sợ cái khỉ khô gì ! Làm ơn đứng gần vào với tôi một chút đi. Nếu được ho lao cùng với một người bạn như anh thì cũng đáng.
- Thôi, tôi xin mợ, mợ nói thêm câu nữa là tôi quên đường về đấy.
- Mình ở đây còn ít anh em quá. Trời ơi, gặp anh tôi mừng lắm. Lên tôi chơi. Nhà này là nhà của tôi, cho thuê nhà dưới, tôi ở trên lầu.
Giọng Kim Yến chân thật quá. Tôi phải nói ngay đó là thứ tình bạn chân thật nhất mà tôi nhận được. Sau những giây phút cảm động, tôi bước theo chị. Căn lầu nhìn ra con phố chợ Bàn Cờ ồn ào từ sáng đến tối mịt. Những mái ngói lô nhô, những mái tôn xám xịt, những hàng dây điện vây quanh. Thỉnh thoảng nhô lên một vài căn nhà cao tầng ngạo nghễ. Đó là Sài Gòn của chúng tôi hôm nay. Chị Kim Yến lại tâm sự với tôi về cuộc đời chị từ khi ông Vinh qua đời. Ba năm rồi, chị sống ẩn dật, nuôi một đứa cháu họ từ ngoài Hà Nam vào làm bạn. Khi câu chuyện đã thân tình, tôi đùa giỡn hỏi chị:
- Liệu cuộc đời chị còn có thể có một người đàn ông nào nữa không?
Chị cười:
- Chưa biết chừng. Khi cái số nó đến thì không gì ngăn cản được. Có phải tình yêu là không có tuổi như các anh thường diễn tả không?
Tôi không trả lời câu hỏi của chị. Và tôi không tin gì cả. Nhưng có một điều tôi tin: đó là tôi phải viết về chị. Cuộc đời chị như đã dính liền vào với những biến cố lịch sử của suốt nửa thế kỷ vừa qua. Những đổi thay, những quanh quẩn của vòng đời quá rộng lớn nhưng sao lại dường như quá chật hẹp để đến nỗi nó cứ gặp nhau, chẳng khác nào con kiến bò trong miệng một cái chén cổ. Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu cho nên tôi đã bắt đầu từ cái đoạn mà tôi đã thưa rằng tôi thích nhất, cái đoạn chị Tửng gặp lão cả So ngay từ chương đầu. Định mệnh an bài hay lịch sử đã sang từng trang cho cuộc đời chị? Ở đó tôi thấy được hình ảnh suốt chiều dài của cuộc chiến tranh trên đất nuớc tôi. Dù nó chỉ là chuyện của Một Người Đàn Bà và Những Người Đàn Ông xoay quanh bà ta.
Cuộc đời chị còn có một người đàn ông nữa hay không? Chính chị cũng không biết. Bạn đọc có thể tùy ý muốn trả lời câu hỏi này ra sao cũng được.
Tôi đã viết lại cuộc đời chị hoàn toàn theo đúng sự thật như tôi đã biết. Tôi không bình luận gì thêm và cũng không làm cái việc phê phán vô tích sự cũng như chẳng muốn dính vào một chút tư tưởng nào khác. Mỗi bạn đọc đều có quyền hiểu nó theo ý mình.
Sài Gòn tháng 1-1998.
VĂN QUANG
oOo
Chú Tư Cầu (Lê Xuyên) và Những Ngày Cuối Đời
Văn Quang
Gần 10 giờ đêm 2-3-2004, chị Lê Xuyên điện thoại cho tôi thông báo tin anh vừa mất lúc 9 giờ 20, tức là cách đó nửa giờ. Lời chị kèm theo rất chân tình:
- Tôi gọi cho anh trước khi gọi cho nhà đòn.
Tôi hiểu ý chị và phải nói hiểu từ lâu mới đúng. Gia đình anh
chị trong hoàn cảnh sinh sống rất khó khăn chật vật, vì thế nên tôi đã
dặn trước: nếu có chuyện gì cần chị cứ gọi cho tôi. Tôi không tin vào
tôi mà tin vào tình yêu thương của bạn bè từ khắp nơi luôn sẵn sàng giúp
đỡ Lê Xuyên nên hứa ngay: Chị cứ lo mọi chuyện cho tang lễ của anh, còn
chuyện khác để anh em chúng tôi lo. Chị vui vẻ:
- Nếu thế tôi an tâm rồi.
Buông điện thoại, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên trước cái tin
buồn này. Từ hai năm nay, Lê Xuyên nằm một chỗ, có thể nói thẳng nằm đó
chờ ngày "về với ông bà". Một năm trước đây thôi, anh phải vào bệnh
viện, chị cũng gọi cho tôi rồi đến nhà mang theo cả giấy "nhập viện" và
số tiền phải trả. Tôi cũng lại làm cái nhiệm vụ thông báo cho một số anh
em ở nước ngoài để kiếm tiền trả bệnh viện. Không phải chỉ có riêng
chúng tôi mà còn những người quen khác của anh, những người bạn đồng
hương, những người học cùng trường cùng lớp, có cả những người không hề
quen biết cũng xúm nhau vào chung lo. Hầu như ai cũng hiểu rằng ngày "ra
đi" của anh không xa. Nhưng may mắn, anh vẫn còn qua được vài mùa Xuân.
Những lần sau này tôi đến thăm anh, anh nằm đó nhưng tỉnh táo,
không nói chuyện được song hỏi nhiều điều, anh vẫn nhớ, vẫn hiểu. Khi
anh gật đầu, thỉnh thoảng có được một nụ cười, đôi mắt ánh lên một niềm
vui. Nhất là khi tôi cố gợi lại một vài câu chuyện vớ vẩn từ hồi xa xưa
chúng tôi gặp nhau ở ngoài đường hoặc ở toà soạn một vài tờ báo.
Tính Cách Lê Xuyên:
Để cho anh được sống lại với những kỷ niệm cũ, tôi kể lại một
buổi sáng sớm vào khoảng năm 1971-72, sau một đêm đánh chắn với vợ chồng
ông chủ báo Kịch Ảnh đường Cống Quỳnh, tôi lái xe về nhà. Qua đường Lê
Lai, tôi thấy Lê Xuyên cúi đầu đi trên hè phố. Tôi đậu xe sát lại, Lê
Xuyên vẫn chưa thèm nhận ra là xe của ai. Tôi bóp còi, lúc đó anh mới
ngước lên nhìn và toét miệng cười. Ít khi ông Lê Xuyên cười lắm. Tôi đẩy
cửa xe, thò đầu ra hỏi:
- Ăn gì chưa?
- Chưa gì hết trọi, có tiền đâu mà ăn.
- Lên đây, tôi đưa ông đi ăn sáng.
Leo lên xe,anh hỏi thẳng:
- Đêm qua được hay thua?
- Được.
- Nhà không còn một xu, tui để tiền trong túi cũng hết luôn.
Tôi cười và hiểu cái sự "hết tiền trong túi" của anh dù mới lãnh
lương. Móc trong cốp xe, tôi chia cho anh một nửa số tiền được bạc đêm
hôm qua và dặn dò rất kỹ:
- Mang về toà soạn cất vào ngăn kéo để tiêu dần đấy.
- Ừ, tốt. Ông ăn sáng chưa, cho tôi đi với. Lâu rồi không được ăn đồ Tây.
Tôi cười:
- Ra Givral hay Brodard, ông thích chỗ nào.
- Đâu cũng được.
Chúng tôi ra Givral, sáng sớm tinh mơ chỉ có hai bàn khách. Tôi
gọi mì jambon là món "đặc sản" ở đây còn Lê Xuyên gọi omelette jambon
ngồi nhai bỏm bẻm lấy làm thú vị lắm. Ăn xong tôi bảo ông có tiền rồi,
lấy xe taxi về toà soạn, tôi phải về nhà thay quần áo rồi còn phải vào
sở chào cờ vì hôm nay là thứ hai. Lê Xuyên cười hì hì:
- Cả đời tao chưa biết chào cờ là cái gì. Tao chỉ chào ông chủ
báo khi lần đầu tiên đến làm. Ngô Quân cũng thế và Hồ Anh cũng thế.
Thỉnh thoảng tôi đưa bài đến báo Thời Thế, đôi khi vào buổi
trưa, tôi lại rủ Lê Xuyên đi ăn trưa, hôm có tiền thì chui vào Chợ Lớn
ăn cơm Tàu Bát Đạt. Có lần tôi rủ:
- Chúng tớ có cái phòng thuê ở trên lầu ba để thỉnh thoảng chơi
phé, lấy tiền sâu gửi lại tay quản lý nên bất cứ lúc nào cần phòng là có
ngay. Ông có muốn nằm lại đây một buổi không?
Bản tính anh hiền lành nên hỏi lại:
- Nằm làm gì, tôi phải về làm việc chứ.
- Ông ngây thơ thật hay ngây thơ cụ, ông cứ lên với tôi là biết ngay "nằm làm gì". Ông muốn Tàu cũng có mà ta cũng có.
Dĩ nhiên đến nước này thì ông bạn tôi phải hiểu, nhưng ông lắc
đầu quầy quậy như thằng con nít bị mẹ bắt lấy vợ sớm. Tôi đưa ông trở
lại toà soạn và xác nhận với anh em rằng "Lê Xuyên nó đứng đắn thật các
ông ạ". Một ông bạn tôi cãi: "Nó nhát chứ đứng đắn cái gì". Thôi thì
nhát cũng được, đứng đắn cũng được nhưng nó không giống tụi mình. Và một
điều ai cũng nhận thấy là chưa bao giờ thấy mặt Lê Xuyên ở bất cứ cái
phòng trà tiệm nhảy nào, ngay cả chỗ đông người anh cũng tránh. Tôi cứ
lẩm cẩm ngồi nhắc lại từng chuyện khiến anh thú lắm, đó là lúc anh được
sống thêm.
Một bí mật bây giờ mới tiết lộ:
Cũng vào khoảng thời gian đó, tờ báo Thời Thế có một loạt bài
điều tra phóng sự về một vụ tham nhũng của một ông "tướng vùng". Ông
tướng nhờ một đại tá và một trung tá liên hệ với tôi để nhờ tôi can
thiệp. Tôi chẳng biết trắng đen ra sao, nhưng đã có lời nhờ và giải
thích thì tôi làm. Tôi gọi cho Lê Xuyên giải thích những gì tôi được
nghe và đề nghị "thông cảm" với phóng viên cho ngưng loạt bài đó kẻo làm
mất uy tín của một người chỉ huy vùng chiến thuật. Lê Xuyên nói ngay:
- Ông nói thì tôi nghe, nhưng để tôi thu xếp với anh em cho có đầu có đuôi.
Sau đó tôi điện thoại cho ông chủ báo Hồ Anh, lúc đó tôi mới
biết rằng đã có một hai ông nghị sĩ dân biểu can thiệp, nhưng Lê Xuyên
vẫn cứ tiếp tục cho đăng loạt bài này. Ông Hồ Anh bảo tôi cứ nói chuyện
với Lê Xuyên, nếu anh ấy chịu thì không có gì trở ngại. Chỉ có thế thôi.
Rất bất ngờ, hôm sau tôi đọc được hàng chữ trên trang nhất: "Vì có
người bạn chúng tôi can thiệp nên chúng tôi thấy cần phải chấm dứt loạt
phóng sự này". Quả thật đó là điều khiến tôi hết sức cảm động và ngay
lúc đó tôi trở nên áy náy vì biết đâu đó là một sự thật mà công sức của
anh phóng viên trẻ đã bỏ ra bị tôi "kỳ đà cản mũi". Tôi gọi lại cho Lê
Xuyên, anh chỉ cười:
- Thông cảm với phóng viên rồi nó bảo ngưng cũng được, viết thế đủ rồi.
Tôi rủ anh đi ăn trưa, anh nói:
- Tôi vừa ngưng phóng sự mà đi ăn với ông thì khác gì đi ăn hối
lộ. Thôi hôm nào ông được bạc mình lại đi ăn đồ Tây. Hôm nay tôi bận quá
ông ạ.
Lê Xuyên cúp máy và tôi thì cứ ân hận, chẳng hiểu vì sao. Chuyện
này còn có nhiều nhân chứng còn sống ở đâu đó, may ra họ còn nhớ. Tôi
thì chẳng bao giờ quên.
Bỏ đi Tám!
Hơn mười năm sau, khi tôi ở trại cải tạo ra, Thanh Thương Hoàng
dẫn tôi đến thăm Lê Xuyên. Anh ngồi bán thuốc lá lẻ ở một góc phố. Chiếc
quầy thuốc bé tẹo nhưng cũng đủ che hết tấm thân gầy gò của anh. Chúng
tôi nhìn nhau và cùng cảm thông rất sâu sắc cái thân phận mình lúc này.
Anh chớp mau mắt nói như để an ủi hơn mười hai năm tù của tôi:
- Trông ông vẫn cứ phong độ như ngày nào.
Tôi thẳng thừng thương bạn:
- Còn ông, trông chán bỏ mẹ... Chỉ muốn khóc!
Hai bàn tay bạn tôi run lên, lật bật đút chiếc chìa khoá vào
ngăn tủ kính để mấy gói ba số năm bán lẻ (hồi đó ba số năm quý lắm):
- Hút thuốc lá không?
- Không, tớ hút thuốc lào quen rồi, về đây hút thứ nặng hơn mới đủ đô.
Thanh Thương Hoàng rủ sang bên con hẻm phía trước ăn sáng. Đó là
con hẻm lối đi vào một ngôi chùa hay ngôi đình gì đó. Không có hủ tíu,
Lê Xuyên phải chạy đi gọi ở một nơi nào quen bán chịu cho anh ở gần đó.
Lê Xuyên trở lại với con người thật của anh. Vẫn hiền lành, cười tủm và
chân quê. Phải nhìn thấy cái cười tủm của anh mới biết tại sao anh viết
về những cuộc tình của những đôi trai gái đồng ruộng miền Nam hay đến
như thế, láu cá đến như thế. Tôi nhủ thầm: Thằng cha này tâm ngẩm tầm
ngầm mà ghê lắm đấy. Nó không nói mà chỉ viết nên nó viết được nhiều hơn
mình. Chỉ có nó mới viết được những "dòng chảy ngầm" của trai gái thôn
quê miền Nam thật đến thế và hấp dẫn đến thế. Lê Xuyên khác với một số
những cây bút hoàn toàn Nam Bộ như ông Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam ở
chính cái "thật" của anh, không màu mè, không lý luận, không làm một cái
gì như nghiên cứu sưu tầm về phong tục tập quán dưới hình thức này hoặc
dáng vẻ khác. Từng động tác, từng thái độ, từng lối ứng xử trong nhân
vật của anh cứ như con người thật lồ lộ đang ở trước mặt chúng ta vậy.
Trước mặt tôi, ông già Lê Xuyên vẫn còn cái hóm hỉnh riêng,
nhưng bây giờ thì như anh nói: "đếch viết nữa". Tôi hỏi không viết được
hay không thích? Câu trả lời của anh gọn lỏn: "bỏ đi tám". Tôi không thể
hiểu nỗi ba chữ "bỏ đi Tám" mà anh dùng. Có một nỗi chua chát nào đó
trong cái tâm sự thật của anh? Đến cái chứng minh nhân dân anh cũng
không muốn làm nên không có hộ khẩu, cứ như ở lậu, công dân lậu. Thái độ
đó có đồng nghĩa với sự "bỏ đi Tám" của anh không? Chỉ có anh mới hiểu
và bây giờ anh mang theo.
Cách đây vài năm, tôi có viết về Lê Xuyên và may mắn nhận được
sự giúp đỡ thiết thực của khá nhiều bạn bè. Trong đó có một vài tờ báo
muốn đăng lại những truyện dài của anh, tôi hỏi, anh chỉ lắc đầu: "chẳng
còn cuốn nào" và cả chị ấy cũng không kiếm được cuốn nào cả.
Ba năm sau cùng, anh không còn sức để bán thuốc lá lẻ nữa. Thỉnh
thoảng tôi và Nguyễn Thuỵ Long kéo đến thăm, cố dìu anh ra quán cà phê
cuối ngõ ngồi lai rai tâm sự vặt. Tôi vẫn cho rằng chỉ có lúc đó Lê
Xuyên mới được sống thật. Hai năm sau này dù có cố lôi anh đi cũng không
nổi nữa rồi. Anh như cái bóng trong góc tối của gian phòng chật chội
vây quanh bởi hàng trăm thứ lỉnh kỉnh nào bàn ghế, chai lọ, giường tủ.
Chỉ có cô gái út săn sóc cho anh, vợ và các con lớn của anh vất vả với
công việc hàng ngày rất ít thì giờ trông nom cho bố. Cái chết đến từ từ
theo từng ngày giờ buồn tênh, dường như anh chán cả cái sống cái chết,
không thèm chú ý đến nó nữa.
Khi tôi đến với anh lần cuối là lúc các con anh đang tắm rửa,
thay quần áo cho anh trước khi nhập quan. Cái thân hình gầy gò trần trụi
của anh phơi ra, tất cả chỉ còn có thế. Tôi chuyển ngay cho chị số tiền
mà tôi mới gửi e-mail tối hôm qua thông tin về sự ra đi của anh, nhanh
chóng được đáp ứng. Các bạn ở Virginia, San Jose, Santa Ana yêu cầu tôi
chuyển ngay khoảng 1.000 Mỹ kim đến lo tang lễ cho anh. Một người bạn
đưa ngay đến 2 triệu và mang đến vòng hoa đầu tiên của bạn bè Sài Gòn.
Hôm sau chị khoe với bà con đến phúng:
- Có bạn bè làm chỗ dựa nên tôi mạnh tay làm đủ thứ việc cho anh
ấy. Mạnh gì gạo bạo vì tiền, có phải không các bác? Không có bạn bè,
tôi chẳng còn biết xoay dở ra sao.
Tôi nói với chị:
- Chắc sẽ còn nữa, có một số anh em chưa gửi kịp, xin chị an tâm đi tiếp con đường ai cũng phải đi.
Buổi chiều ngày 5-3, đúng hai giờ lễ động quan bắt đầu, giữa
trời nắng chang chang, chúng tôi đưa anh đến Bình Hưng Hoà. Có rất nhiều
người bên hè phố lặng lẽ tiễn đưa anh, không ồn ào như những đám tang
của những nhà nghệ sĩ mà ở đây người ta cho rằng đó là những "nhà nghệ
sĩ lớn", nhưng những con người thầm lặng ấy dõi theo anh với tất cả tấm
lòng mình. Họ không nói gì, không có kèn saxo như trong đám tang Trịnh
Công Sơn, không có giọt nước mắt dài ngắn thở than của những danh ca
nghệ sĩ, không có cả những bài "điếu văn tưởng niệm" lâm ly bi đát,
nhưng đầy ắp những tình yêu thương từ xa xưa đọng lại, từ bốn phương
lãng đãng bay về phủ kín khung trời Sài Gòn. Thế là đủ, nó vượt lên trên
tất cả.
(viết riêng cho Văn Nghệ - tác giả Văn Quang)