Tên Bùi Nhật Tiến, sinh tại Hà Nội, di cư vào Nam năm 1954. Viết truyên ngắn, truỵện dài trên các tạp chí: Văn Hóa Ngày Nay, Tân Phong, Đông Phương, Bách Khoa, Văn, Văn Học, chủ trương nhà xuất bản Huyền Trân (1962), chủ biên tuần báo Thiếu Nhi (1971-1975). Dạy Vật lý và Hoá học tại các trường Trung học ở Sài Gòn từ năm 1960. Giải thưởng Văn chương Toàn Quốc năm 1962. Nguyên Phó Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút VN (1965-1975), nguyên Hội viên Hội Đồng Văn Hoá Giáo Dục (nhiệm kỳ II,1974). Năm 1979 vượt biển qua Thái Lan rồi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1980; Hoạt động văn hoá ở hải ngoại: Nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu Giáo Chức Việt Nam Hải Ngoại (1982- 1985). Nguyên Chủ tịch Ban Chấp hành Lâm thời Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Nam California (1988).
[1] Bông Hồng Nào Cho Mẹ
[2] Hương Vị Ngày Xưa
[3] Người Tù Cuối Năm
[4] Vòng Quay Trần Thế
[1] Bông Hồng Nào Cho Mẹ
Giang sơn của cụ Giáo Thìn bây giờ chỉ thu vào đúng hai khoảnh nhỏ: một dẻo đất hẹp chạy dọc theo bờ tường của cái garage và một vùng trí nhớ lãng đãng với một mớ kỷ niệm xô bồ, không thứ tự, dấu hiệu của sự tàn phai trước tuổi già.
Về cái dẻo đất hẹp thì phải nói rằng đó là kết quả của một công trình chăm sóc tuyệt hảo. Bề ngang đâu được thước hai, bề dọc cỡ độ bẩy thước, cụ Thìn đã đổ gần như tất cả thời giờ trong một ngày của mình vào đó để vun sới. Có ba cây ớt, một khoảnh ngò, một khoảnh hẹ, răm bẩy gốc tía tô, chừng mươi gốc húng và một nhúm hành ta. Đủ lệ bộ cho một đĩa rau thơm vào cái hôm mà cả nhà muốn ăn món bò nhúng giấm hay món gỏi cuốn chấm mắm nêm. Đó là những dịp duy nhất mà cả nhà lên tiếng khen bà cụ do công trình tưới bón, chăm sóc của bà. Tuấn nói :
- Tụi bay còn cứ chê "mom" trồng trọt lẩm cẩm làm gì nữa đi. Sao bảo mấy thứ đó chạy ào ra chợ là có, đâu có thấy đứa nào vác xác ra chợ đâu !
Thuý nhìn anh bĩu môi :
- Tụi này đã không đi thì sao anh không đi đi, ở đó mà nói.
Thu họa theo:
- Nói cho hay, anh mà không chuẩn bị cơm nước chợ búa trước, tới chừng lấy chị Hương xong rồi ở đó mà chờ cái cảnh cơm bưng nước rót.
Tuấn cãi lại :
- Tao chờ chứ sao không ? Tao lấy vợ Việt Nam chớ đâu có phải lấy vợ Mỹ !
Thu trợn mắt nhìn anh :
- À, thế ra cứ lấy vợ Việt Nam là bắt vợ làm "mọi" cho mình đấy có phải không ? Xí ! Còn lâu !
- Thì mày hỏi mẹ coi. Tứ đức tam tòng, công dung ngôn hạnh là những thứ hàng đầu của con gái, phải không mẹ ?
Bà cụ nhìn mấy đứa con không trả lời. Bà chẳng còn cái thói quen lên tiếng phát biểu ý kiến riêng của mình từ ngày qua đây. Mọi thứ chung quanh đối với bà đều trở nên choáng ngợp, vuột tầm tay, bứt rời mọi thứ kinh nghiệm sống mà bà đã thu lượm được trong suốt gần cả một đời người. Nghĩa là đứng trước điều gì ở đây bà cũng đều bỡ ngỡ, rụt rè, nói ra cái gì là sai lầm cái đó, rút cục lại bà chỉ như một thứ trẻ nít trong nhà đi đâu cũng phải có người dẫn đi, làm gì cũng phải hỏi ý kiến con cái mà có những điều cả lũ đã xúm lại giải thích nhưng bà vẫn ù ù cạc cạc, chẳng hiểu mô tê gì hết ráo.
Từ ngày thằng Tuấn kiếm được việc làm, nó đổi cái ti-vi cũ để thay bằng một cái mới tinh. Tuấn dặn mẹ :
- Cái này có remote control. Mẹ muốn coi thì đừng có rờ mó gì vào những cái nút ở ti-vi cả. Họ đã set up đầy đủ hết rồi. Chỉ cần ngồi ở salon mà nhấn vào những cái nút ở trên cái này thôi.
Tuấn ấn vào tay bà cụ cái remote control. Bà miễn cưỡng đón lấy nó bằng tất cả sự rụt rè, tưởng như bàn tay của mình mà đụng vào đâu lầm chỗ thì nó sẽ giở chứng hư ngay lập tức. Tuấn tiếp tục giảng giải :
- Cái này là nút on, cái này là nút off, cái này là volume tiếng to nhỏ, cái channel này là để đổi đài, cái mute này lúc đang xem mà có điện thoại, mình muốn cho âm thanh nó tạm im đi thì chỉ nhấn khẽ vào...
Đầu óc của bà Thìn cứ bấn loạn cả lên và cuối cùng bà dúi trả vào tay Tuấn:
- Thôi ! Rắc rối quá, tao chịu !
Rồi bà tần ngần :
- Mấy lại tao đâu có thiết gì ti-vi. Nó nói nhăng nói cuội, tao có hiểu ất giáp gì đâu !
Tuấn nằn nì :
- Thì mẹ nghe nhạc.
- Ôi ! Cái thứ nhạc cứ như đấm vào tai, càng nghe càng nhức đầu.
Rút cục, thú giải trí của bà chỉ còn là mấy cuộn băng cải lương mà bà đã nghe đi nghe lại nhiều lần trên cái máy cassette tuy cũ sì nhưng được cái nó đơn giản, dễ sử dụng. Chỉ có điều không phải lúc nào bà muốn nghe thì nghe. Con Thuý còn đỡ, chớ con Thu mà thấy mẹ vặn cải lương khi có mặt nó thì bao giờ nó cũng nhằn :
- Thôi tắt đi bớt đi một chút cho đỡ nhức đầu. Nhạc lải nhải thế mà mẹ nghe mãi được.
Có lúc Tuấn cảm thấy bất nhẫn, phải gắt lên :
- Thì mẹ có mỗi cái thú nghe cải lương mày phải để cho mẹ nghe chứ.
Thu cãi lại :
- Thiếu gì lúc mẹ có thể nghe được. Chờ cả nhà đi học đã, rồi mẹ tha hồ nghe.
Dĩ nhiên rằng bà Thìn chẳng bao giờ muốn chính mình trở thành cái duyên cớ để anh em nó hục hặc với nhau, nên bà thò tay nhấn cái nút trên máy để cho cuộn băng ngưng lại. Bà nhìn các con bằng đôi mắt buồn thảm rồi mở cửa ra đứng ở phía sau. Qua một cái sân cỏ nhỏ là một dẫy bờ tường chắn ngang tầm mắt. Dẫy tường quét bằng mầu vôi hồng sậm, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời tháng Sáu, bà thấy nhức mắt. Bà lại nghĩ đến cái giang sơn nhỏ bé của mình. Khu vườn nhỏ, một thước hai bề ngang, bẩy thước bề dài có hẹ, có húng, có ngò, có tía tô. Mấy tuần lễ trước gặp cụ Cả Phong ở ngoài chợ. Cụ có hứa sẽ bứng cho bà mấy rễ rau rớp cá khi nào bà tới chơi. Bà hoan hỉ báo tin cho lũ con ở nhà với lời đề nghị rụt rè :
- Bữa nào rảnh có đứa nào lái xe chở mẹ tới lấy rau rớp cá về trồng.
Thuý nhún vai, lè lưỡi :
- Eo ơi ! Rau rớp cá thì con chào thua. Chỉ nghĩ tới là đã muốn sỉu rồi !
Thu nói :
- Me too ! Rau gì mà mùi tanh thấy ớn !
Lại đến lượt Tuấn phải can thiệp vào :
- Tuỳ goût mỗi người chứ. Rau rớp cá có biết bao nhiêu người thích ăn. Tụi bay không ăn nhưng mẹ ăn. Cứ lái xe đưa mẹ tới xin về để mẹ trồng.
Thuý nói :
- Tuần này em có hẹn ! Thứ Bẩy phải tới phụ đằng con Liên làm sinh nhật của nó. Chủ nhật thì bạn của anh có party, mời cả em đấy thôi.
Tuấn quay sang Thu :
- Vậy con Thu đưa mẹ đi. Weekend này mày làm gì ?
Thu hỏi ngay lại :
- Thế còn anh làm gì ?
Tuấn trừng mắt nhìn em thì mặt con nhỏ cũng vênh đáp lại. Thế là bà giáo Thìn lại vội vã xen vào hoà giải :
- Chẳng tuần này thì tuần sau. Đâu có vội.
Nhưng cái tuần sau đó đã trôi qua cả tháng nay rồi mà bà thì vẫn chưa có dịp ghé lại được đằng cụ Cả Phong. Câu chuyện rau rớp cá chỉ thoáng qua trong giây lát rồi mọi người đã quên đi, trừ bà Giáo.
Hồi còn ở quê nhà, bà là người nghiện ăn trầu, xỉa thuốc vào hạng nặng. Khi còn sinh thời, ông Giáo ưu ái trồng riêng ở vườn sau trong căn nhà khang trang ở Sài Gòn cho bà một giàn trầu không leo kín cả một mái liếp. Có lẽ trong cái vùng trí nhớ lãng đãng của bà, hình ảnh sâu đậm nhất đối với bà không chỉ là kỷ niệm của một thời còn nghiện trầu và được ăn trầu mà còn là sự gợi nhớ lại tất cả tấm lòng yêu thương mà ông Giáo đã dành cho bà. Khi ông Giáo mất đi, giàn trầu vẫn xanh tốt, nhiều hôm ra hái trầu bà đã đứng nép ở sau giàn cây mà khóc sụt sùi một mình. Đó là một trong những giây phút bà nhớ ông nhất. Đến lúc vô nhà, mắt của bà còn đỏ hoe.
Hồi đó Thu mới lên năm, cái Thuý lên tám và thằng Tuấn thì mười hai. Tất cả còn bé dại và bà đã dành tất cả quãng đời còn lại của mình để yêu thương và chăm sóc chúng nó. Khi lớn lên được một tí, cái Thu và cái Thuý tranh nhau học têm trầu cho mẹ. Nhìn những bàn tay xinh xinh bụ bẫm của hai đứa trịnh trọng xếp từng nếp trên lá trầu để hoàn tất những miếng trầu méo mó, xô lệch bà cảm thấy lòng hết sức thoải mái và yên vui.
Nhưng từ ngày qua tới đây, cả hai đứa đều đồng thanh đề nghị mẹ phải bỏ cái thói quen nhai trầu. Thu giải thích :
- Ăn trầu ở bên này không được đâu. Mồm miệng đỏ lòm, người ta cho mình là savage !
Thuý phụ thêm :
- Đấy, mẹ coi đàn bà cả nước Mỹ này đâu có ai nhai trầu. Mẹ mà ra phố nhai trầu, cả bàn dân thiên hạ sẽ xúm lại ngó mẹ cho mà coi !
Tuấn tuy cảm thông với mẹ hơn nhưng cũng phải đồng tình với các em :
- Thôi để chúng nó mua chewing-gum cho mẹ nhai đỡ buồn mồm. Cái Thu chiều nay đi học về tạt qua đâu đó mua cho mẹ loại chewing-gum có quế đó, mẹ dễ ăn.
Lần đầu tiên Thu không phản đối gì ông anh về đề nghị đó cả. Có lẽ vì nhiệm vụ tiêu diệt cái thói quen nhai trầu của bà giáo là một nhiệm vụ trọng đại mà tất cả mọi người trong nhà đều phải xúm lại, góp công sức vào để quật ngã nó. Cho nên Thu sốt sắng khuân về đủ loại kẹo cao su, thứ dẹp và dài có, thứ viên vuông vuông mầu trắng có và dĩ nhiên có cả loại Dentyl mùi quế mà Tuấn đã đề nghị nữa. Bà giáo thấy con mua tốn tiền đã dẫy nẩy lên :
- Làm gì mà mày khuân về lắm như thế. Bỏ thì bỏ chớ việc gì phải nhai kẹo cao su.
Rồi bà nói tiếp, giọng buồn buồn :
- Nhập gia cũng phải tuỳ tục chứ.
Quả nhiên bà Giáo bỏ đứt cái thói quen ăn trầu. Bà cũng chẳng cần dùng đến một chiếc kẹo nào do Thu mua về. Thói quen ấy của bà có thể đã bị tiêu diệt nhưng giàn trầu không xanh um trong trí nhớ của bà thì chẳng bao giờ bà có thể quên. Những hôm cả nhà đi vắng hết, bà ngồi thu lu trên bộ salon ở phòng khách nhìn ra khung cửa kính sáng loà. Thân hình còm cõi của bà co gọn trên chiếc sofa rộng thênh thang trông lạc lõng và cô đơn như một con mèo già. Mái tóc của bà mới đó có vài năm đã bạc trắng ra. Bà giương cặp mắt hấp háy nhìn ra sân sau, lòng thì nghĩ như mình đang ngồi trong căn phòng khách nhỏ bé ở Sài Gòn nhìn ra khoảnh vườn có giàn trầu không leo lên những tấm nan tre do chính bàn tay của ông Giáo đã dựng lên. Bà nghe như ở phía bên kia bờ tường có tiếng động cơ xích lô máy chạy qua con đường bên hông chợ. Bà cũng như nghe thấy cả tiếng ồn ào ồn ào từ cái máy nước công cộng, tiếng hàng quà rong rao lảnh lót, có cả tiếng con tầu từ Biên Hoà chạy qua cổng xe lửa vang lên xậm xịch. Quê hương thật đã xa tít mù và chỉ còn tồn tại trong cái khoảng trí nhớ lãng đãng của bà.
Những ngày mới qua Mỹ, lúc bốn mẹ con ngồi ăn cơm với nhau, mỗi người thi nhau nhắc chuyện dĩ vãng. Kỷ niệm cũ với ông Giáo. Kỷ niệm cũ với Sài Gòn, trường học, đường phố, bà con, bạn bè. Lâu dần, rút cục chỉ còn có mỗi bà giáo là thích nghe và thích kể về chuyện quê nhà. Mà những dịp này thì cũng hiếm hoi dần đi. Bữa cơm trong nhà không còn là một cái gì gọi là sinh hoạt thường nhật. Buổi trưa, lũ trẻ ăn ở trong trường. Đến chiều, mỗi đứa về một giờ giấc. Thu về sớm nhất, háu ăn nhất, lao vào bếp nấu một tô súp rau ( loại súp bán sẵn trong những cái túi bằng nhựa) và một vài lát sandwiches. Bà giáo kêu ca :
- Ăn cái gì nhẹ thôi. Để đến tối cả nhà cùng ngồi ăn đông đủ.
Cùng ngồi ăn đông đủ ! Đó là niềm hạnh phúc và ước mơ nhỏ bé cuối cùng của bà trong căn nhà này. Nhưng trong thực tế, thật khó mà kiếm được dịp cả nhà ngồi chung với nhau, trừ một hai bữa trong những ngày cuối tuần. Khi Tuấn về đến nhà thì Thu và Thuý đã rút vô phòng riêng, đóng kín cửa lại. Bà giáo thì ngồi thiu thiu trên ghế chờ con về. Mâm cơm nguội lạnh đã bầy sẵn. Có dưa muối. Có thịt kho. Có canh cải hay nước rau rền. Tuấn ngồi vào bàn, nể mẹ sới được lưng bát cơm. Sau đó, chàng ăn tiếp một tô mì gói. Tuấn có thể ăn mì gói kinh niên mà không bao giờ ngán. Những hôm ăn một mình, Tuấn bưng nguyên cả tô mì ra ngồi ở salon, vừa ăn vừa coi ti-vi.
Thành ra nồi cơm trắng phau, tuy sốt rẻo như thế mà bao giờ cũng ế. Cơm ế, không đời nào bà giáo đem đổ đi. Bà đem cất tủ lạnh để sáng hôm sau hâm lại làm bữa trưa cho mình. Nhiều hôm bà đổ thêm nước vào để nấu thành cháo. Riết rồi bà cũng mặc nhiên trở thành một người kinh niên ăn cháo, âu nó cũng thích hợp với hai hàm răng cũng đã bắt đầu lung lay của bà.
Trong cuộc đời của bà Giáo, bà sợ hãi nhất là hai tiếng "đổ đi" ngay cả khi còn ở Sài Gòn vào thời kỳ bà đang giầu có, sung túc nhất. Các con của bà luôn luôn được nghe câu nói : "Phí của giời, mười đời không có", bà làm như lúc nào cũng có con mắt của Trời, Phật ngó vào khi bà lỡ đánh rơi vài hạt cơm hay rúm gạo. Cho nên cái gì dư thừa, bao giờ bà cũng cất vô tủ lạnh, từ một chén mắm ăn giở cho đến đĩa đầu tôm rang mặn hay những mẩu vụn vặt của một nồi cá kho. Có lần Thuý phải kêu lên:
- Mẹ suốt đời ăn đồ thiu. Coi chừng mắc bệnh, kính chả bõ phiền. Mà ở bên này đồ ăn thiếu gì !
Bà Giáo cãi lại :
- Mẹ mày ! Thiu đâu mà thiu !
Thu cũng bực bội chen vào :
- Không thiu thì cũng đun đi đun lại cả tuần. Mẹ không đổ đi thì con đổ cho mà coi.
Và Thu làm thật. Chờ lúc bà Giáo lúi húi ở vườn sau, Thu dọn sạch banh cái tủ lạnh. Ít lắm thì Thu cũng lôi ra được nửa xoong cháo, một tô cơm nguội, một đĩa cải sào, một chén mắm ruốc kho và một lưng niêu nhỏ chứa cái gì "đen sì sì’ thịt không ra thịt, mỡ không ra mỡ lại lẫn lộn cả mấy cọng râu tôm.
Nhưng rồi chỉ tuần lễ sau, mọi sự đâu lại vào đấy. Chán rồi, tất cả đều để mặc cho bà tự do ăn uống theo ý mình, giống như Thu thì thích súp rau, Thuý thì thích bún thịt nướng, còn Tuấn thì thích ôm tô mì mì gói ra ngồi ở salon trước ti-vi. Ăn xong, đứa nào về phòng của đứa đó.
Trong căn nhà của xã hội Mỹ có những cánh cửa phòng khi đóng lại thì kín như bưng đã là cái hình ảnh khủng khiếp nhất đối với tâm trạng của bà Giáo. Khi bầy con của bà rút vô phòng rồi thì bà không biết chúng nó đang làm gì ở trong đó, hay nhỡ có chuyện gì không may xẩy ra đối với chúng nó ?
Đứng ở ngoài hành lang thấp thoáng ánh đèn vàng vọt héo úa, bà với chúng nó tuy thật gần nhau về khoảng cách nhưng tâm tình thì thật đã xa cách nghìn trùng, đến nỗi bà nhiều khi có cảm giác như những cánh cửa phòng vô tri kia đã cắt lìa bà ra khỏi cuộc đời của chúng nó. Nào chúng nó có biết rằng rất nhiều hôm mủi lòng, bà đã tựa đầu vào vách gỗ để sùi sụt khóc mùi.
Hồi ngày xưa, bà có thể nắm vững tình hình sinh hoạt hằng ngày của từng đứa. Về quần áo, mỗi đứa có bộ nào, chiếc quần nào của Tuấn có vết mạng, cái áo nào của Thuý hay Thu sứt chỉ hay được đơm lại khuy, vết sước trên tay Thu khởi sự từ bao giờ và nó đã được chữa trị ra sao, hôm nào thì liền da, bong vẩy, thậm chí đến từng cái răng lược bị gẫy, cái quai dép bong keo hay chiếc khăn tay bị ố mầu mực tím, nhất nhất bà Giáo đều nắm vững như tất cả những thứ đó nằm trên đường chỉ tay của bà.
Bây giờ thì bà rất hiếm hoi có dịp được bước chân vô phòng của cả mấy đứa. Muốn kêu đứa nào, bà phải đứng ngoài gõ cửa. Nhiều hôm cái Thu hay Thuý chỉ hé một chút xíu cánh cửa gỗ rồi thò đầu ra, trao đổi vài câu ngắn ngủi với bà rồi lại khép sập lại. Bà thấy rõ các con đã vượt xa tầm tay của bà. Mỗi đứa đều có thế giới riêng của mình kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Một lần Tuấn bị đau nằm liệt trên giường ba ngày liền.
Ôi thôi, bà Giáo thấy mình linh hoạt hẳn lên. Bà lăng xăng nấu cháo nóng, thái củ hành, vắt nước cam, giặt khăn nước lạnh, pha sữa hộp, quơ đồ cũ của Tuấn mang giặt và đem phơi. Bà tự do ra vô căn phòng của Tuấn mà không cần gõ cửa. Bà lại có thể ngồi hàng giờ ở cuối chân giường của Tuấn, lâu lâu lại sờ đầu, sờ chân, kéo mép chăn, căng mép vạt trải giường và nghe ngóng từng hơi thở khó khăn nặng nề của Tuấn.
Nhưng sự bận rộn đầy yêu thương và hạnh phúc đó của bà cũng chỉ kéo dài được ba ngày. Sau hôm Tuấn khỏi bệnh và đã đi làm được ngày đầu, buổi tối bà Giáo tiến lại cánh cửa của phòng Tuấn với dáng điệu rụt rè. Rồi bà ngập ngừng gõ nhẹ lên phiến gỗ. Tuấn hỏi vọng ra:
- Ai đó ?
- Mẹ đây !
- Có việc gì không hả mẹ?
- Không ! Mẹ hỏi thăm xem hôm nay con khá hơn chưa?
Giọng Tuấn đáp to : "Khoẻ như voi rồi, mẹ khỏi lo!"
Bà Giáo đứng tần ngần một lát rồi quay ra. Trong lòng bà dâng lên một niềm vui nghe con khỏi bệnh nhưng đồng thời cũng xen vào đó là cảm giác tiếc nuối, nôn nao như bà vừa bị đánh mất một cái gì thân thương khó tả.
Bà lại ra ngồi ở trên ghế salon, thu mình lại như một con mèo già ốm yếu, già nua. Phía bên kia cánh cửa kính là khoảng trời sâu hun hút điểm mấy vì sao thưa. Bà nghe văng vẳng hình như có âm thanh của những bản nhạc vọng lại từ rất xa phát ra từ những cánh cửa phòng đóng kín mít của các con bà.
Bà chợt thấy hối hận ngay với ý nghĩ điên rồ vừa chợt nẩy ra trong đầu :
" Con Thu, con Thuý sao chẳng bao giờ thấy chúng nó ốm đau cả !"
California, Mùa Vu Lan – 1983
[2] Hương Vị Ngày Xưa
Hồi ông bà Tâm quyết định dọn ra ở riêng, đối với ba anh em Hùng, Hương, Hạnh là cả một biến cố. Họ họp mặt nhau trong một buổi gặp gỡ riêng để bàn cãi sôi nổi. Hạnh, cô em gái út lên tiếng trách móc:
- Anh chị đối xử thế nào để đến nỗi bố mẹ phải ra ở riêng?
Hùng vò đầu bứt tai:
- Tao có làm gì đâu. Suốt ngày đi làm, chuyện gì xẩy ra ở nhà tao đâu có biết.
Hương nhìn anh bằng cặp mắt vừa buồn vừa giận:
- Làm gì mà anh chẳng thể biết. Có điều tại anh mũ ni che tai, không muốn biết đấy thôi.
Hùng đáp lại bằng một giọng yếu sìu:
- Ừ, thì cũng chỉ toàn là chuyện đụng độ vặt vãnh trong nhà với chị ấy, chứ có cái gì lớn lao đâu.
Hạnh chộp ngay lấy, mở to đôi mắt nhìn về phía anh và nói lớn:
- Vấn đề là ở chỗ ấy. Tính khí của bố mẹ thế nào, anh không biết sao. Lẽ ra, anh phải để tâm tới và phải có lời khuyên nhủ chị ấy về cung cách cư xử với bố mẹ. Ðằng này anh cứ ngậm tăm không nói, như thể anh cũng đồng ý về những điều chị ấy làm, hèn gì mà chị ấy chẳng làm tới.
Hùng bắt đầu nổi cáu:
- Mày ngon sao không mời bố mẹ về ở đi. Nói như thánh thán. Ðến lúc đụng độ với chồng, với con rồi mới thấy hoàn cảnh khó khăn của tao.
Hương thở dài:
- Hoàn cảnh của tụi em, anh đã thấy rồi. Cái Hạnh thì lấy chồng nghèo, chúng nó chui rúc trong một căn apartment, làm sao mời bố mẹ ở chung được. Còn em thì ở chung với gia đình nhà chồng. Mời bố mẹ về sao tiện. Chỉ có anh nhà cao cửa rộng, lại vợ chồng son, bố mẹ không ở với anh chị thì ở với ai ?
Hùng đáp:
- Thì tao vẫn năn nỉ mời bố mẹ ở chung chớ có ý kiến gì đâu. Chuyện ra ở riêng là ý muốn của bố mẹ thôi.
Hạnh không muốn nói gì thêm nữa. Nàng chỉ nhìn anh bằng đôi mắt trách móc. Trong khi ấy, Hương cũng nhún vai, lẳng lặng quay đi chỗ khác, lòng tràn ngập những nỗi buồn phiền. Ðiều này khiến cho Hùng càng cảm thấy nhột nhạt và tìm lời biện bạch:
- Chúng mày không ở hoàn cảnh của tao nên không thông cảm được. Này nhé, nhà mới, thảm mới, màn cửa, cái nào cái ấy trắng tinh khôi. Ngày nào chị ấy cũng phải dành rất nhiều thì giờ để chăm sóc từng ly từng tí. Thế mà bố cứ hút thuốc, phun khói như ống bễ lò rèn thì làm gì nhà không bị ám khói, đượm mùi. Nếu tụi bay ở địa vị của chị ấy thì tụi bay tính sao?
Hương không trả lời trực tiếp câu hỏi của anh, nhưng lại tố thêm:
- Em còn nghe nói chị ấy đòi giới hạn khu vực đi lại trong nhà để thảm trắng khỏi bị dơ. Có đúng không?
Hùng đáp:
- Cũng lại là một nỗi khổ tâm của tao nữa! Ai cũng biết mẹ là người ham xốc vác, làm lụng, suốt ngày cụ bì bõm ở vườn sau cuốc đất trồng rau, làm gì chân tay không dính đầy bùn. Với bộ thảm nhung trắng như tuyết đó, và với chân tay đó, làm sao không có chuyện đụng độ. Mà tao ở giữa tao làm gì được ?
Câu chuyện đi tới chỗ hoàn toàn bế tắc, chẳng ai nhìn ra được phương cách gì để giải quyết, nên cả ba chỉ ngồi thừ người ra, vẻ mặt của ai cũng đều rầu rĩ. Người nào cũng cảm thấy trong lòng buồn bã, xót xa và cùng nhớ lại thời kỳ tràn đầy hạnh phúc ngày xưa.
° ° °
Chỉ hơn năm năm trước đây thôi, khi chưa có ai lập gia đình và tất cả còn cắp sách đến trường thì bố mẹ con cái quây quần sống với nhau thật là vui vẻ. Ông Tâm hồi đó còn nhiều sức khỏe, lại cũng có công ăn việc làm tốt đẹp nên vẫn coi như cột trụ của gia đình. Bọn anh em Hùng, sống đời sinh viên, vừa đi học, vừa đi làm, tiền bạc góp chung lại thuê một căn nhà để mọi người cùng quây quần với nhau. Bà Tâm thì ở nhà lo hết mọi chuyện kể cả giặt giũ, nấu ăn cho cả nhà. Bầu không khí ấm cúng ngày xưa ở quê nhà lại được phục hồi trọn vẹn trong vòng tay yêu thương của tất cả mọi người.
Vui nhất là những bữa ăn do bà Tâm nấu nướng. Nhờ vật dụng, rau cỏ ở đây thức gì cũng có nên bà đã nấu những món quen thuộc của gia đình, với hương vị như gói trọn cả một thời thơ ấu của mấy anh em. Món canh dưa mà Hạnh luôn tấm tắc "tuyệt cú mèo", món cà-ri mà Hương nhận định "chỉ có mẹ nấu mới đặc biệt như vậy, ăn vào là biết ngay". Còn nhiều món khác nữa, cũng đã đi vào khẩu vị của gia đình như làm sống lại cả một thời yên ấm đã qua.
Thế rồi ngày vui qua mau. Hương lấy chồng trước tiên. Rồi đến Hạnh. Anh Hùng kiên trì thêm vài năm nữa, tốt nghiệp đại học, làm lương cao, tậu nhà mới, rồi lấy vợ. Bầu không khí đoàn tụ, thương yêu cứ như những làn sương mỏng tan dần theo ánh nắng của mặt trời đang lên.
Buổi gặp gỡ bàn thảo chẳng đi đến một kết quả gì. Thôi thì đành buông xuôi và mỗi người đành che giấu trong lòng một niềm chua xót riêng tư.
Ông bà Tâm từ ngày ấy dọn ra ở riêng tại một khu chung cư nghèo nàn. Tuy ở vào tuổi sấp sỉ sáu mươi, nhưng ông cũng còn lái được xe chạy đây, chạy đó. Bạn bè của ông giúp đỡ tận tình, người mách việc này, kẻ giới thiệu việc kia nhưng không việc nào được lâu bền. Có người thấy tình cảnh khó khăn của ông bà, đã cất lời khuyên giải:
- Mỗi thời, mỗi nơi có một phong tục, một cách sống. Ông bà giận con cái làm gì cho mệt thân.
Ông Tâm chỉ mỉm cười:
- Tôi đã nói với các ông nhiều lần rồi mà vẫn không chịu tin. Chúng tôi tự ý ra ở riêng chính là vì quan tâm đến chúng nó. Ở xứ này, tự do cá nhân là điều quan trọng hàng đầu. Mình không muốn làm cho đời sống riêng tư của chúng nó bị xáo trộn.
Cái ông vừa mới trước đây cất lời khuyên giải bỗng đã nổi sùng một cách mau chóng hơn ai hết. Ông ta vặc lên ngay:
- Tự do gì bằng bố mẹ của mình.Tôi lấy làm lạ cho cái xứ sở gọi là tuyệt đỉnh văn minh này.
Ông Tâm cười:
- Mỗi thời, mỗi nơi một phong tục. Ngẫm nghĩ ra, ông còn dễ nổi nóng hơn tôi. Nhưng mà ông ơi, phải tự biết mình và phải cảm thông thôi.
Rồi ông giảng giải:
- Theo tôi thấy, phong tục ta ngày xưa, các bậc làm cha mẹ tự đặt cái tôi của mình lên quá cao. Trong quan hệ bố mẹ - con cái, chỉ có bố mẹ là uy quyền tuyệt đối, con cái không có chỗ để len chân vào.
Ông bạn kia nhún vai:
- Cái đó thì cũng đúng thôi. Ðã làm con thì phải biết công lao dưỡng dục, sinh thành của bố mẹ chứ.
- Ðành rằng thế. Nhưng nhìn vấn đề như vậy vẫn chỉ có tính cách kể công mà không xem trọng cái quan hệ giữa người với người. Tôi cho rằng cái quan niệm đề cao tuyệt đối một con người, lại dẹp bỏ dứt khoát một con người khác, là quan niệm kể công, hẹp hòi. Cái đó phải sửa !
Ông bạn cười khẩy:
- Ái chà ! Ông lại còn đòi sửa sai cả phong tục, tập quán của tổ tiên, ông bà cơ đấy. Tôi không ngờ ông lại còn tự do hơn cả Mỹ nữa.
Ông Tâm vẫn mỉm cười, giọng tiếp tục nhỏ nhẹ:
- Ông bà của mình cũng có nhiều cái sai phải sửa lại chứ. Ông thử tính coi, hầu hết các vị làm bố, đều nhìn con cái như một lũ nô lệ dưới quyền. Hơi một chút là phật lòng. Hơi một chút là tự ái nổi lên đùng đùng. Thậm chí nhiều người còn sẵn sàng lôi con cái ra xỉ vả, đánh đập để thỏa cơn giận dữ của mình. Làm như chỉ mỗi một mình mình là có nhân vị, không đứa nào được đụng đến, trong khi nhân vị của chúng nó thì mình cứ coi như không.
Ông bạn mỉa mai:
- Thế là, theo ông, bố mẹ bây giờ, ở đây chẳng có quyền hành gì hết cả à?
- Có chứ sao không ! Nhưng sống là thỏa hiệp chứ không phải trấn áp.Thỏa hiệp không xong thì tự mình tách ra, cho khỏe cả hai bên. Chúng nó cũng có những hạnh phúc riêng phải duy trì, có những vấn đề riêng mình không thể lấy quyền làm cha mẹ mà tước đoạt đi được.
° ° °
Dĩ nhiên, vấn đề còn phải được bàn cãi rất nhiều, nhưng ông Tâm coi như đã lựa chọn cho mình một quan niệm sống, và điều này, ông lại được bà hoàn toàn chia sẻ. Chính vì thế, cả hai ông bà không thấy khổ tâm khi phải tách rời khỏi cuộc sống chung đụng với con cái. Ðời sống ở đây, có quá nhiều điều phải bận tâm nhất là về mặt ổn định kinh tế. Cả hai ông bà đã lăn lưng ra bương trải để có thể tồn tại trong tư thế độc lập. Có thời gian, ông đi cắt cỏ, làm vườn. Rồi đổi qua nghề gác dan, lái xe giao hàng. Còn bà thì vẫn ở nhà nấu nướng, coi sóc nhà cửa và kiếm phụ thêm bằng nghề xâu dây cườm cho một cửa tiệm bán đồ nữ trang, trang trí. Mỗi sợi dây cườm có khoảng hai trăm hột, cứ xâu năm hột mầu này lại đổi sang năm hột mầu khác.Xâu xong phải kiểm lại không được hột nào thiếu, hay là dư. Xâu tới xâu lui, lại mò mẫm đếm đếm, kiểm kiểm, cũng phải mất nửa giờ mới xong một sợi và được trả công hai mươi lăm xu. Mỗi ngày ngồi cặm cụi như thế, bà cũng kiếm thêm được vài đồng tiền chợ. Những đồng tiền ít ỏi nhưng đem lại cho bà nguồn vui và niềm tự hào.
Những ngày gần đây, đột nhiên ông thông báo:
- Tôi đã nhận đi bỏ báo hàng ngày. Có mệt hơn một chút nhưng tiền bạc khá hơn.
Bà Tâm nghe xong dẫy nẩy lên:
- Làm sao ông gánh vác nổi chuyện đó. Ông có biết rằng mỗi tờ báo ở đây nặng bao nhiêu không. Từ kí-lô rưỡi đến hai kí đó ông. Sức của ông làm sao ông liệng nổi.
Ông Tâm co ruỗi cánh tay của mình như ướm thử rồi nói:
- Báo kí rưỡi, hai kí là báo ra ngày Chủ nhật thôi. Còn ngày thường thì đâu đến thế.
Nhưng bà vẫn cương quyết:
- Nhưng ngày gì thì gì, cũng không hợp với sức khỏe của ông. Tôi đã biết nhiều người đi bỏ báo, họ lái xe trên đường phố, vẫn ngồi ở đó mà liệng tờ báo băng qua lề đường vào đến tận cửa. Khoảng cách xa thật là xa. Không có sức khỏe không thể làm được.
Thấy ông tần ngần, bà đề nghị:
- Hay là để tôi đi với ông. Ông chỉ việc lái xe, còn tôi cầm báo chạy vô đặt tại chỗ. Thế là khỏi phải ném, phải liệng.
Ông Tâm dẫy nẩy lên:
- Thôi bà đừng có vẽ chuyện. Bà phải biết, muốn có báo giao, phải đi từ một, hai giờ sáng để xếp hàng, lãnh báo, rồi cột dây. Hôm trời mưa còn phải thuồn báo vô bao ny lông cho khỏi ướt. Ba, bốn giờ sáng mới có đủ báo đem giao. Làm việc như thế sức nào bà kham.
Bà Tâm mỉm cười:
- Thì tôi chỉ phụ với ông ở phần giao báo thôi. Ông lãnh xong đâu đấy, tạt qua nhà đón tôi lên xe. Tôi sẽ đi để báo tại chỗ cho ông. Có gì đâu mà mệt.
Ông Tâm không có cách nào từ chối, đành ưng thuận.
Thế là mỗi buổi sáng, cả hai ông bà ngồi trên chiếc xe cũ kỹ, chạy khắp các đường phố. Tới mỗi nhà, bà lanh lẹ mở cửa xe, đem tờ báo chạy tọt qua lề đường và đặt ở ngay trên ngưỡng cửa. Ông vẫn để xe nổ máy, ngừng chờ, mắt theo dõi bước chân thoăn thoắt của bà chạy trên nền xi măng. Trong đầu của ông, bà luôn luôn hiện ra hình ảnh một người bạn đường tuyệt vời, chia xẻ với ông mọi điều, lúc vui vẻ cũng như khi buồn rầu, khi sung túc cũng như trong nghèo khó, lúc ốm đau cũng như khi khỏe mạnh. Trong những trạng huống ấy, bà đã thực hiện một cách triền miên và cụ thể lời rao giảng của cha xứ ngày nào cách đây hơn ba chục năm trong lễ hôn phối của hai ông bà. Ông luôn luôn tự nhủ, ông là một người may mắn. Hôn nhân chẳng phải là một điều dựa trên sự may rủi hay sao? Ông nhận thấy, hồi này, trong tâm tưởng, ông thường hay ôn lại những tháng ngày của thời kỳ hai người còn son trẻ. Hình ảnh của bà hiện ra trong ý nghĩ của ông bao giờ cũng là một người khả ái, dịu dàng, lúc nào cũng tận tụy, gắn bó, chia xẻ với ông trong bất kỳ tình huống nào. Lòng ông cảm thấy xúc động, bồi hồi xen lẫn với cảm giác yên ổn, mãn nguyện như nhận thấy mình đã đi qua gần hết mọi quãng đường đời mà không thấy có điều gì phải tiếc nuối cả. Ðiều này khiến cho ông gìn giữ được niềm lạc quan trong đời sống cho dù rất vất vả, cực nhọc. Hơn thế nữa, ông còn cố gắng che giấu hoàn cảnh cực nhọc của mình để các con của ông khỏi buồn lòng. Cái Hương, cái Hạnh thường xuyên điện thoại hỏi thăm bố mẹ. Bao giờ ông cũng trấn an chúng nó bằng những tiếng cười ròn rã:
- Bố mẹ lúc nào cũng thấy vui vẻ, thoải mái, đừng có lo!
Cũng có nhiều lần cả hai chạy đến dấm dúi cho mẹ những tờ giấy bạc. Nhưng bao giờ bà cũng dẫy nẩy lên:
- Thôi cứ giữ lấy mà lo cho chồng cho con. Chừng nào cần, tao hỏi.
Sự quả quyết của bà khiến cho cả hai cùng cảm thấy yên lòng. Trong thực tế, họ cũng không biết rõ bố mẹ đã làm những gì để sinh sống ngoài ý niệm mơ hồ rằng bố quen thuộc nhiều bạn bè, nên có nhiều cơ hội để sẵn sàng có đủ mọi loại công việc, trong khi ấy, mẹ thì cặm cụi ngồi xâu chuỗi cườm kiếm thêm, kể ra cũng nhàn nhã, không lấy gì làm vất vả.
Cho đến một hôm, ông Tâm cảm thấy mình khó nhỏm dậy được vào lúc một giờ sáng. Nằm ở giường bên kia, bà Tâm đã lên tiếng nhắc chồng đến hai ba lần:
- Một giờ rồi đấy ông.
Bà thấy ông cựa quậy, giở mình, nhưng rồi vẫn êm ru. Trong cơn nửa thức, nửa ngủ bà nghĩ ngợi lơ mơ, nhưng rồi bà chợt choàng dậy vì một cơn hốt hoảng từ đâu chợt ùa đến xâm chiếm trọn vẹn đầu óc của bà. Bà nghĩ đến ông, đến tuổi tác của ông, đến sức khỏe của ông có nhiều sút giảm thấy rõ sau những ngày tháng mò mẫm dậy từ lúc nửa khuya về sáng. Hôm nay ông không trở dậy đúng giờ là một điều bất bình thường. Bà bỗng thấy xương sống của mình lạnh buốt. Bà vội nhào qua bên giường của ông, cất giọng thất thanh:
- Ông làm sao thế?
Lại có tiếng của ông Tâm cựa mình. Bây giờ thì ông có vẻ tỉnh táo hơn. Ông nghển đầu lên, vừa thò tay bật nút đèn vừa cố nhoẻn một nụ cười trấn an:
- Có gì đâu! Có gì đâu!
Bàn tay của bà quờ quạng nắm được cánh tay của ông. Bà nhìn thẳng vào mắt ông như vận dụng bao nhiêu năm kinh nghiệm sống chung của mình để tìm hiểu xem thực sự chuyện gì đã xẩy ra cho ông. Ông Tâm lại nói:
- Tôi chỉ hơi mệt mệt một tị. Bà đừng có lo.
Rồi ông cố gắng ngồi dậy. Chân tay của ông cử động được dễ dàng, nhưng sao trái tim của ông thắt lại. Một cơ bắp nào đó đang co rút khiến cho một vẻ đau đớn thảng thốt vụt hiện ra trên nét mặt rúm ró của ông. Ông lại nằm vật xuống và bây giờ thì bà không còn giữ được bình tĩnh nữa rồi. Bà hối hả ngồi xuống,vực ông dậy,lòng tràn ngập lo âu, tiếng nói của bà đã ríu lại:
- Ông làm sao thế? Ông cảm thấy thế nào?
Ông Tâm yên lặng không trả lời. Ông còn đang bận tâm nghe ngóng xem cái cơ bắp trong tim mình vận hành ra sao. Nó đã rút lại khiến cho ngực của ông nóng ran lên, và đem lại cho ông cái cảm giác cực kỳ đau đớn. Ông nhắm nghiền mắt lại, vận dụng khả năng chống trả của mình, để ráng chịu đựng cơn đau. Ông nghĩ chuyện gì tới rồi nó cũng sẽ tới. Ông không có điều gì phải tiếc nuối cho cuộc đời đã có quá nhiều đắng cay vất vả của ông. Một lúc sau, bỗng ông cảm thấy như cơn đau đã giảm cường độ. Hình như có đường gân nào đó đang rãn trở ra. Nó rãn đến đâu, ông cảm thấy dễ chịu đến đó và lồng ngực của ông trở lại ấm áp như bình thường. Một cảm giác dễ chịu chạy lan từ thân mình xuống tới tận các đầu ngón chân. Ông vui vẻ nhe răng cười:
- Có gì đâu! Tôi thấy dễ chịu rồi.
Vừa nói ông vừa ngồi thẳng dậy. Cử chỉ của ông nhanh nhẹn như bình thường. Ông gỡ cánh tay của bà ra và nhẩy xuống khỏi giường. Mắt ông liếc qua chiếc đồng hồ để trên mặt bàn. Hai chiếc kim đã chỉ gần một giờ ba mươi. Vậy là ông đã bị chậm trễ mất hơn mười lăm phút. Cũng không hề hấn gì. Chỉ đóng gói các tờ báo lẹ chân, lẹ tay hơn một chút là đâu lại vào đó. Rồi ông lại sửa soạn như thường lệ và rồ xe ra đi.
Ông không thể biết rằng sau khi ông đi thì bà cũng không ngủ lại được nữa. Trong thâm tâm của bà đã lộ ra một ý nghĩ quyết liệt: phải chấm dứt cái nghề bỏ báo vất vả này cho ông càng sớm càng tốt. Áo cơm là vấn đề thiết thân thật, nhưng cũng không thể vì nó hy sinh toàn bộ sức khỏe của mình trong khi vẫn còn những đường lối khác để cứu vãn.
Bà đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, bỏ thì giờ chạy đôn chạy đáo để thăm dò trong đám bạn bè quen thuộc. Rồi vài ngày sau, bà báo tin với ông là bà đã tìm ra được một công việc mới. Ði coi nhà, nấu nướng và giữ em cho gia đình một cặp vợ chồng trẻ. Lương lậu không đủ chi trả tất cả mọi chi tiêu, nhưng cũng bù đắp được lỗ hổng một khi ông bỏ việc. Và bà yêu cầu chấm dứt việc đi giao báo hàng ngày. Ông giơ tay lên ôm đầu, giọng đầy xót xa:
- Ðã đến nỗi nào mà bà đã phải làm như thế.
Bà nghiêm khắc nhìn ông như bà đang nắm giữ trong tay tất cả mọi uy quyền. Cái quyền được bảo vệ sức khỏe cho ông. Giọng của bà chắc nịch:
- Không còn đường nào khác! Ông phải nghe lời tôi. Vả chăng ông đã chẳng thường nói chẳng có nghề nào lương thiện mà mình không thể làm. Giữ em cho người ta chứ có gì đâu mà ông phải băn khoăn.
Biết tính của bà mỗi khi ứngxử tùy theo từng hoàn cảnh, ông đành nhún vai buông xuôi.
Thế là từ hôm ấy, bà để ông lái xe đưa bà đi làm lúc gần tám giờ, buổi chiều ông tới đón vào lúc bẩy giờ. Một tuần sáu ngày, trừ ngày Chủ nhật. Bọn cái Hương, cái Hạnh có gọi điện thoại đến hỏi thăm, bà dặn ông trả lời:
- Mẹ đi làm ở xưởng may. Lương bổng khá mà cũng không vất vả gì nhiều.
Mà quả thực, coi vậy chứ bà cũng không đến nỗi phải lao lực trong khi làm việc. Ðôi vợ chồng trẻ cùng có công ăn việc làm. Họ giao cho bà trông đứa bé mới vừa tròn ba tháng. Thằng bé ngoan ngoãn, tới giờ là bú sữa bình, bú xong thì nằm chơi trên chiếc giường đu đưa có gắn loại máy phát ra những bản nhạc êm dịu, nhẹ nhàng. Bản nhạc bao giờ cũng ru đứa bé vào giấc ngủ say sưa. Nhờ thế bà có dư thì giờ để dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị bữa cơm chiều. Khi đôi vợ chồng trẻ trở về thì mọi sự đã gọn gàng đâu vào đấy. Cơm nước cũng sẵn sàng. Món ăn rất vừa miệng khiến nhiều lần cô vợ buột miệng khen ngon. Ðến nỗi có lần nàng đề nghị với bà:
- Cháu thỉnh thoảng có mời bạn bè ăn uống vào tối thứ Bẩy. Những bữa đó, nhờ bác nấu nướng thêm đũa thêm bát giùm cho.
Rồi như sợ bà cảm thấy công việc trở nên vất vả hơn, nàng giải thích tiếp:
- Nấu cơm thường thôi chứ không bầy vẽ gì cả. Bởi nếu bầy vẽ thì cháu đã mời họ đi ăn tiệm. Ðằng này, chúng cháu chỉ gặp nhau hàn huyên trong không khí gia đình.
Bà Tâm vui vẻ nhận lời ngay:
- Thế thì được. Không phải tôi ngại vất vả, nhưng tổ chức tiệc tùng thì tôi nấu nướng không rành, sợ dở không ăn được. Chứ còn cơm thường thì đâu có sao.
Rồi bà kê ra một loạt những món ăn hàng ngày để tùy nghi lựa chọn.
Một ngày thứ Bẩy sau đó, bà bầy biện tươm tất một bàn ăn có tới tám người. Hai bát canh dưa nghi ngút khói đặt giữa những đĩa rau xà lách xanh tươi xen lẫn với những đĩa thịt kho nhừ, và thịt bò xào lẫn với những miếng khóm vàng tươi.
Người chủ nhà tiễn bà ra cửa lúc giờ về, đã nắm lấy tay bà cất giọng đầy cảm kích:
- Bác sửa soạn cho cháu thế này là chu đáo quá rồi. Tối nay chúng cháu tha hồ được vui.
Bà nhìn người vợ trẻ với ánh mắt đầy hân hoan. Bao giờ bà cũng tìm thấy niềm vui trong việc làm hài lòng người khác. Lúc ngồi trong xe trên đường về nhà, bà vui vẻ kể chuyện cho chồng nghe về công việc trong ngày của mình.
Cả buổi tối thứ Bẩy hôm đó, bà luôn luôn thấy lòng nhẹ nhõm, thanh thản. Bà có cảm giác như mình vừa hoàn thành một công việc trọng đại : cất được cái gánh nặng nề vất vả để gìn giữ sức khỏe cho chồng.
Duy có điều, nếu bà hình dung được những gì đã xẩy ra trong buổi tối hôm đó thì chắc niềm vui của bà không được trọn vẹn như thế. Bởi vì, trong đám bạn bè của đôi vợ chồng trẻ tụ tập hôm đó, lại có cả sự hiện diện của Hạnh và Hương.
Lúc ngồi vào bàn ăn, mùi canh dưa bốc khói tỏa lên, làm cả hai xuýt xoa vừa nói với nhau, vừa nói với tất cả mọi người:
- Trời ơi! Tuyệt cú mèo! Ðã lâu lắm không được ngửi thấy mùi canh dưa.
Rồi Hạnh múc một muỗng nhỏ đưa lên môi nếm thử. Hương vị của muỗng canh làm đầu lưỡi của nàng tê đi và đồng thời làm thức dậy trong ý nghĩ của nàng những cảm giác xôn xao, quen thuộc. Hình như chứa ở sau cái vị bùi bùi, ngậy ngậy, chua chua là hình ảnh của khuôn mặt đầm đìa mồ hôi của mẹ nàng thấp thoáng sau nồi canh đang nghi ngút bốc khói. Rồi đâu đây, rộn rã vẳng lên những tiếng cười, không phải là tiếng cười của Hùng, của Hạnh, của Hương bây giờ mà là của cả ba người trong quãng thời thơ ấu ngày xưa, sau một ngày chạy nhẩy rông dài đầu làng cuối xóm, lòng dạ đói meo, tất cả cùng kéo nhau về tìm mẹ ở trong bếp để ríu rít đòi ăn. Mùi canh dưa y hệt như thế này, đã tỏa lan trong căn bếp chật chội, có mái thấp và những sợi mồ hóng rủ xuống từ những cái đà bằng tre nứa bắc ngang. Mẹ như một bà tiên hiền hậu, hai mắt long lanh, hai má của mẹ đỏ hồng. Mẹ cười như nắng tỏa lúc ban mai:
- Các con đi rửa tay chân rồi ăn cơm. Mọi thứ sẵn sàng hết cả rồi.
Lũ nhỏ chạy túa đi, như một bầy chim nhỏ vui tươi, ríu rít vì được che chở, được yêu thương, chăm sóc.
Trong khoảnh khắc, lòng Hạnh chùng xuống và nàng cảm thấy mùi canh dưa bây giờ đang tỏa ngát chẳng những ở bầu không khí chung quanh mà còn tràn ngập cả trong tâm hồn của nàng. Nàng liếc sang phía chị Hương và nhận ra ngay chị ấy hình như cũng đang trải qua một cơn xúc động. Nhưng rồi bất chợt, có tiếng của Hằng, cô bạn chủ nhà trẻ tuổi vang lên, đầy vẻ mãn nguyện:
- Các bồ đã thấy canh dưa tuyệt cú mèo không. Của bà Tâm, người làm mà chúng tôi mới mượn được đấy! Bà này nấu ăn phải nói là số một!
Tai của Hạnh ù lên. Nàng không còn nghe thấy được tiếng xôn xao của các bạn bè khác đang thi nhau phát biểu ý kiến về những món ăn trên bàn. Nàng có cảm giác như bất chợt có một bàn tay lạnh lùng, tàn nhẫn nào xoè ra, nắm lấy trái tim của mình rồi xiết lại. Cơn đau ùa đến bất chợt làm Hạnh thót người lại, những nét nhăn nhúm chợt hiện ra trên khuôn mặt xanh xao và yếu đuối của nàng, và bỗng nhiên những giọt nước mắt chợt trào ra, chan hòa trên bờ mi làm khung cảnh sáng rỡ ở chung quanh bỗng nhiên trở nên nhòe nhoẹt. Ngồi chết sững ở đó, Hạnh không cất lên được một lời nào, nàng cũng không thể suy nghĩ thêm được một ý nghĩ nào khác ngoài sự nhận thức mơ hồ rằng chị Hương cũng đang đứng dậy. Một tay chị ấy xô cái ghế để lấy lối ra. Một tay giơ chiếc khăn ăn lên che kín gần cả khuôn mặt. Hình như chị ấy đang hối hả đi tìm chỗ có phòng rửa mặt.
California, 25/6/94
[3] Người Tù Cuối Năm
Khi lão thủ trưởng về tới đơn vị thì trời đã xế chiều. Hôm nay ba mươi Tết, các cơ quan đều nghỉ việc nên truớc cổng trụ sở không còn diễn ra cái khung cảnh ồn ào, hỗn độn của đám dân chúng chờ đợi để xin giấy tờ. Việc canh phòng cũng lơi là hẳn đi. Trên chiếc chòi đóng bằng gỗ thùng sữa tùm hụp như chiếc chuồng chim, lão thấy một nhân viên của mình đang ngồi hút thuốc trong tư thế chiếc ghế ngồi bị đưa ngả cả về đằng sau để cho lưng anh ta dựa được hoàn toàn lên vách gỗ. Điều này làm anh ta không nhìn thấy vị thủ trưởng của mình vừa đạp xe tớí. Mãi tới lúc lão ta xuống xe và đã dắt chiếc xe đeo lỉnh kỉnh đủ thứ túi, giỏ, gói đồ cồng kềnh đi qua cánh cổng làm bằng sườn gỗ và những sợi kẽm gai thì anh chàng gác trên chòi canh mới bật dậy, giọng nói hốt hoảng hẳn lên:
- Thưa thủ trưởng, thủ trưởng đã về. . .
Lão ngước mắt nhìn lên. Ánh mắt đầy nghiêm khắc, nhưng miệng lão vẫn nở một nụ cười làm ra vẻ hiền lành, dễ thương tương phản hẳn vớí tia nhìn lạnh buốt như lưỡi dao mới mài sắc. Lão nói với thủ hạ một câu, bằng một giọng chọn lựa đủ để anh ta không đoán ra được là lão đã xuề xòa bỏ qua hay vẫn còn để tâm tới sự canh phòng lơi là của mình:
- Mọi sự tốt cả đấy nhỉ ?
Anh lính công an vội vã xoắn xuýt:
- Thưa thủ trưởng mọi sự tốt cả. Trừ có mỗi một vụ ngày hôm qua. . .
Anh ta chưa kịp nói hết câu thì lão đã đi ngang qua mặt, chẳng ra vẻ ngạc nhiên hay chú ý gì tới lời báo cáo bất thường này. Hình như lão ta không cho anh cái dịp để xuề xòa cái tội đã canh gác trong tư thế "ngồi trên ghế mà dựa cả lưng vào vách gỗ đề nhìn trời".
Lão lầm lũi dắt cái xe đi qua một khoảng sân cỏ nhỏ. Mặt tiền của trụ sở cơ quan đóng im ỉm nhưng ở phía trong vọng ra những tiếng cười nói ồn ào. Lão đi vòng ra phía sau và qua khung cửa sổ, lão nghe thấy tiếng reo hò lẫn những tiếng chửi thề tục tĩu.
Lão dựng chiếc xe ở đầu hè, cố tạo ra tiếng động rổn rảng bởi chiếc bàn đạp cọ sát trên sàn xi măng để gây sự chú ý của mọi người. Lão không muốn khi mình sắp bước vào văn phòng mà mọi người trong đó không ai hay biết gì cả, nhất là trong cái hoàn cảnh tất cả đều đang bệ rạc chúi đầu vào canh bạc.
Sự đánh tiếng của lão có ngay kết quả, vì hình như trong đám nhân viên đang sát phạt, vẫn có kẻ thỉnh thoảng liếc ra sân dòm chừng. Tiếng động do lão gây ra lập tức làm cho tiếng ồn ào bỗng nhiên im bặt. Lão bước những bước thật chậm về phía cửa phòng và cảm thấy hài lòng về sự im lặng tuyệt đối ở chung quanh mình. Điều đó có nghĩa là lão vẫn nắm trọn vẹn quyền uy ở đây, loại quyền uy luôn luôn gắn theo một mục tiêu là tạo ra cái cảm giác khiếp sợ bao trùm trên tất cả mọi người.
Rồi lão bước chân vào phòng. Kẻ đứng ngay phía ngoài là một nhân viên trẻ. Anh ta mớí được đổi về đây không đầy hai tháng. Trong mọi trường hợp, anh ta luôn luôn chứng tỏ là một kẻ cuồng tín nhưng lại rất non tay nghề ở chỗ dễ hốt hoảng, dễ bốí rối. Cho nên mới vừa chỉ chạm vào ánh mắt sắc lẻm của lão, là Vinh, tên anh ta, đã vội vàng nói bằng một giọng ấp úng:
- Thưa Thủ trưởng. ..hôm nay cuối năm. .
Rồi mặt Vinh đỏ rần lên. Anh ta không thể tìm thêm được lời nào để tiếp nối câu nói của mình. Ngay lúc đó, ở góc phòng có giọng nói quen thuộc của Hào cất lên:
- Thủ trưởng đã về. Anh em đang vui tất niên. Nếu không mệt xin mời thủ trưởng nhập cuộc với anh em.
Lão đưa mắt về phía cuối phòng. Lão thấy Hào đang cởi trần và trên tay còn cầm mấy quân bài. Trong đám thủ hạ, Hào là kẻ vững chãi nhất. Gã có một đức tin mãnh liệt. Điều này nhiều lúc biến gã thành một kẻ cứng đầu, nhưng đồng thời cũng là một nhân viên ưu tú, góp phần đắc lực trong mọi công tác điều hành ở đây. Tuy nhiên về một phương diện nào đó, đối với thủ trưởng, gã lã một tên đáng ngại. Tận tụy và hay rình mò. Đó là đặc điểm của những kẻ đứng chung trong cùng một ngành, làm chung một cơ quan, chia sẻ chung một mối quan tâm hay một công tác được giao phó.
Thái độ ngang nhiên của Hào đáng để cho lão ngừng lại một giây. Lão nhìn thẳng về phía Hào. Lão cố tạo cho mình một vẻ ngạo nghễ, ở ánh mắt, ở nụ cười chỉ nhếch ra không tới một nửa vành môi, bờ vai của lão cũng vuông thẳng lại. Rồi lão cất tiếng khoan thai, pha một chút bỡn cợt nhưng nhiều phần là quyền uy:
- Nhập cuộc với các đồng chí thì sẵn sàng rồi. Nhưng đừng vì ham vui mà mất cảnh giác đấy nhé.
Trong sinh hoạt thân thiết, ngoài nhiệm vụ hằng ngày, khi dùng tới tiếng "đồng chí" với nhau thì đó là lúc bắt đầu có vấn đề. Ai cũng thấy vậy. Và lão đã sử dụng tiếng xưng hô đó để bầy tỏ sự bất như ý của mình. Rồi không chờ cho Hào có dịp nói thêm một câu nào khác, lão lầm lũi quay lưng trở ra. Mấy nhân viên đang đứng gần đó vội vă lùi giật lại mặc dù lối đi còn rộng rãi. Lão trở về bàn giấy của mình trong một căn phòng ở cuối dẫy hành lang. Khi lão kéo ghế ngồi xuống trước đống hồ sơ ngổn ngang trên mặt bàn thì Hào cũng đã vội vã theo vào. Bây giờ hắn đã mặc thêm chiếc áo sơ mi tươm tất. Sự bỏ cuộc chơi đang ồn ào của gã để tớí trình diện mình ngay khiến lão thấy cơn bực tức dịu lại. Lão nhoẻn ngay một nụ cười hoàn toàn dễ dãi rồi nói với gã bằng một giọng cởi mở, thân thiết:
- Sao chú Hào? Tết nhất rồi, nhớ nhà không?
Hào vui vẻ:
- Em mới nhận được thư của bà cụ hồi chiều. Cụ nhận được gói quà em gửi về rồi. Thôi, thà để tiền mua thêm cái bồi dưỡng cho nhà còn hơn là dẫn thân về, có đồng nào chạy vào tiền xe đi đường hết.
Lão mỉm cười :
- Hà..hà...Chớ không phải vì cô Tâm bên quán hàng trước cổng cơ quan mà chú chịu bỏ mấy ngày phép để ăn Tết ở đây hả?
Mặt Hào đỏ bừng lên. Gã tỏ ra luống cuống thấy rõ. Hiển nhiên là cấp chỉ huy của gã đã nhìn thấu đến tận tim đen của mình. Điều này làm lão thủ trưởng càng thêm hài lòng vì lão đã nắm trúng nhược điểm của gã nhân viên dưới quyền. Chỉ một sự vướng mắc này thôi thì lão cũng đã có dư điều kiện để vo tròn bóp méo con người của Hào như một món đồ chơi trong tay rồi.
Lão đổi giọng nghiêm chỉnh:
- Chú trẻ, chưa vợ thì có quyền tìm hiểu. Nhưng chớ có nhẹ dạ để mất cảnh giác đấy nhé.
Rồi lão chuyển ngay qua đề tài khác:
- Bây giờ chú báo cáo cho tôi cái vụ xẩy ra hôm qua coi.
Hào giật nẩy người lên. Gã thực sự thán phục cấp chỉ huy của mình về cái tài ma xó này. Lão ta về đây chưa đầy mười phút đồng hồ, lại chưa tiếp xúc với ai, chính gã là người đầu tiên đến chào lão, thế mà lão đã "nắm được tình hình" thì thần sầu quỷ khốc thật ! Hào cứ ngẩn mặt ra mất đến mấy giây rồi mới sực tỉnh và nói vội vã:
-Trình thủ trưởng, vụ này không xẩy ra trong phạm vi trách nhiệm của mình. Việc phát giác chiếc tầu trốn ra nước ngoài là ở khu vực của bên các đồng chí Vĩnh Hậu. Lúc bị phát giác, bọn phản động chạy phân tán khắp mọi chỗ. Đồng Văn có, Minh Thuận có. Thuận Hiệp cũng có. Riêng khu vực của mình thì chúng em chỉ bắt được một tên mà chúng em đánh giá là chủ chốt. Bản báo cáo đầy đủ nội vụ em đã thảo và đệ trình trong hồ sơ trên bàn của thủ trưởng rồi.
- Chú thông báo vụ này đi những đâu rồi?
- Chưa! Em chờ lệnh thủ trưởng !
Mặt lão thoáng một vẻ hài lòng. Dĩ nhiên trước sau gì thì hồ sơ cũng được chuyển đi, nhưng lão không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ một yếu tố sơ xuất nào có thể tránh trước để có thể được rộng rãi hơn trong cung cách giải quyết vấn đề. Yếu tố chủ động bao giờ cũng là điều kiện tuyệt hảo trong mọi công tác.
Lão vẫy tay cho Hào lui ra rồi tiến lại bàn mở tập hồ sơ ra coi. Hào đã báo cáo khá đầy đủ, từ bản tự khai của người tù cho đến lý lịch của đương sự, bản phúc trình nội vụ của Hào cùng biên bản về những tang vật tịch thu được. Mải nghiền ngẫm đến hơn nửa giờ sau lão mớí đặt tập hồ sơ xuống bàn.
Những chi tiết ghi trong tập hồ sơ quả thực đã lôi cuốn lão một cách mãnh liệt đến nỗi lão quên bẵng cả mọi cảnh vật chung quanh, lúc này thì nắng đã xuống thấp ở lùm cây phía bên ngoài cửa sổ và xa xa thỉnh thoảng vẫn có tiếng pháo đì đẹt vọng lại mang hương vị phảng phất cái rộn ràng của một ngày giáp tết.
Trong khoảnh khắc, lão đã quên đi tất cả hiện tại để đắm hồn mình vào dĩ vãng xa xăm với những nhân danh, địa danh ghi trong tập hồ sơ trên bàn mà hàng mấy chục năm qua, lão không có dịp được nghe nhắc lại. Những tên người tên đất năm xưa xen lẫn với mớ kỷ niệm hỗn độn, mơ hồ tưởng như đã xóa nhòa trong dĩ vãng nhưng nay vụt trỗi dậy như hiện lên qua những hàng chữ đã lôi kéo lão trở về những ngày của thời kỳ đầu cách mạng. Lão vội vã đứng bật dậy và toan tìm xuống phòng tạm giam tù nhân. Nhưng bản tính trầm tĩnh đã khiến lão tự kiềm chế được ngay hành động vội vã của mình. Cả một đời lăn lộn trong đấu tranh nhiều khi vào sinh ra tử, nếu lão có leo lên được tới chức vụ bây giờ thì phần lớn cũng là nhờ ở cái sự biết tự kiềm chế đó.
Vì thế, lão chỉ tiến ra phía cửa sổ và móc túi lấy bao thuốc lá châm một điếu để cho cái đầu tự do lan man suy nghĩ. Bên ngoài, trời đang bảng lảng nắng chiều in một mầu vàng úa lên những ngôi gò thấp có những bụi cây um tùm xào xạc tiếng lá xen lẫn tiếng chim. Cho đến cái giây phút đó lão mới chợt ngạc nhiên nhận ra rằng ở đây sao giống với khung cảnh thôn cũ ngày xưa của lão đến thế, vậy mà suốt thời gian qua do bận rộn nên lão không hề nhận ra. Bây giờ thì lão phó mặc cho dòng tâm tưởng của mình trôi về dĩ vãng với hình ảnh của con sông hiền từ chẩy qua xóm làng, có những cánh đồng xanh bát ngát với những mái tranh lô nhô sau những bụi tre già, những thân cau thẳng tắp nhô lên bầu trời mầu xanh lơ và những đụn rơm cao ngất ngưởng mọc lên sau những vụ mùa. Chính ở đó đã xẩy ra cái bi kịch đầu đời của lão và cũng chính từ nơi đó, lão đã bỏ ra đi mang theo trong lòng tất cả mối hận thù của một con người bị đàn áp dưới bạo lực.
Rồi hơn ba mươi năm trôi qua, trong khoảnh khắc, cái khởi sự và cái hiện thời bỗng nhiên trùng hợp nhau, ở đây, tại cái đồn công an hẻo lánh này qua tập hồ sơ báo cáo về một tên tù, một nhân vật mà lão không bao giờ quên, từ dáng dấp của hắn cho đến ánh mắt cuối cùng mà hắn đã nhìn lão trước khi mỗi người nổi trôi theo một ngả khác nhau trên đường đời.
Lão đi làm cách mạng, với tất cả sự say mê lúc khởi đầu nhưng sau đó cũng dần dà phai nhạt, nhất là sau những năm dài chứng kiến những cuộc đấu tố kinh hoàng ở miền Bắc. Lão cũng nhận biết được sự đổi thay ấy trong tâm tư của mình, nhưng cuộc sống vẫn lôi lão đi như một khúc gỗ trôi theo dòng.
Hôm nay, ở đây, nơi cái đồn công an hẻo lánh này, bỗng nhiên lão thấy như chưa bao giờ lão thấm thía với chính lòng mình như trong giây phút này, cái giây phút khởi đi từ lúc lão miệt mài nghiền ngẫm bản báo cáo do Hào đã để trên bàn. Những nhân danh, địa danh ghi gói trong đó chợt lôi lão trở về dĩ vãng ngày xưa và đặt lão trong khoảnh khắc vào vị thế của một con người sống cùng một lúc tới hai hoàn cảnh : Một kẻ bắt đầu ra đi và một kẻ đã đi gần như tận cùng của con đường cách mạng. Nhìn lại thành quả, lão thấy xã hội chung quanh hầu như chẳng thay đổi gì. Con người chung quanh lão vẫn lầm than cơ cực. Công cuộc đấu tranh giai cấp làm nẩy sinh một giai cấp mới có đầy đủ bản tính bóc lột của chính cái giai cấp mà nó vừa đạp đổ !
Nói cho ngay, cái nhận thức kinh khủng này chỉ gậm nhấm lão một cách âm ỉ và chẳng thường xuyên. Bởi vì một phần là lão quá bận rộn trong công tác, phần khác là do chính lão muốn giập tắt nó ngay vì lão tự nghiêm khắc cho mình là đã lệch lạc mất cảnh giác, mất lập trường.
Nhưng vào buổi chiều hôm nay, một buổi chiều cuối năm có những tiếng pháo đì đẹt từ xa vọng lại hầu như mang đến cho lão một sự hối thúc muốn quay trở lại những hình ảnh ngày xưa. Lão quăng điếu thuốc đang hút giở qua khung cửa sổ rồi mở cửa phòng tiến ra hành lang, đi về phía phòng tạm giam. Viên cảnh vệ đang ngồi trên ghế, trông thấy lão vội vàng đứng day. Lão cất tiếng hỏi :
- Yên ổn cả chứ?
- Trình Thủ trưởng, mọi sự bình thường.
Lão kéo tấm vải bạt che kín bên ngoài phòng giam để nhìn qua những song gỗ. Lão trông thấy người tù cuối năm đang nằm co quắp tại một góc chật hẹp, ẩm thấp, nhờ nhờ ánh sáng. Chiếc áo sơ mi hắn mặc trên người đã rách bươm để phô ra một mảng lưng bầm giập và đọng nhiều vết máu. Chợt lão thủ trưởng hơi nhăn mặt lại. Hình như lão bắt gặp lại cái hình ảnh bầm máu của chính mình hồi hơn ba mươi năm về trước.
Tay lão bấu chặt lấy một tấm song gỗ. Lão gần như thò cả nửa mặt của mình qua khe song để cố nhìn người tù cho thật rõ. Nhưng ông ta vẫn im lặng nằm ở đấy, không ngước lên, cũng chẳng quay ra nhìn. Trầm ngâm giây lát, lão thủ trưởng quay lại nói với viên cảnh vệ:
- Thằng này nguy hiểm đây. Phải coi chừng !
Nói rồi lão tất tả đi lên phòng. Lão sai một đàn em mang tất cả mọi thứ vặt vãnh quà bánh, thực phẩm Tết mà lão mua được ở trên thành phố đem ra bầy la liệt lên mặt bàn. Ngoài mấy món đồ dùng lặt vặt như bàn chải răng, xà phòng, dao cạo râu, khăn mặt, vài cuốn sách mới xuất bản, còn kỳ dư toàn là đồ ăn Tết. Có mứt. Có rượu. Có bánh chưng, lạp xưởng và nhiều đồ hộp linh tinh khác đủ để khao cả cái đồn nhỏ bé này một bữa thịnh soạn. Lão gọi Hào vô để ban chỉ thị :
- Thông cảm với các chú vất vả quanh năm,1ại tình nguyện không xin phép về quê ăn Tết, tôi khao các chú một bữa tất niên!
Cái tin ấy loan ra làm bầu không khí trong đơn vị rộn ràng hẳn lên. Hào nhanh nhẩu lãnh nhiệm vụ điều động mọi công việc cần làm: nấu nướng, kê dọn, trang hoàng...Đúng là chuẩn bị một bữa đại tiệc !
Tối hôm ấy, hàng rào ngăn cách giữa mọi người hầu như mặc nhiên được hủy bỏ (Tết nhất có khác, đồng chí ‘Thủ trưởng dễ dãi hẳn ra). Nhất là khi có rượu vào. Hai chai của Thủ trưởng đem ra, cả đơn vị có hơn chục người chỉ rót vài vòng là cạn queo. Hào gãi tai xin phép Thủ trưởng cho "vượt chỉ tiêu" một bữa. Thủ trưởng ngần ngại giây lâu rồi miễn cưỡng gật đầu. Thế là có ít nhất hơn một nửa số người hiện diện đã cùng ùa lên, chạy vội vã về phòng riêng. Họ đem bầy ra đủ loại rượu mà nếu chẳng có dịp này thì không bao giờ lão thủ trưởng lại biết được rằng nhân viên của mình đã đổ đốn ra như thế. Nhưng tết nhất mà ! Mọi sự xuề xòa hết. Bởi chính lão cũng uống, lão cũng say ngà ngà. Lão cũng đùa giỡn vui vẻ như chưa bao giờ ở đây có ai thấy lão đùa giỡn vui vẻ đến thế. Đến giữa buổi tiệc, lão đem vấn đề người tù ra nói với đám nhân viên:
- Tóm được thằng này tôi phải ghi công các chú. Nó đối với tôi có nhiều nợ máu đấy!
Vừa nói lão vừa cởi phăng chiếc áo đang mặc trên người và xoay lưng về phía đèn sáng. Chờ cho mọi người đã đủ kinh ngạc và thắc mắc về những vết sẹo sần sùi, nhăn nhúm rải rác trên khắp lưng của mình, lão mới nói tiếp:
- Đòn thù của cường hào ác bá làng tôi đấy! Cũng một ngày cuối năm như thế này vào thời tiền cách mạng, tôi bị chúng nó trói vào thân cau, vừa đánh đòn vừa dội nước sôi. Sẹo đấy. Sẹo nước sôi đấy.
Rồi lão lại tụt chiếc dép ở chân trái ra và giơ cái cẳng của mình lên cao cho mọi người nhìn thấy:
- Chưa hết đâu ! Các chú có thấy vết sẹo cắt ngang gót chân đấy không ? Tôi còn bị chúng nó cắt gân, mà kẻ cầm dao chính là thằng này !
Vừa nói lão vừa chỉ về phía phòng tạm giam. Ngay lúc đó có tiếng ly đập bể và có tiếâng hét to:
- Cắt tiết nó đi!
Tiếp theo là những tiếng ồn ào, tiếng rủa xả, tiếng văng tục làm bầu không khí tự nhiên sôi sục cả lên. Lão Thủ trưởng giơ ly rượu lên và cất giọng bình thản:
- Thôi ! Rồi đâu sẽ có đó. Ta chẳng nên để cái loại người đó làm mất vui buổi tiệc tất niên hôm nay. Nào, mời các chú nâng ly. Hôm nay đặc biệt cho các chú thả dàn. Nhưng chỉ một hôm nay thôi đấy nhé !
Mọi người quên ngay câu chuyện bi thảm vừa qua và trở về với những ly rượu tràn đầy trước mặt. Ly này cạn, ly khác đã rót đầy. Rượu vào lời ra, bầu không khí ồn ào, vui vẻ đúng như một ngày Tết.
Khi tàn tiệc, đồng hồ đã chỉ gần mười hai giờ khuya. Trong phòng chỉ còn lác đác một vài người là còn ngồi vững. Những kẻ khác thì đã gục ngay tại chỗ hay lê lết nằm đâu đó trong các góc phòng, ngoài hành lang hay trên những chiếc võng mắc rải rác ở phía sau khu vực kê bàn làm việc. Lão Thủ trưởng cũng say khướt. Lão được hai tên đàn em xốc lên và dìu về phòng. Mà hai cái anh này cũng chẳng tỉnh táo gì hơn. Bộ ba dính chùm lấy nhau như một chùm sung, chập choạng đi mãi mới hết chiếc hành lang có ánh đèn héo úa vàng vọt. Khi tới phòng, lão Thủ trưởng cố cất lên tiếng cám ơn bằng một giọng say líu lưỡi rồi nhào vào phòng. Hình như lão ngã dúi xuống tại một góc nào đó trong căn phòng, kéo theo một cái ghế ngã đổ. Nhưng điều này chẳng khiến cho hai tên đàn em quan tâm. Họ cũng chuệnh choạng đi về phía dẫy phòng ngủ dành cho các nhân viên. Một anh lên tiếng hát. Giọng hát ồ ề cất lên chỉ được vài ba câu rồi tắt ngóm. Hình như anh ta cũng đã ngã gục đâu đó trên đường mò về giường ngủ của mình. Cả căn trại trước đây đầy tiếng la lối, cười nói om sòm nay chìm hoàn toàn trong sự yên tĩnh lạ kỳ. Rải rác đâu đó lâu lâu có tiếng nói mê, có tiếng cựa mình, đạp rẫy lung tung. Cũng có chỗ lại vang lên tiếng ngáy đứt đoạn.
Rồi tiếng pháo giao thừa ở nhiều nơi bắt đầu vọng về. Trước còn thưa thớt, sau trở nên râm ran, rộn rã. Năm cũ đã qua. Một năm mớí bắt đầu. Đời sống cơ cực của mọi người không chắc có thay đổi gì nhưng con người vào cái giờ phút thiêng liêng giữa đêm trừ tịch vẫn nhen nhúm một niềm hy vọng mới, dù là đang ở ngoài đời sống hay đã nằm sau những trấn song của nhà tù.
Nguời tù ở đây cũng vậy. Tiếng pháo giao thừa đã làm cho ông ta tỉnh dậy sau một cơn ác mộng dài. Hơi ẩm từ sàn đất đưa lên khiến ông ta thấy đầu óc của mình dịu lại. Ông nhấc thử chân tay của mình. Nó vẫn cựa quậy theo sự điều khiển của ông, điều đó khiến ông yên tâm phân nào. Nó đã không bị hề hấn sau những trận đòn mà ông chịu đựng từ hôm trước. Hơn một ngày đã trôi qua kể từ khi ông bị bắt giữ mà ông thấy nó dài như một thế kỷ. Ông nghĩ đến gia đình, đến bạn bè, đến những người đồng hành trong một chuyến đi hoàn toàn đổ vỡ. Ông cố không muốn nghĩ tới họ nhiều hơn, vì ông biết trong hoàn cảnh này ông cần dành những tàn lực còn lại cho những chuyện khác quan hệ hơn. Chẳng hạn sự tỉnh táo trong những lời khai báo. Điều gì nói ra được. Điều gì nói ra không được. Lời khai nào có lợi. Lời khai nào dẫn tới hậu quả làm sụp đổ cả một hệ thống những dữ kiện mà ông đã dựng lên qua lời khai báo để tạo cho mình cái vị thế không có gì nguy hiểm trước những cặp mắt soi mói của kẻ lấy cung.
Tiếng pháo giao thừa làm ông tỉnh táo hơn lên. Ông lết lại phía cửa phòng. Cũng là những tấm song gỗ chắc nịch được che kín mít bởi lớp vải bạt căng từ phía bên ngoài. Ông không nhìn thấy gì nhưng cố vểnh tai lên nghe ngóng. Bốn phía chung quanh hoàn toàn yên tĩnh gây cho ông cái cảm giác biệt lập hẳn với thế giới bên ngoài. Ông mường tượng qua song gỗ là dẫy hành lang, con đường ông đã quen thuộc khi bị dẫn giải một đôi lần lúc lên phòng thẩm vấn. Bên kia đầu hành lang là dẫy nhà làm trụ sở nơi làm việc của cơ quan. Rồi qua một cái sân đất. Rồi đến hàng rào kẽm gai. Và sau cùng là con đường lộ nhỏ, biên giới giữa đời sống bên ngoài và nhà tù.
Bỗng trong cái tĩnh mịch đến ghê rợn của căn phòng giam nhỏ hẹp chợt vọng lại tiếng chân người. Ông ghé sát tai vào song gỗ để nghe ngóng cho rõ hơn. Ông nghe thấy tiếng chân đi về phía phòng giam của mình. Rồi tiếng chân dừng lại ngay trước cửa phòng. Có tiếng sột soạt của lớp vải bạt che bị kéo lên. Và ánh sáng héo úa của ngọn đèn trước cửa hắt qua song gỗ làm ông hơi nheo mắt lại. Nhưng rồi ông thấy ngay một người đang đứng ở đó, mặt quay vào. Có tiếng cất lên nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, rành mạch, tiếng của lão Thủ trưởng:
- Ông Nguyễn Phú Định!
Người tù, ông Nguyễn Phú Định, hơi giật mình mở to mắt lên nhìn kỹ kẻ mới đến. Nhưng trong đầu óc bồng bềnh tan loãng của mình, ông không nhận ra được ai ngoài khuôn mặt xa lạ của một kẻ đã bước qua tuổi già với những nếp nhăn ở trán ẩn dưới mái tóc đã ngả mầu đốm bạc. Lão Thủ trưởng nói tiếp:
- Ông không nhận ra tôi đâu, kẻ ba mươi sáu năm trước đã bị chính ông cầm dao cắt gân chân. Ông còn nhớ chứ?
Đầu óc của ông Định bỗng lóe lên một kỷ niệm như một tia chớp sáng lòa. Ông nhìn sững kẻ đối diện. Thời gian đã xóa nhòa hình ảnh quen thuộc đã chìm sâu trong quá khứ. Ông không còn tìm thấy ở nhân vật này hình bóng chàng thanh niên năm xưa, tóc tai rũ rượi, mặt mũi bầm tím, quần áo rách nát bị trói giật hai tay ra phía đằng sau lưng, vòng qua thân của một cây cau. Anh ta đã lẻn vào trong vườn nhà ông Lý trưởng trong làng, đã leo lên cây cau để bẻ trộm một buồng cau to nhất, đẹp nhất mà ông Lý dự định sẽ dùng tới trong lễ ăn hỏi của con trai ông. Đang bẻ trộm thì anh ta bị phát giác. Ông Lý vác tù và ra thổi inh ỏi và tráng đinh trong làng đổ xô tới. Anh ta bị trói ngay lại dưới chính thân cau mà mình đã trèo lên. Cuộc hành hạ một kẻ nghèo đói, khốn cùng kéo dài suốt từ sáng cho đến chiều. Đánh đập. Chửi rủa. Dội nước sôi vào lưng và sau cùng như vẫn còn giận vì mất buồng cau đẹp nhất dành cho ngày lễ trọng, ông Lý lạnh lùng phán:
-Cắt gân chân của nó cho chừa cái thói đi ăn trộm !
Công việc hãi hùng này ông Lý truyền cho Định cũng là một tráng đinh, phải thi hành.
Định cầm con dao sắc như nước của ông Lý giao cho mà người cứ như lên cơn sốt. Trong đời, anh đã từng cắt tiết gà, thậm chí có nhiều lần thọc cả huyết heo nhưng điều đó không làm cho anh có can đảm gì hơn khi phải cắt gân một con người. Chỉ cần nghĩ tới thôi, anh đã bủn rủn tay chân rồi. Nhưng lệnh là lệnh, anh không có quyền chối từ. Anh cầm con dao với tất cả sự run rẩy mà chỉ có anh tự nhận biết.
Trời xẩm tối, ông Lý ra lệnh đốt đuốc lên để soi sáng cho cuộc bạo hình. Ánh lửa bập bùng soi lên từng khuôn mặt dữ tợn của đám tráng đinh đang in những cái bóng chập chờn trong tiếng kêu than rền rĩ của tội nhân, tạo thành một bầu không khí ma quái, ghê rợn như một khung cảnh địa ngục đang nhâu nhâu một bầy quỷ sứ.
Ðịnh vô cùng ngại ngần, nhưng cuối cùng cũng phải sấn tới. Anh ta đứng trấn ngay trước mặt tội nhân để che lấp mọi người. Rồi anh ta nhìn thẳng vào đôi mắt cầu cứu, van lơn của gã ăn trộm. Suốt nhiều năm sau đó, mỗi khi nhớ lại, ông Định cũng chẳng bao giờ quên được cái ánh mắt khẩn cầu, tuyệt vọng của một kẻ đang bị dẫn tới đường cùng. Còn chính nạn nhân, tức lão Thủ trưởng bây giờ, mỗi khi nhớ lại cái giây phút hãi hùng đó, lão cũng không thể quên được ánh mắt của kẻ cầm dao trước mặt. Trong ánh lửa bập bùng, tia nhìn của gã tráng đinh tên Định không mang vẻ gì gọi là hung ác, bạo tàn mà ngược lại nó bao hàm một nỗi cảm thông, thương xót. Định nháy mắt với tên trộm, hươi con dao lên, và lợi dụng đang còn sấp bóng, gã bấu lên vai tên trộm như ngầm có ý ra hiệu.
Thế rồi cuộc hành hình xẩy ra theo đúng ý muốn của viên Lý trưởng. Định đã nhấc cẳng chân trái của tội nhân lên, nhắm đường gân ở gót mà cứa mấy đường dao. Máu phụt ra chan hòa và tội nhân hét lên kinh hoàng đau đớn. Gã đã bị cắt đứt gân chân. Gã không còn lết đi được. Người ta đã khiêng gã đem vứt ở ngoài cổng làng. Ai cũng nghĩ rằng sẽ không còn bao giờ gã còn cơ hội bén mảng tới đây để leo trèo những cây cau, vì chân của gã bị tàn phế. Trừ người trong cuộc !
Quả thật Định đã áp dụng kỹ thuật chọc tiết heo của mình vào cuộc bạo hình. Đường dao của anh trông dữ dằn như thế nhưng chỉ làm đổ máu ở bên ngoài. Gã ăn trộm hôm ấy, chờ đêm khuya không còn ai, đã nhỏm dậy bỏ làng đi mất biệt.
Hơn ba mươi năm trời trôi qua, bây giờ hai nhân vật ấy lại đối diện nhau nhưng vị thế đã đảo lại, tên tội nhân đã trở thành người quyền thế và kẻ kia thì đứng sau những song gỗ của phòng giam tù.
Có tiếng của lão Thủ trưởng cất lên:
- Ông Định. Hơn ba mươi năm rồi, bây giờ tôi mới có dịp nói lên lời cám ơn ông.
Bàn tay của lão chìa ra và ông Định cũng thò tay ra nắm lấy. Lòng ông rưng rưng cảm động. Ông thấm thía về hai chữ tình người, dù là giữa những con người đến từ hai phía. Cuối cùng, bao giờ tình người cũng vượt lên trên được tất cả, trên áp bức, trên cường quyền, trên căm thù bạo lực.
Trong hơn một phần tư thế kỷ vừa qua, con người đã vận dụng bạo lực, căm thù để mong giải quyết những vấn đề của xã hội. Thời gian đã đủ dài để ai cũng thấy rằng bạo lực hay căm thù chỉ làm đổ vỡ thêm những gì vốn đã hoang tàn, rách nát.
Đã lâu lắm, lão Thủ trưởng vẫn từng gậm nhấm những ý nghĩ dằn vặt này. Nhưng chưa bao giờ lão có cơ hội để bứt phá cái định kiến vốn đã in hằn trong tâm khảm của lão. Như một giọt nước nhỏ vào một cái ly đã tràn đầy, cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa lão và người tù đã khiến lão thừa đủ năng lực để giải phóng chính mình.
Đêm hôm ấy, ông Định thong thả ra đường cái để đón xe trở về Sài Gòn.
Và sáng hôm sau, đúng Mồng Một Tết, tại cái đồn công an nhỏ bé ấy, viên Thủ trưởng đã gieo một cơn phẫn nộ sấm sét lên đầu đám nhân viên thuộc cấp của mình về tội nhậu nhẹt say sưa đã làm sổng mất người tù cuối năm. Một kẻ có nợ máu. Một tên tù tối nguy hiểm.
Santa Ana tháng 1-1983
Nhật Tiến
[4] Vòng Quay Trần Thế
Năm ấy cũng lâu rồi, thằng Sinh mới vừa tới tuổi nghĩa vụ quân sự. Nó đang theo học cấp III thì đã phải đăng ký và được điều tới một đơn vị đóng mãi trên đồi cao núi thẳm. Lá thư đầu tiên nó viết về cho bố mẹ kể chuyện nếp sống mới mẻ của mình:
“ Có đi xa mới thấy đất nước mình giầu đẹp. Cảnh vật ở đây chỗ nào cũng như tranh vẽ. Non xanh nước biếc. Mây núi chập chùng. Con vui lắm bố mẹ ơi. Tưởng nghĩa vụ quân sự thế nào chứ tiếng là lính mà có phải ngửi mùi khói bom bao giờ đâu. Chiến tranh chấm dứt rồi. Cả ngày con cứ la cà suốt ! ”
Bà Khương, mẹ của Sinh cười vui, hớn hở đi khoe khắp hàng xóm về chuyện đã nhận được thư. Bà cũng không giấu được niềm hãnh diện là nhà bà tuy đã mang danh hiệu Gia đình Cách mạng, nhưng nay lại góp thêm một thằng con cho nghĩa vụ nhà nước, tất lập trường chính trị sẽ còn được mọi người nhìn nhận thêm nữa.
Vào một buổi tối họp Tổ dân phố, bà còn hăng hái phát biểu động viên mọi người nên khuyến khích con cái tham gia Nghĩa vụ quân sự. Bà cũng tự tay mở lá thư của thằng Sinh gần như đã nát nhầu vì nó viết trên giấy xấu, đọc lên cho mọi người nghe, dĩ nhiên là bà tự ý bỏ đi mấy câu cuối:
“Tưởng nghĩa vụ quân sự thế nào chứ tiếng là lính mà có phải ngửi mùi khói bom bao giờ đâu. Chiến tranh chấm dứt rồi. Cả ngày con cứ la cà suốt ! “
Sau buổi họp, ông Tổ trưởng Dân phố còn nán lại gặp bà Khương để tấm tắc:
“ Non xanh nước biếc, mây núi chập chùng, con vui lắm bố mẹ ơi!” Cái thằng Sinh học tới cấp Ba có khác. Nó viết ngắn gọn mà có lý có tình!”
Mặt mũi bà Khương cứ nở nang mãi lên, tuy không nói ra, bà cũng đã chắc mẩm cái chân Tổ phó sắp bầu lại trong mấy tháng tới hẳn sẽ về tay mình.
Tuy nhiên, niềm vui của bà chưa vơi thì mấy hôm sau một thằng bạn đồng đội của Sinh, nhân đi công tác về thành đã ghé qua nhà bà. Thằng này gầy đét như con mắm, mặt mũi vêu vao, khi nó cười chỉ thấy vẩu ra hai hàm răng trắng nhởn. Nó nhìn trước ngó sau rồi giúi vào tay bà một mảnh giấy gấp tư, miệng thì thào:
“ Cháu ở cùng đơn vị với thằng Sinh. Nó có thư cho bác. Nó dặn cái gì, bác làm ngay. Cháu phải đi không chờ lâu được.”
Bà Khương vội vã mở thư ra đọc. Thằng Sinh chỉ nguệch ngoạc có mấy dòng :
“ Con rời đơn vị lên đóng ở vùng cao này. Con đói và thèm muối lắm mẹ ơi. Mẹ đừng gửi quà cáp gì hết. Cứ cho con một bọc muối vừng trộn nhiều muối cho thật mặn vào là quí lắm rồi. Thằng bạn con nó sẽ mang về.”
Bà Khương có cảm giác như trời sụp, bao nhiêu cảnh trí non xanh nước biếc vẽ trong đầu bà vụt tan biến hết mà chỉ thấy hình ảnh của thằng con mình gầy gò yếu đuối, mặt mũi vêu vao, quà cáp chẳng xin gì chỉ xin có mỗi muối vừng rang mặn. Lập tức bà lục lọi trong nhà, lại chạy sang bên hàng xóm vét voi thêm để gom gần đủ một ki lô. Bà cũng không quên trộn thêm vào đó nửa hũ muối còn lại rồi trao cho thằng bạn của Sinh đang ngồi chờ. Đến lúc nó vội vã đi khỏi rồi, bà Khương mới chợt thấy hối tiếc rằng mình đã quên chưa hỏi tình hình thằng Sinh hiện nay ra sao, nó đóng ở đâu, bây giờ béo hay gầy, có ăn được, ngủ được hay không, có nhớ nhà hay không.
Kể từ hôm ấy, tuy lòng bớt vui, nhưng cũng không vì thế mà bà bớt tích cực tham gia các công tác trong Phường, trong Tổ dân phố. Mỗi đợt vận động đóng góp cho những việc công ích chung như Quỹ Dân phòng,Thương binh Xã Hội, An ninh Quốc Phòng, Lao động Xã hội Chủ nghĩa, Ngôi nhà Tình thương, Xoá đói giảm nghèo….nhất nhất bà bao giờ cũng đi tới từng hộ gia đình để vận động, khuyến khích bà con tham gia. Bề gì thì thằng Sinh cũng đã an bài ở đâu đó trên rừng xanh núi thẳm rồi, có bận tâm lo lắng cũng là vô ích. Mục tiêu trước mắt của bà bây giờ vẫn là nhắm vào cái chức Tổ phó mà qua hai lần bầu trước, dù phấn đấu đến rã người bà vẫn chưa được “trên” ngó tới.
Một ngày cuối năm, vào lúc bà Khương hò hét ông chồng quanh năm bệnh tật: “nhích cái thân xác đi một tí để lau giùm tôi cái bàn thờ, hôm nay đã hai mươi tám Tết rồi”, thì ông chồng của bà vẫn lườn khươn xoay mình trên cái phản gỗ tùm hụp mớ chăn chiếu rách bươm và tai thì cứ ép sát vào cái radio cát-sét để lim dim nghe mấy bản nhạc vàng. Bà điên tiết xông lại giật phăng cái máy quăng xuống gậm phản và gầm gừ :
“ Nghe mãi cái thứ chết tiệt này để rồi cả nhà phải kéo nhau ra nghe kiểm điểm hả? Ối giời ơi là giời…cũng là người ăn cơm cả chứ có phải chó ăn c… đâu mà ngu thế !”
Tiếc xót cái máy quý giá bị quăng quật, ông bố thằng Sinh bỗng mất béng cái tính nhẫn nhịn thường ngày. Ông chợt nhỏm phắt dậy, xáng cho bà vợ một cái bạt tai rồi cất giọng hùng hổ:
“ Tiên sư con mẹ ác ôn. Mày quăng cái máy như thế, nó mà hỏng thì ông giết !”
Cuộc nổi dậy của ông chỉ mạnh mẽ và ngắn ngủi có chừng đó. Nói xong được một câu đầy khí thế tiến công, ông vật mình ngay xuống mớ chăn bùi nhùi và nằm thở dốc. Cơn giận biến thành cơn sợ vì chưa bao giờ ông dám mạnh tay với vợ như thế, nhưng nỗi tiếc xót cho cái máy bị vùi giập còn nổi lên mạnh mẽ hơn. Ông chỉ cầu mong cho con vợ nó đi khuất mắt để ông chui xuống gậm phản kiểm tra lại xem sự tổn hại đến mức nào.
Nhưng đời nào bà Khương lại tha cho chồng cái tội nổi loạn bất tử như thế. Bà tự nghĩ nếu không dằn mặt thằng cha này thì được đằng chân lân đằng đầu, nó sẽ tiếm quyền kiểm soát căn nhà này mất. Thế là bà tru tréo lên. Bà đem tất cả công lao vun quén của đời bà đã lo cho chồng cho con ra kể lể và mạt xát cái quân vong ân bội nghĩa. Tiếng la hét của bà làm cho nhà hàng xóm phải chạy sang cuống quýt :
“ Chuyện gì thế ? Chuyện gì mà om sòm thế ? Thôi thôi, đâu có đó, kẻo mà lại mất mẹ cái danh hiệu Gia đình Văn hoá, rồi Tổ dân phố cũng vạ lây.”
Lời khuyên nhủ của bà hàng xóm quả là công hiệu. Vừa nghe nhắc mất danh hiệu gia đình văn hoá và có thể làm vạ lây tới Tổ dân phố, bà Khuơng đang gân cổ lên tru tréo đột nhiên ngắt sững lại. Bà đảo mắt nhìn trước ngó sau rồi cất giọng khàn khàn :
“Chuyện vặt thôi… Chuyện vặt thôi…có gì mà vi phạm tới …văn hoá!”
Bà hàng xóm cất tiếng cười ngặt nghẽo, văng một câu trước khi bỏ đi:
“ Có cái đ…. gì mà không liên hệ tới gia đình văn hoá!”
Thế là chuyện nội bộ gia đình bà Khương nhờ thế tạm êm. Ông chồng biết điều đã nhỏm dậy đi lau dọn bàn thờ, lòng ông yên ổn vì sau khi kiểm tra cái máy thấy nó không tổn hại gì. Ông còn cười tủm tỉm:
“ Con mụ còn khôn chán. Nó quăng dữ dằn vậy, nhưng ném cái máy lên trên bao tải gạo. Làm hết hồn !”
Riêng bà Khương thì lui cui dưới bếp, nào lau nhà, quét sân, rửa nồi, ngâm gạo, đến chiều lại chạy vội ra chợ kiếm giò hoa về bầy biện ban thờ …bề gì thì tết nhất cũng phải tươm tất cho ra nếp sống của gia đình văn hóa chứ.
Mãi gần nửa đêm, lúc mọi công việc đã tạm ổn và nhà sắp tắt đèn đi ngủ thì bà Khương nghe có tiếng gõ cửa, rồi bà sững sờ nhìn thấy thằng Sinh hiện ra lù lù, đứng ngay trước mắt. Bà cất giọng thảng thốt :
“ Ôi ! Sinh ! Mày….mày được về ăn tết hả?
Thằng Sinh vừa thở vừa đáp, cái giọng nghe yếu sìu:
“ Không ! Con…con về…”
Mắt bà Khương chợt trợn ngược lên :
“ Úi giời ơi ! Trốn hả ? “
Vừa nom thấy thằng con bẽn lẽn gật đầu là bà đã gầm lên:
“ Ối giời ơi ! Sao con dại thế ? Cũng là người sao con làm chuyện tầy trời như thế. Con giết cả nhà rồi ……con ơi ! !”
Thằng Sinh hốt hoảng sấn lại vừa che lấy miệng của mẹ, vừa cất giọng gắt gỏng:
“ Mẹ làm cái gì mà rối lên thế. Con về ăn tết rồi lại quay lên ngay thôi mà.”
Bà Khương vẫn to tiếng:
“ Thế là đào ngũ… là rũ tù…là hãm hại cả nhà, mày có biết không?”
Thằng Sinh văng tục ngay:
“ Đào ngũ đếch đâu mà đào. Về chơi vài ngày thôi !”
Bà Khương trợn mắt :
“ Không được ! Tết nhất mày thò cái mặt ra là cả làng cả xóm đồn rầm đồn rĩ lên. Mày tưởng công an nó không tới gô cổ mày đi à, ở đó mà ăn Tết !”
Thằng Sinh xô mẹ qua một bên, đi thẳng vào nhà:
“ Đến đâu thì đến. Đây mệt quá rồi !”
Nhưng bà Khương đã đổi giọng nghiêm khắc quát to lên:
“ Không được ! Mày phải về đơn vị ngay ! Ở đây tao chứa không được”
Thằng Sinh quay phắt lại nhìn mẹ, vẻ thảng thốt. Nó nhìn mẹ từ đầu đến chân. Nhưng nó không cảm thấy người đứng trước mặt là mẹ của mình. Bao nhiêu hình ảnh xum họp đầm ấm quanh mâm cỗ ngày Tết nó nung nấu trong đầu từ bao lâu nay bỗng nhiên tan biến hết. Trước mắt nó bây giờ chỉ là bộ mặt lạnh lùng, hung dữ và giọng nói quyết liệt biểu lộ cái cung cách quyền lực đổ khuôn mà ở đâu thì cũng giống hệt như nhau. Nó vứt cái túi vải xuống sàn gạch và toàn thân của nó như muốn khuỵ xuống. Gian nan trèo đèo, lội suối, cuốc bộ, đón xe …bao nhiêu chặng đường không đủ để vật ngã nó, thế mà cái giây phút này chỉ ngắn ngủi có một thoáng mà cũng đủ làm sức lực của nó tiêu tan hết. Ở buồng trong có tiếng ho của bố sù sụ vang ra. Bên vách nhà hàng xóm vọng sang tiếng trẻ con nô đùa. Giọng của bà Khương bây giờ dịu lại :
“ Con ơi! Con còn thương đến bố đến mẹ thì quay về ngay đi. Nấn ná ở thêm vài ngày, đơn vị nó đánh điện về thông báo con đào ngũ thì có mà trốn lên giời.”
Thằng Sinh cau mày:
“ Thì để đến sáng hãy tính. Làm cái gì mà cứ rối tinh lên.”
Bà Khương quát lại:
“ Không rối sao được. Mày mà ở đây phút nào là cả nhà can tội chứa chấp đào ngũ phút đó. Coi như tao không thấy mày. Cả nhà không ai biết mày đi đâu, về đâu hết. Đi đi. Đi ngay đi.”
Sinh hằn học cúi xuống nhặt cái túi vải khoác lên vai rồi lầm lũi đi ra. Cặp mắt nó long lên sòng sọc chứng tỏ trong lòng nó chất chứa đầy nỗi hận thù. Nhưng bà Khương đã gọi giật lại:
“ Chờ tao tí đã.”
Nói rồi bà tất tưởi vô bếp trút tất cả những gì có trong trạn ăn, kể cả lọ muối vừng cùng mấy cặp bánh chưng sắp đem bầy bàn thờ cho cả vào một cái giỏ, đem ra trao cho Sinh và nói:
“ Con thương bố mẹ, thương thân con thì hãy nghe lời mẹ quay về ngay đi. Mẹ cũng thương con như xát muối trong lòng nhưng biết làm sao?”
Nói xong bà tu lên khóc. Thằng Sinh đứng lặng người một lát rồi ngậm ngùi tiến lại vỗ nhẹ lên vai mẹ. Nó muốn nói vài câu với mẹ nhưng ấp úng rồi cũng chẳng nói năng được gì. Lần đầu tiên, trong mồm chẳng cần có hạt muối nào mà nó cũng cảm thấy đắng chát. Sau cùng, nó chỉ lẳng lặng xách cái túi và cái giỏ đi ra. Ở phòng trong, ông bố lại cất lên tiếng ho sù sụ.
***
Đấy là chuyện giáp Tết xẩy ra từ hơn hai mươi năm về trước.
Nhũng ngày sau đó cuộc sống nơi trần thế vẫn lẳng lặng xoay vòng với biết bao nhiêu là chuyện vật đổi sao dời. Ngay cái chức Tổ phó Dân phố, bà Khương dù có phấn đấu cách mấy thì cũng vuột tầm tay. Số là hôm bầu bán, lúc mọi người phát biểu ý kiến, một bà già đứng lên dõng dạc:
“ Tôi xin cả phố bầu cho chị Khương. Gia đình chị là gia đình cách mạng, lại có con trai đang đi nghĩa vụ quân sự. Chị luôn luôn là người tích cực với cả việc nước lẫn việc nhà. Tôi thấy cuộc họp nào, buổi quyên góp nào cho nghĩa vụ, chị cũng đi từng nhà động viên, thúc đẩy mọi người tham gia. Một người tích cực như thế bầu vào chức vụ Tổ phó dân phố là đích đáng quá rồi.”
Kết quả, một mẹ trẻ leo lẻo cái mồm mà chuyên trốn việc nhất lại được bầu, còn bà Khương chỉ có lác đác vài phiếu. Lúc trở về, bà hậm hực nói với người bạn hàng xóm:
“ Giá mụ già đó đừng có cóc mở mồm thì ….đâu đến nỗi !”
Cái xui chưa qua lại cái hạn xộc tới. Ông chồng ốm yếu của bà đột nhiên đổ ra đủ thứ bệnh khiến bà phải vay mượn tứ tung để chạy chữa. Trước còn nằm nhà, sau ông phải vào viện. Nằm viện ròng rã mấy tháng trời, dù cật lực chạy tiền thuốc men, rút cục ông cũng vẫn nhắm mắt xuôi tay. Bà Khuơng rạc hẳn người ra. Tiền nợ nần, tiền thuốc thang, tiền viện phí lên cao chồng chất khiến bà phải bán cái nhà đang ở để trang trải. Số dư còn lại, bà lẳng lặng đem về quê, sắm được khoảnh đất dựng nhà, chung quanh có một thửa vườn đủ trồng rau, nuôi gà.
Còn thằng Sinh sau này giải ngũ ra, đi biến không thèm héo lánh đến nhà, trừ cái lần nó về chịu tang bố và lần khác giúp mẹ tém dẹp đồ đạc ở căn nhà cũ rồi đưa mẹ về quê. Người ta đồn nó lẩn quẩn làm ăn cái gì đó trên vùng sâu, vùng cao. Nhà nước càng mở cửa thì hàng lậu tràn qua biên giới qua ngả núi rừng càng nhộn nhịp, làm gì mà thằng Sinh chẳng dính tới. Nó đã có thời đóng đồn ở trên đó thì ngõ ngách nào mà chẳng thông thuộc. Thật sự, chẳng ai biết Sinh buôn cái gì, nhưng chỉ trong vài ba năm, Sinh trở nên giầu sụ dư tiền về thành phố sắm một cơ ngơi có đến hai tầng lầu và bảnh chọe trở thành ông giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn gì đó. Rồi Sinh lấy vợ, chẳng cần sự hiện diện của mẹ, nhưng bù lại Sinh cũng về quê, bỏ tiền tu bổ căn nhà lá cho mẹ thêm tươm tất và thêm mớ tiền cho mẹ làm vốn. Cũng có lần Sinh đưa mẹ lên phố sắm sửa đồ dùng và nhân tiện cho mẹ biết nếp sống hiện tại của mình. Sinh nói hớn hở:
“ Mẹ thấy đó. Con đâu có ngu mà mẹ cứ lo !”
Còn cô con dâu thì phấn son loè loẹt, thập thò sau cánh riềm nhung đỏ ngăn căn phòng khách rộng thênh thang, nói lí nhí được một câu:
“ Thưa …mẹ !”
Rồi cô giả bộ quát tháo gia nhân chuẩn bị bếp nước, nấu ăn và mất biến trên căn lầu hai có cửa ngăn với cầu thang đóng im ỉm.
***
Thật sự bà Khương cũng chẳng cần quan tâm đến đời sống của chúng nó làm gì. Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào. Nhà nước đã mở cửa cho kinh tế thị trường thì mạnh ai nấy sống. Miễn là bà thấy vui với cảnh quê, có mảnh vườn xanh um rau cỏ và đàn gà đông lít nhít.
Đùng một cái, ở quê bà có đoàn du khách nước ngoài tới thăm. Cả xóm nhốn nháo cả lên, đổ xô ra coi cán bộ chính quyền dẫn phái đoàn đi đủ mọi chỗ, người chỉ chỗ này, kẻ trỏ chỗ kia. Thế là khoảnh vườn của bà Khương cũng như giải đất của bà con chòm xóm nằm trong tầm ngắm của cái gọi là Quy hoạch Đất đai để tiến hành chủ trương Kỹ nghệ hoá. Rồi thì lệnh giải toả được chính quyền ban ra. Cũng có đền bù đấy, nhưng cán bộ chỉ trả cho dân giá bèo, để sau khi quy hoạch thì sẽ bán lại với giá trên trời.
Một ngày nọ, bất chấp sự chống đối giá cả đền bù, hàng đoàn xe húc nườm nượp kéo đến, ủi sập nhà cửa, chuồng trại, hoa mầu trong tiếng la ó, khóc lóc vang trời dậy đất của các gia đình nạn nhân.
Đang là người dân hiền lành bà Khương bỗng trở thành một thứ dân oan cùng các nạn nhân khác kéo nhau đi đập mọi cửa quan để khiếu kiện. Từ xã lên huyện, từ huyện lên tỉnh, từ tỉnh kéo nhau về thành phố, đám dân oan ở vùng bà Khuơng hội nhập với dân oan ở các địa phương khác đã biến thành những đoàn người đông đúc đi rùng rùng khắp phố, đến tối về thì tụ tập ăn dầm nằm dề nheo nhóc ở vườn hoa.
Cái này thì quá! Các buổi học tập trong Tổ dân phố, cán bộ đều phát biểu:
“Tập trung kiểu đó là phản động. Là chống đối nhà nước. Là bôi đen xã hội. Dân oan thì ít, kẻ xấu thì nhiều. Bà con phải cảnh giác!”
Thế là vào một đêm, cả khu vườn hoa quanh đó bị cúp điện, hàng đoàn xe các lực lượng công an có, cảnh sát có, dân phòng có, thanh niên xung phong cũng có. Tất cả ùa vào, xách cổ từng người một, bất chấp già trẻ lớn bé quăng hết lên xe. Một số bị quăng quật. Một số đông khác bỏ chạy tán loạn trong tiếng hò, tiếng quát tháo, tiếng khóc lóc, chửi rủa váng trời dậy đất.
Bà Khương tuy đã già, nhưng chân tay còn khỏe mạnh. Bà vùng thoát được khỏi mấy bàn tay túm giữ của đám công an, cắm đầu lao vào một bụi rậm rồi luồn qua mấy khe hàng rào chui vào được một cái gầm xe tải. Nằm ép ở đó chờ không thấy ai, bà băng qua đường để chạy tọt được vầo một con hẻm tối thui. Thế là thoát, mặc dù lưng của bà còn đau ê ẩm vì bị mấy gậy của ba thằng dân phòng. Chờ cho chuyện tém dẹp yên tĩnh hẳn, đoàn xe đã rồ máy chở đám dân oan bị bắt đem đi, bà mới lò dò nhón bước ra phố. Từ chỗ ấy đến nhà thằng Sinh không bao xa. Hồi xưa bà cũng đã từng ở đây, ngõ ngách các nơi bà thuộc nằm lòng.
Khi bà tìm tới khu thằng Sinh cư ngụ thì trời đã gần khuya, tuy vậy dãy hàng quán ở những đầu ngõ vẫn thắp đèn sáng choang, sinh hoạt nhộn nhịp. Bên lề hai hè phố, xe cộ đậu ngổn ngang và mấy hàng quán cà phê, bánh mì nóng vẫn thấy đông khách ngồi lố nhố. Lúc bà Khương vừa bước qua một dãy bàn thấp kê lộ thiên thì đã có kẻ phát giác và kêu lên:
“ Dân oan…dân oan…”
Bà Khương giật nẩy người vội vã ngó trước ngó sau. Bà chợt nhớ tới vành khăn trắng kẻ hai chữ đỏ “Dân Oan” mình vẫn còn chít trên đầu nên vội vã trật xuống. Lại có những tiếng cất lên:
“ Bác ơi. Vào đây, con mời bác bát phở”.
“ Úi giời ơi. Chập tối tôi đi qua, thấy chúng nó đánh người ta túi bụi.”
Bà Khương quay về phía những người vừa nói, biểu lộ ánh mắt cám ơn và xua tay từ chối. Bà tiếp tục hấp tấp đi sâu vào trong ngõ. Một con nhỏ, tuổi cỡ mười hai, mười ba đang rửa bát sau một lùm cây tối chợt đứng dậy, chạy theo, cất tiếng hỏi:
“ Bà cụ tìm nhà ai, cháu chỉ cho! ”
Bà Khương dừng chân lại, nhìn nó chăm chú:
“ Cám ơn cháu, bà biết nhà rồi.”
Con bé tò mò:
“ Mà nhà ai kia chứ?”
Bà Khương đáp:
“ Nhà ông Sinh, trong ngõ.”
Con bé reo lên:
“ A ! Ông Sinh chủ xí nghiệp thì ai chả biết.”
Vừa nói nó vừa chỉ tay về phía trước rồi quay lại chỗ làm việc của mình. Bà Khương rảo bước thêm, không để ý đến mấy người dân trong ngõ kéo nhau tò mò đi theo. Đến cửa nhà Sinh, vẫn quang cảnh ấy, một căn hộ khang trang, hai tầng lầu, tường không quét vôi mà gắn những viên gạch men mầu hồng điểm những bông hoa tím, cả mặt tiền còn phủ gần kín bằng một rặng hoa ti-gôn đang thời kỳ nở rộ. Bà Khương giơ tay bấm nút chuông ở bên cánh cổng sắt. Có tiếng chó sủa loạn sạ từ sân trong phát ra và có tiếng quát tháo:
“ Ai ? Ai giờ này bấm chuông thế ?”
Bà Khương to giọng :
“ Mẹ đây, Sinh ơi. Mở cửa cho mẹ.”
Một lát, Sinh hiện ra với đồ ngủ, bên ngoài còn khoác thêm một cái áo kimono bằng lụa có in những mô hình sặc sỡ. Nom nó bây giờ phương phi, bệ vệ, khác hẳn cái thằng Sinh ốm nhom hồi nào còn xin mẹ từng nhúm muối vừng. Nhìn thấy mẹ, Sinh hốt hoảng:
“ Giời ơi ! Mẹ đi đâu mà giờ này còn tới đây?”
Bà Khương thở hắt ra:
“ Tao đi khiếu kiện, bị công an nó đuổi !”
Sinh vội vã mở toang cánh cổng, nhưng không phải để mời mẹ vào mà nhoài người ra ngoài nhớn nhác nhìn hai bên ngõ. Mấy người dân trong ngõ đi theo bà Khương, thấy vậy vội lùi lại, nép vào những mái hiên như để cho Sinh không nhìn thấy. Bây giờ thì Sinh đã trở lại con người oai vệ bình thường hằng ngày. Gã cất to giọng, xen vẻ gắt gỏng:
“ Ôi giời ơi ! Khiếu kiện cái gì ! Mẹ chỉ đi nghe cái lũ phản động chúng nó xúi giục. Về địa phương đi, để chính quyền địa phương họ giải quyết !”
Bà Khương sẵng giọng:
“ Con mẹ nó, tao kiện cả mấy năm rồi, có đứa nào hó hé gì đâu!”
Sinh dõng dạc:
“ Trước khác, bây giờ khác. Vấn đề dân oan ở trên đã có chỉ thị rõ ràng rồi. Mẹ cứ về đi. Người ta sẽ giải quyết ổn thoả hết.”
Bà Khương kêu lên:
“ Tao không tin. Tao chẳng còn tin đứa đ… nào nữa hết.”
Sinh sẵng giọng:
“ Chớ có nói năng hồ đồ mà vạ miệng. Mẹ đừng nghe mấy thằng phản động xúi giục. Về đi ! Cứ về đi khắc biết”
Bà Khương chưa kịp trả lời thì từ trên ban-công lầu hai, cô con dâu đã ngó xuống, góp lời, thì ra từ nãy cô vẫn đứng ở trên đó lắng nghe:
“ Anh Sinh nói đúng đấy bà ơi. Bà về đi …về ngay đi…”
Bà cụ Khương ngẩng lên nhìn, không nom rõ mặt con dâu nhưng cũng trả lời giọng cáu kỉnh:
“ Thì khuya rồi, có đuổi tao đi thì cũng phải cho tao chờ tới sáng mai đã chứ ?”
Cô con dâu vội vã:
“ Ấy, đâu có được. Đem bà vô nhà lúc này có khác gì can tội chứa chấp phản động, chống đối nhà nước. Thôi bà thông cảm giùm cho chúng con đi bà ơi !”
Sinh bây giờ xuống giọng năn nỉ:
“ Con lậy mẹ đó mẹ ơi. Mẹ đừng vào nhà con trong tình thế này. Mai mốt chúng nó đồn rầm lên tội chứa chấp dân khiếu kiện là con mất chức, hết làm ăn. Để con vào lấy tiền đưa cho mẹ đi thuê khách sạn ngủ qua đêm”.
Vừa nói, Sinh vừa đẩy mẹ ra khỏi cổng và hấp tấp đi vào nhà.
Bà Khương không đi theo nó. Bà ngẩn người trước tình trạng đón tiếp của vợ chồng đứa con trai mà trước đó bà không hề nghĩ tới. Nếu biết thế này thì thà ra ngủ bờ ngủ bụi. Bà ngước mắt lên nhìn căn nhà lần cuối rồi tần ngần quay lưng đi. Bà đâu cần chờ món tiền mà thằng Sinh sắp trao, cho dù món đó có thể còn giá trị gấp chục lần một ký lô muối vừng rang mặn mà hồi nào bà cũng đã trao cho nó. Nghĩ đến hình ảnh của nó ngày xưa, và cả cung cách chính bà đã xua đuổi nó ra đường vào chiều tối hai mươi tám Tết năm nào, bà bỗng rùng mình khi nhận thấy chính mình cũng đã từng ở vào cái hoàn cảnh như của thằng Sinh bây giờ và đã nói những lời gần y như thế :
“Con thương bố mẹ, thương thân con thì hãy nghe lời mẹ quay về ngay đi. “
Ôi, cuộc đời này sao lại có những sự quay vòng nghiệt ngã. Bà chỉ còn thấy thương thằng Sinh mà không giận. Trước sau thì nó vẫn là máu mủ. Nó vẫn là thằng Sinh, khi nguy ngập vẫn phải đến cầu cứu bà trước tiên, như có lần nó đã viết nguệch ngoạc: “Con đói và thèm muối lắm mẹ ơi”. Chỉ cần nghĩ như thế thôi, là đôi mắt đang ráo hoảnh của bà bỗng ràn rụa nước mắt.
Còn đang vương vấn chợt bà Khương thấy như có ai đang giật gấu áo của mình. Bà quay lại nhìn thì thấy con bé rửa bát ngoài đầu ngõ đứng ngay ở đằng sau. Dưới ánh đèn đường, hai con mắt của nó lóng lánh như hai hột nhãn. Nó nói:
“ Theo cháu.”
Bà Khương vội vã:
“ Thôi…thôi…Rồi khốn cả nhà…”
Con bé nhoẻn một nụ cười để lộ hai hàm răng sún. Rồi nó xăng xái đi trước. Một tay nó túm lấy vạt áo của bà kéo mạnh. Bà vội vã bước theo nó, đi vào trong ngõ. Càng vào sâu, lòng ngõ càng mở rộng thêm. Thì ra ở chỗ này ngày xưa là một khu nghĩa địa. Rải rác chen quanh các mái tôn lụp sụp là những mô gò lổn nhổn. Dừng lại trước một cái túp lợp bằng tre với phên nứa, nó giải thích:
“ Bà ở đây qua đêm, sáng mai hãy về. Cháu thấy dân phòng đi lùng dân oan nhiều lắm.”
Quả nhiên con bé chưa dứt lời thì đã có tiếng lao xao từ xa vọng lại. Bà Khương đi giật lùi vào một góc tối. Hai người cùng nhìn ra và thấy hai thanh niên tay gậy tay gộc cũng đang đi lại. Con bé cười khúc khích:
“ Dân phòng đấy. Nhưng mò vào đây thì chỉ để kiếm gái…”
Chợt có tiếng léo nhéo vọng ra:
“ Vào đây các anh ơi…..Dân oan ở đây này…”
Hai gã cùng đứng lại. Một gã lên tiếng cười cợt:
“ Em thì oan cái đếch gì. Mới ở trường phục hồi nhân phẩm ra. Đây còn lạ gì…”
Giọng léo nhéo lúc nãy bỗng trở nên chua ngoa và đáo để hơn:
“ Ới giời ơi là giời ! Địt cụ nó ! Em con nhà lành rồi bị xô đẩy dẫn đến thế này, sao lại không oan…”
Rồi cái giọng hạ xuống, nghe dịu dàng hơn:
“Thôi vào mẹ nó đây, giải oan giùm em cho rồi, ở đó mà rấm rớ!”
Có tiếng cười rích lên, hai tay dân phòng chen nhau nói:
“ Vậy oan thật hả ? Thế thì tớ vào ngay! ”
“Bọn tớ cũng đang đi lùng dân oan đây!”
Nhật Tiến
11 – 2007