Nguyễn Ngọc Ngạn (1945 - ) Sinh tại hà Nội. Di cư vào Nam năm 1954. Gia nhập quân lực VNCH
năm 1970. 1975 học tập cải tạo. Năm 1978, được trả tự do, vượt biên và định cư ở Canada. Làm MC cho chương trình Paris By Night từ số 17 trở đi.
Truyện ngắn:
Killer Cong San
Biển vẫn đợi chờ
Lúc gần sáng (1986)
Sân khấu cuộc đời (1987)
Dòng đời lặng lẽ (1998)
Những người đàn bà đi bên tôi
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn
Truyện dài:
The Will Of Heaven ( Tiểu thuyết viết bằng tiếng anh)
Một lần rồi thôi (1987)
Nước đục (1987)
Trong quan tài buồn (1988)
Màu cỏ úa (1988)
Sai lần cửa khép (1988)
Trên lối mòn hậu chiến (1989)
Đếm những mảnh tình (1989)
Cõi đêm (1990)
Trong sân trường ngày ấy (1990)
Ngày buồn cũng qua mau (1990)
Dung nhan người góa phụ (1990)
Chính khách, nhìn lại một thập niên, chút tâm tình mong manh, quay trong cơn lốc, dấu chân xưa, nắng qua phố cũ (1996)
Truyện Ma:
Ngôi mộ mới đắp
Tiếng quạ réo vong hồn
Bóng ma bên cửa sổ
Cõi âm
Hồn về trong gió
Đêm không trăng
Trong một cuộc phỏng vấn với BBC, ông cho biết: "... tôi là trời cho được một số đặc điểm chẳng hạn như tôi có giọng nói dễ nghe, có một trí nhớ tốt. Tôi đọc cái gì là tôi nhớ ngay, nhờ là những chuyện đọc cách đây mấy chục năm, chỉ đọc một lần là tôi nhớ, nên tôi không phải sử dụng Internet. Tất cả những gì tôi đọc ngày xưa hay là bây giờ, tôi mở sách, mở báo ra qua một lần, thì mấy chục năm sau tôi vẫn nhớ... Thứ ba là trời cho tôi một óc khôi hài bén nhạy lắm, đang chuyện rất là nghiêm trọng, tôi có thể chuyển sang hài, rồi đang chuyện hài, tôi lại chuyển sang nghiêm trang. Thành ra những yếu tố đó là yếu tố trời cho và tôi dùng được để mà làm MC trên sân khấu..."
***
Sau đây là những truyện ngắn tiêu biểu của ông:
[1] TRONG ĐÓ CÓ TÔI
Nàng có 3 người yêu cùng ở một thành phố. Cả ba người yêu nàng toàn đáng yêu cả. Cường đang chuẩn bị lấy master, tuy không đẹp trai, nhưng rất chững chạc và có duyên. Huy xong đại học từ Việt Nam, sang đây không học lại, nhưng hiện có nghề nghiệp vững chắc, lợi tức cao và phong cách rất lịch sự. Huy lại có lợi thế hơn hai gã kia vì là bạn thân và được sự hỗ trợ tối đa của Định, anh nàng. Người thứ ba là Phục, con nhà giàu, chẳng bao giờ quan tâm tới việc học, bởi vì Phục cho rằng mục đích của bằng cấp ở xã hội này là chỉ để kiếm tiền, mà tiền thì ông già Phục mang theo rất nhiều, Phục đang hưởng thụ. Phục có vóc dáng rất bảnh bao, nhiều tài vặt, đàn hát giỏi, luôn luôn nổi bật tại các đám đông.
Hình ảnh của ba thằng con trai đó cứ lẩn quẩn trong trí nàng, rất khó quyết định, chọn lựa. Nhưng, điều làm cho tôi bực nhất là nàng quên hẳn một gã đàn ông thứ tư cũng yêu nàng tha thiết - có khi còn mãnh liệt hơn cả ba gã kia nữa - đó là tôi! Chính vì thế mà tôi thân với nàng nhất. Đúng ra, nàng coi tôi như một thằng anh trai. Có lẽ cũng không phải, vì rõ ràng nàng đã có một thằng anh là Định, nhưng có bao giờ nàng đem chuyện ái tình lẩm cẩm ra mà kể với Định đâu. Có lần nàng vừa gợi chuyện đã bị Định mắng át:
- Mày cà chớn vừa vừa chứ ! Lớn rồi phải biết nghĩ. Mày nên nhớ rằng, dù mày có cặp với triệu thằng thì cuối cùng mày cũng chỉ lấy được một thằng mà thôi!
Chính tôi cứ phải nghe ngày này qua ngày khác, những mẫu chuyện nàng kể về ba gã đàn ông kia, và bất đắc dĩ, tôi phải nói với nàng một câu rất rẻ tiền:
- Anh coi Hà như em gái của anh!
Kỳ thực làm sao có thể coi như thế được! Với tôi, Hà chẳng dấu diếm gì cả. Có khi còn tự nhiên quá đáng, làm như tôi cùng đồng phái nữ với Hà. Lâu dần, tôi trở thành cố vấn ái tình cho nàng mà trong lòng tức anh ách. Có lần Hà đến phòng tôi, nằm lăn ra giường. Chiếc váy ngắn co lên quá cao. Tôi cứ phải tảng lờ quay đi chỗ khác, làm như mình chẳng hề bận tâm gì đến cặp giò trường túc đang nhịp lên nhịp xuống trên tấm đệm trắng toát trước mặt. Giá không nhờ căn bản đạo đức Khổng Mạnh sẵn có trong người, cộng với công phu ngồi thiền mấy năm trời, thì hôm ấy tôi đã đi tù rồi! Tôi khổ sở kéo ghế lại gần giường, lắng nghe nàng kể lể về ba gã kia và chợt nhận thấy một cách rõ ràng là cả ba người yêu của nàng đều hơn tôi về mọi mặt. Nhưng tôi vẫn tự cho rằng mình là thằng dễ thương nhất! Dĩ nhiên tôi không bao giờ tỏ tình với Hà, vì làm như thế có thể vĩnh viễn đánh mất tình trạng mập mờ quý giá hiện tại. Tôi nhất định không khi nào nói xấu tình địch, trước hết vì tôi tự cho mình là người quân tử, đã thoát khỏi sự ganh ghét thường tình của thế gian. Hơn thế nữa, nói xấu kẻ thù một cách vụng về thì luôn luôn đem tới phản ứng ngược. Trong cách xử thế, tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi một câu nói của cổ nhân:
- Chửi bới là một hình thức lý luận nghèo nàn nhất, và chỉ biểu lộ một mặc cảm thua kém!"
Tôi cứ phải nhịn nhục, dù chuyện của nàng nhiều lúc nghe rất chướng tai. Có đêm vừa thiu thiu ngủ, tôi bị điện thoại đánh thức dậy để nghe nàng kể về bức thư tình nàng vừa nhận được, do một trong ba gã gửi tới. Khổ nhất là nàng lại đọc nguyên văn lá thư gần mười trang cho tôi nghe, giọng văn Hà Triều Hoa Phượng mà có lẽ chính người viết cũng đã vội vàng bỏ vào phong bì không dám đọc lại. Nhưng quả thật tác giả bức thư tán tỉnh cũng cao tay lắm. Cuối thư gã viết: -"... Anh tầm thường lắm, chẳng có gì cho em kỳ vọng. Chỉ có tình yêu làm hành trang vĩnh cửu đến với em..."
Thì dĩ nhiên là gã tầm thường thật! Nhưng gã nói ra điều đó, khiến Hà có cảm tưởng gã rất vĩ đại mà khiêm tốn. Và nàng run run cảm động, ngây ngất ôm lá thư, kẹp vào giữa hai đùi mà ngủ!
Một buổi chiều cuối tuần, Hà rủ tôi đi shopping. Kể ra có Hà đi bên cạnh, cũng là một điều hãnh diện, vì nàng đẹp. Nhưng đàn bà ai cũng như ai, mua một cái áo thì mất nửa buổi để chọn lựa. Tôi cứ lêu bêu bên cạnh, trả lời những câu hỏi quen thuộc được lặp đi lặp lại hàng chục lần:
- Cái này được không anh? Hà mặc có hợp không?
Tôi chưa kịp lên tiếng thì nàng tự động đáp thay tôi:
- Màu này trông già quá. Chỉ có màu này em ưng nhất, nhưng không có số nhỏ.
Ngay từ cái áo đầu tiên nàng lôi ra và ướm thử, tôi đã vội vàng khen ngay, hy vọng có thể rút ngắn thời gian:
- Đẹp đấy chứ! Em mặc cái này là nhất rồi !
Nhưng nàng lại cứ bình thản máng lên và quay đi. Được mấy bước, nàng quay trở lại, nghiêng đầu, nheo mắt ngắm nghía rất chăm chú, rồi lại đi tiếp. Sau khi khen cả mấy chục cái mà không có kết quả, tôi cảm thấy ngượng và đành bảo nàng:
- Thôi tùy em. Về thời trang, anh kém lắm !
Hà hình như cũng nhận ra nét mặt rầu rầu của tôi, vội vàng níu cánh tay và bảo:
- Chịu khó đi với em tí nữa. Tươi lên chứ, mặt như đưa đám thế kia. Em giận bây giờ ! Thôi, qua bên Eaton chắc có nhiều kiểu đẹp, tha hồ lựa!
Tôi ú ớ mấy lời, nở nụ cười méo xệch và lẽo đẽo đi theo. Hà kể tiếp:
- Anh biết không? Ngày mốt là sinh nhật của anh Phục. Anh ấy tổ chức party đông lắm.
Tôi nói bâng quơ:
- Thế à!
Tôi muốn phì cười vì thâm tâm tôi rất chán những thằng đàn ông già gần xuống lỗ rồi còn bày đặt mừng sinh nhật hàng năm. Sinh nhật là trò vui của đàn bà và con nít. Đàn bà cần có dịp để chưng diện. Con nít cần cơ hội để nhận đồ chơi. Thằng Phục đã hơn ba mươi, xấp xỉ cùng với tuổi tôi mà còn giở chứng, nghe thật chướng tai.
Hà lại nói:
- Anh Phục bảo em là, nếu em mà không đến dự, thì anh ấy dẹp luôn party.
Tôi nghĩ bụng:
- Em ngu thấy mẹ! Mời ai nó không nói thế!
Nhưng tôi chỉ thở dài. Biết nàng mua áo mới để diện với Phục, bước chân tôi càng nặng chĩu. Nhưng cũng còn may nàng nói cho tôi biết nàng sắm quần áo để ra mắt với Phục, chứ nếu không thì tôi đã tốn thêm trăm bạc một cách ngớ ngẩn. Bởi vì từ lúc được Hà rủ đi shopping, tôi vẫn định tâm là sẽ hiên ngang rút credit card ra trả tiền cho nàng. Giờ thì thôi. Đành rằng tôi chẳng tiếc tiền, nhưng tôi rất sợ sẽ có lúc lòng mang mặc cảm hối hận mình đã có thời dại gái. Shopping gần đóng cửa. Hà mới lôi tôi ra khỏi tiệm. Chui vào xe, Hà ra lệnh:
- Bây giờ, anh đưa em đi uốn tóc.
Tôi ngoan ngoãn chở nàng tới tiệm Hair design do một người đàn bà Việt Nam làm chủ. Tiệm rất đông khách. Đàn ông, đàn bà tíu tít nói chuyện như một cái chợ nhỏ. Mùi nước hoa, mùi shampoo, thuốc nhuộm... trộn lẫn với nhau, bốc lên ngạt ngào như chẹt lấy mũi tôi. Bà chủ nồng hậu mời tôi ngồi, quát người làm pha cà phê cho tôi rồi giắt Hà vào chỗ cắt tóc. Tôi nghe nói có thời bà là hoa khôi ở Sài Gòn, thế mà nay, mới có hơn mười năm, nhan sắc bà đã biến đổi một cách thảm hại, mặc dầu bà luôn luôn trang điểm rất kỹ lưỡng. Tôi nhìn khắp lượt cái đầu trong tiệm. Mái tóc thời trang năm nay trông chán quá. Cụt ngủn, khoe cái gáy ra. Phía trước thì xù lên một chùm như cái đuôi ngựa. Tôi vốn là một thằng bảo thủ, ghét đàn bà tóc ngắn. Tôi tưởng tượng nằm bên cạnh người đàn bà tóc ngắn thì cũng chẳng khác gì ôm một thằng đàn ông! Tôi biết mình vô lý. Bởi vì thời trang là cái người ta phải theo, chẳng nên cưỡng lại để trở thành kẻ lạc hậu, nhà quê. Bà chủ đưa cho tôi cuốn báo Văn nghệ và nói:
- Ông ngồi chơi nhé. Để tôi cắt tóc cho bà nhanh lắm !
Bà chủ biết chắc tôi và Hà không phải vợ chồng, nhưng có lẽ bà cố ý hiểu lầm như vậy cho tôi vui. Hà quay lại, nhìn tôi mỉm cười, nhưng không lên tiếng cãi chính.
Tôi nhấp ngụm cà phê, cúi xuống mở báo ra đọc. Nhưng không đọc nổi. Quanh tôi, những mẫu chuyện đủ loại ồn ào vang lên. Tiệm uốn tóc nào cũng là một phòng thông tin - hay đúng hơn là một hãng thông tấn - ở đó người ta có thể biết tất cả mọi chuyện đang diễn ra trong thành phố. Bà này bỏ chống, ông kia lấy vợ bé, anh nọ bị thất nghiệp v.v...Chuyện nào cũng hấp dẫn cả. Tôi chúi đầu xuống trang báo, cố ý làm ra vẻ mình không quan tâm đến thế giới đàn bà. Nhưng thật sự tai tôi chẳng bỏ sót một chi tiết nào cả. Bà chủ vừa gội đầu cho Hà xong, dìu nàng lại ngồi trên ghế và chuyển mục sang đề tài hột xoàn, khen hột của bà này to, chê hột của cô kia có sạn. Mới đó, bà lại lôi sang tới chuyện sửa sắc đẹp, ca ngợi ông bác sĩ này căng da bụng khéo, lên án ông bác sĩ kia cắt mắt vụng về. Bà nói huyên thuyên không ngừng một phút. Tôi biết chắc những đề tài của bà đều do khách hàng mang lại, bởi vì bà có bước chân ra khỏi tiệm đâu. Nhưng lối kể chuyện của bà rất sống động và minh bạch, y như chính bà là người trong cuộc hoặc ít là tận mắt chứng kiến.
Tôi đứng dậy, ra hiên mua gói thuốc lá. Lúc quay vào thì nghe bà chủ đang nói chuyện kháng chiến. Ở Đông Nam Á hiện nay có bao nhiêu chiến khu, bà khai ra vanh vách, từng chi tiết về quân số, quân trang, quân dụng. Nói đến mỗi tổ chức, bà không quên kèm theo lời bình phẩm về thực lực và tác phong của từng lãnh tụ. Nhưng cái khôn của bà là không chê trách nặng tiếng, có lẽ bà sợ đụng chạm và mất khách. Bất đắc dĩ lắm bà chỉ nói nước đôi: - Tôi biết ông ấy có lòng đối với đất nước lắm, nhưng thời cơ chưa đến.
Bà bất ngờ quay sang hỏi tôi:
- Phải không ông?
Câu hỏi đột ngột quá, khiến tôi lúng túng, đành gật đầu nói đại:
- Tôi cũng nghĩ thế.
Ngồi nghe chuyện hơn ba tiếng đồng hồ, Hà mới uốn tóc xong. Nàng đến trước mặt tôi, quay bên này, nghiêng bên kia, dồn dập hỏi:
- Được không anh?
Nàng hỏi theo thói quen thôi, chứ không hề quan tâm tới ý kiến của tôi, vì đằng nào nàng cũng chọn kiểu tóc trước khi vào đây. Tôi biết thế nên chỉ khẽ gật đầu. Hà bảo:
- Anh Phục thích kiểu tóc này lắm.
Tôi thấy nghẹn trong cổ. Nàng cắt tóc theo ý của Phục thì còn hỏi tôi làm gì nữa.
Nửa đêm vừa về tới nhà đã nghe tiếng phone reo. Phục mời tôi đến dự tiệc sinh nhật, mặc dầu chúng tôi chưa gặp nhau bao giờ. Tôi nhất định từ chối không đi. Nhưng ngay sau đó Hà điện thoại nằng nặc nói:
- Em bắt anh Phục mời anh đó. Đi với em để em còn hỏi ý kiến anh nữa chứ!
Hà cứ nài nỉ mãi, dứt khoát không chịu buông phone cho đến lúc tôi xiêu lòng nhận lời.
Ngày sinh nhật của Phục, tôi để Phục đem xe đến đón Hà, còn mình lái xe theo sau. Quả thực đúng như lời Hà mô tả, Phục rất đẹp trai và thu hút đám đông. Nhưng anh chàng bận khách khứa, Hà luôn luôn ở bên tôi. Một gã thanh niên mời Hà nhảy một bản Boston. Hà từ chối. Lát sau nàng khiêu vũ với tôi, gã kia uất ức nói lớn, chắc muốn để tôi nghe luôn:
- Thứ em, ở Việt Nam, nói xin lỗi, anh quay đi chỗ khác không thèm nhìn.
Người ngồi bên cạnh gã cũng gào lên phụ họa:
- Tao cực lực phản đối tình trạng tự lên giá bất hợp pháp của con gái bên này. Mới hơi thiếu một chút đã làm cao.
Rồi gã quay sang hỏi tôi:
- Đúng không, anh bạn?
Tôi cười:
- Lên giá tại vì bọn đàn ông mình làm cho nó lên giá đấy chứ !
Cả hai nhìn tôi gật gù cười:
- Có lý.
Rồi cùng chìa tay bảo tôi:
- Rua ông bạn một cái.
Mẫu đối thoại không làm tôi quên Hà. Mắt tôi vẫn đăm đăm theo dõi nàng đang gục đầu vào vai Phục trong nhạc điệu xì lô, thì thầm to nhỏ. Tôi thở dài buồn bã. Nhìn Phục, căn nhà thênh thang của Phục và cách ăn mặc rất trang trọng của Phục, tôi thấy mình bất lực và nên bỏ cuộc chạy đua thì hơn, trước khi chuốc lấy thất bại đắng cay. Tôi nghĩ đến bà chủ tiệm uốn tóc, và tự trấn an rằng: một người có thời lẫy lừng về nhan sắc như bà mới vài năm qua, thời gian đã xóa đi mọi dấu vết, chỉ còn lại những phai tàn đến tội nghiệp. Hà có lẽ cũng thế mà thôi. Chẳng có gì quý giá đến độ tôi phải khổ sở.
Tự trấn an mình xong, tôi búng tay đứng dậy, lại quầy lấy cho mình ly rượu nhỏ, bước ra cửa vừa uống vừa ngó trời đất.
Bản nhạc dứt, Phục dìu Hà đến trả lại cho tôi. Tôi bảo hai người:
- Anh có chút chuyện phải đi gấp, Hà ở lại đây, lát nữa nhờ anh Phục đưa về.
Nàng vờ vịt dãy nảy. Còn Phục thì cảm động ra mặt, nghiêng mình bắt tay tôi rất lịch sự, đồng thời tiễn tôi ra tận lề đường, hai ba lần dặn tôi thỉnh thoảng ghé chơi. Tôi lên xe phóng đi, lòng nặng chĩu. Dọc đường tôi ghé coi dăm cuốn phim 3X cho đỡ sầu đời.
Nửa đêm về đến nhà, cởi xong đôi giầy đã nghe điện thoại réo gọi, Hà kể:
- Anh Phục bảo em là, anh ấy đi chơi rất nhiều, giao thiệp rất rộng, nhưng chưa bao giờ gặp một người con gái nào gây cho anh ấy nhiều xúc động như em!
Tôi muốn gào lên trong điện thoại:
- Em ngu thấy mẹ! Gặp ai nó không nói thế ! Chính anh đây là thằng khờ nhất nước Mỹ, mà cũng đã từng nói câu ấy với hàng chục đứa con gái rồi !
Nhưng tôi chỉ đành vuốt theo một cách vô thưởng vô phạt:
- Thế à!
Hà tiếp tục tán dương Phục, tạo cho gã một hình tượng cao vời vợi. Thậm chí Hà còn bảo trông Phục giống như tài tử Châu Nhuận Phát trong bộ phim "Máu nhuộm bãi Thượng Hải". Tôi kẹp ống nghe vào tai, uể oải lắng nghe, ừ hử cho qua chuyện. Sau cùng, Hà hỏi tôi:
- Anh thấy anh Phục thế nào?
Tôi hỏi lại:
- Em thấy thế nào?
Hà đáp không lưỡng lự:
- Tuyệt vời !
- Em thấy sao anh thấy vậy.
Hà cười khúc khích:
- Thế thì em còn hỏi anh làm gì nữa.
Nhưng lạ thay, những ngày kế tiếp, Hà không nhắc nhở gì tới Phục nữa mà chỉ thường nói chuyện với tôi về Huy. Đối với tôi, Huy là anh chàng dễ thương nhất. Nhưng Huy hiền lành và thật thà quá, có lẽ Hà không thích loại người đó, vì nàng còn nhiều mộng mơ. Tôi biết Huy rất lu mờ trong trí Hà mặc dù Huy được sự ủng hộ tối đa của Định, anh nàng. Định tán giùm bạn mãi không ăn thua gì, đâm ra bực. Nhưng Định tức Hà thì ít mà giận Huy thì nhiều. Một lần Huy đến nhà than thở, Định mắng ngay:
- Mày ngu thấy mẹ! Con gái nó thích những thằng nói phét. Mày thật thà quá làm sao nó mê được.
Huy trố mắt ngạc nhiên, chưa kịp nói gì thì Định nhấn mạnh thêm:
- Con gái là loại trời sinh ra để bị dụ dỗ. Mày phải lưu manh một chút mới được.
Huy chống chế:
- Tại nó là em mày, làm sao tao lưu manh được?
Định quát lên:
- Phải như thế mới được.
Rồi một hôm, Định rủ Hà và Huy đi chơi xa, tới một thành phố rất nhỏ. Ở đó, Định chạy theo mấy cô gái giang hồ, bỏ lại mình Hà với Huy trong khách sạn.
Nghe Hà kể đến đây, tôi giật mình hỏi:
- Rồi đêm đó nó có làm gì em không?
Hà tròn mắt nhìn tôi:
- Làm gì là làm gì?
Tôi giật mình vì không biết nàng ngây thơ vờ vịt:
- Là tỏ tình, cầm chân cầm tay...
Hà cười:
- À, không! Tưởng gì chứ cầm tay thì lúc nào chả được. Em có cấm đâu!
Tôi chán nản nhìn nàng. Nàng vui vẻ nói tiếp:
- Suốt đêm em nằm trên giường, Huy ôm mền ngủ dưới đất. Thỉnh thoảng em nghe anh ấy thở dài. Rồi em ngủ một giấc bình yên cho tới sáng.
Tôi buộc miệng:
- Thằng ngố đó, bỏ là phải!
Nói xong, tôi hối hận ngay. Dù sao tôi cũng thương Huy nhất trong ba gã tình địch. Tôi nghĩ nếu Hà không lấy tôi thì chỉ nên lấy Huy thôi. Dĩ nhiên tôi vẫn tin rằng lấy tôi là nhất.
Hà nói có vẻ suy nghĩ về câu phát biểu vừa rồi của tôi. Nàng nghiêm trang:
- Có lẽ anh nói đúng. Ngố thật! Nên loại khỏi vòng chiến là vừa!
Chả hiểu sao, tôi lại bênh Huy:
- Thường thường những thằng kép lý tưởng thì không bao giờ là người chồng tốt. Có những loại đàn ông trời sinh ra chỉ để làm bồ thôi, lấy về là vứt đi ngay. Huy không thuộc loại người đó.
- Như vậy là anh khuyên em nên lấy Huy?
Tôi không trả lời. Khuyên nàng lấy chồng thì tôi chỉ khuyên nên lấy tôi mà thôi!
Một đêm mưa nhỏ, tôi bỗng nhớ Hà kinh khủng mà không muốn nói chuyện qua phone. Tôi khoác chiếc áo mưa cũ mèm, màu vàng nhạt, lặn lội sang tìm nàng, nhất quyết phải nói cho nàng biết rằng tôi đang yêu, rồi muốn ra sao thì ra. Đã đến lúc tôi không thể đóng kịch để làm cố vấn ái tình mãi được, để nghe nàng cứ tỉ tê mãi về ba gã đàn ông kia mà trong lòng ôm mối sầu thổn thức nhiều khi mất ăn mất ngủ. Ngày xưa mê đọc tiểu thuyết, tôi yêu cái hình ảnh người con trai lầm lũi đi trong mưa, hứng trọn cái lạnh lẽo của thời tiết và nỗi cô đơn của mưa rơi. Đêm nay, tôi chính là một nhân vật tiểu thuyết, nhưng tôi chả thấy hình ảnh của tôi đáng yêu một chút nào cả. Tôi gõ cửa, nàng ra đón, vui mừng reo lên như người cô phụ đoàn tụ với với anh chồng viễn chinh đã lâu mới trở về. Hà mặc áo ngủ màu hồng nhạt, thấp thoáng mờ ảo dưới ánh đèn hắt ra từ phía trong. Tôi theo nàng vào phòng, mặt nghiêm và buồn, chuẩn bị nhập đề ngay. Nhưng Hà chẳng để tôi có thì giờ bày tỏ, nàng hân hoan bảo:
- Em đang cần nói chuyện với anh, may quá anh lại sang. Sao không phone cho em? Tội nghiệp! Mưa gió thế này mà cũng chịu khó lặn lội.
Tôi run run cảm động. Nàng cũng biết tôi lầm lũi đi dưới mưa vì nàng. Nhưng tôi chưa kịp lên tiếng thì Hà đã vội lôi ra từ dưới gối, một bức thư màu xanh. Lại thư của thằng rẻ tiền nào đây! Tôi nén tiếng thở dài chờ đợi. Hà kể:
- Anh Cường viết thư cho em. Tội nghiệp anh ấy yêu em quá!
Tôi nản chí cúi đầu. Hà bình thản tiếp:
- Anh ấy bảo: nếu em không đáp lại tình yêu của anh ấy, thì anh ấy sẽ bỏ học, đi Alaska bắt cua!
Tôi muốn gào lên và vả cho nàng mấy cái liền. Em ngu thấy mẹ ! Thách cả nhà nó cũng không dám bỏ thành phố lên Alaska mò cua. Nó đang học hành và du hí kỹ như thế mà đòi lên Bắc cực làm quen với nghêu, sò, ốc, hến !
Nhưng tôi biết nói gì bây giờ ! Đã bảo là tôi không có thói quen nói xấu tình địch, vì như vậy mình sẽ trở nên tầm thường quá. Tôi thấy buồn cười cho thằng đàn ông doạ dẫm sẽ đi mò cua bắt ốc. Tôi lại càng buồn cười hơn vì cô em gái của tôi cứ xuýt xoa thương hại mãi cái thằng con trai bạo mồm kia. Mà tại sao nó phải viết thư? Thời buổi này gặp nhau nói thẳng, hoặc tiện nhất là dùng điện thoại, bày đặt thư từ làm gì. Tôi có thằng bạn ăn nói vấp váp, nhưng rất tự tin vào tài văn chương của mình, một hôm gửi bức thư tình dài thăm thẳm cho con bé học năm cuối bậc Trung học. Xui cho thằng bạn tôi, con nhỏ không biết đọc tiếng Việt mà Anh văn thì thằng bạn tôi không kham nổi. Tôi nghĩ đến lá thư của Cường vừa gửi cho Hà và tự dưng muốn đọc xem gã viết gì trong đó. Tôi chưa kịp ngỏ lời thì Hà thúc giục:
- Bây giờ em trả lời ra sao đây anh? Anh ấy hẹn em một tuần mà không thấy hồi âm thì an ấy sẽ đi ngay!
Tôi đủng đỉnh:
- Để từ từ anh tính coi !
Hà gạt:
- Anh có yêu đâu mà biết được tâm trạng người đang yêu. Anh Cường đang nóng lòng mà anh bảo để từ từ sao được !
Tôi nhìn Hà một lúc, ngập ngừng toan nói cho nàng hiểu nỗi lòng tôi. Nhưng biết Hà đang tràn ngập hình ảnh của Cường trong tâm trí, tôi tự cảm thấy không đúng lúc. Tôi đứng dậy, bâng khuâng đi ra cửa. Cơn mưa vẫn chưa dứt. Gió thổi vù vù từng cơn hắt bụi nước vào mặt tôi. Một lúc tôi quay vào, thấy Hà ngồi trên giường tựa lưng vào vách, hai tay nâng lá thư xanh của Cường đọc lại. Mặt nàng nghiêm trang, đôi mắt xúc động. Nàng ngẩng lên nhìn tôi và lại giục giã tiếp:
- Làm thế nào bây giờ hả anh?
Tôi ngồi xuống bên nàng và nói:
- Trong ba thằng mê em. Huy lấy làm chồng được. Phục làm kép rất tốt. Còn Cường thì anh không có ý kiến.
Tôi thấy Hà buông rơi những tờ thư trên giường, trố mắt nhìn tôi một lúc lâu rồi đột ngột hỏi:
- Còn anh, anh thuộc loại đàn ông nào?
Tôi giật mình xúc động. Hai năm nay từ ngày quen Hà, có lẽ đây là lần đầu tiên nàng để ý đến tôi. Cơ hội tốt nhất để tôi nói thật lòng mình. Nhưng thay vì nghiêm trang tỏ tình, tôi lại nửa đùa nửa thật bảo nàng:
- Anh thì khác hẳn. Anh là người tình tuyệt vời mà cũng là người chồng lý tưởng.
Tôi tưởng nàng sẽ phá lên cười và sỉ vả tôi về cái tội đại ngôn. Nhưng không, nàng nhìn tôi nghiêm trọng, đôi mắt mở to khác thường. Có lẽ bấy lâu nay nàng quá vô tình, quên hẳn một người thật gần gũi. Chao ôi ! Thần tượng ngay trước mắt, ngay trong tầm tay mà nàng không thấy. Nàng gật đầu dịu dàng bảo tôi:
- Thế mà từ trước đến nay em không để ý.
Tôi vừa kinh ngạc vừa lâng lâng sung sướng. Hà tiếp:
- Thôi, để em giới thiệu cho anh con bạn thân của em. Nó vừa bị thằng kép đá, còn đang bơ vơ !
Tôi méo miệng cười giã từ ra về và chợt nảy ra ý định đi Alaska mò cua, thay cho Cường.
***
[2] BÊN HÀNH LANG TÒA ÁN
BA người đến cùng một lúc. Đi đầu là Ấu, chủ tịch Phường, dáng thấp và béo, mặt tròn như cái đĩa. Các bà tin tướng số thường bảo Ấu có tướng ngũ đoản “bỏ rọ cũng không sợ chết đói”. Cũng có thể là “lục đoản”, nghĩa là cái gì trên thân thể gã cũng ngắn cả! Bên cạnh Ấu là Đình, ủy viên thư ký, cán bộ thường trực giải quyết những vấn đề hành chính của Phường. Đình người tầm thước, lưng hơi khòm, má hóp, da ngăm đen, mái tóc dài vén lên hai bên tai lúc nào cũng thấy âm ẩm như lâu lắm không gội đầu. Theo sau Ấu và Đình là phó chủ tịch Hải, người có nét mặt hiền lành, mang tật bẩm sinh đầu hơi nghiêng về phía trái và đôi mắt thường xuyên hấp háy như có lông quặm. Cả ba cùng mặc sơ mi trắng ngắn tay, quần tây xanh đậm và riêng Ấu còn đi giày, thắt cà vạt bởi vừa công tác trên quận về.
Từ trong nhà, Tuyên lao ra, hai bàn tay sần sùi xoa mãi vào nhau, niềm nở đón:
- Rước các anh vào xơi cơm. Cả nhà đang đợi!
Ấu vui vẻ đáp lại:
- Cứ tưởng là không về kịp. Ông Canh níu mãi, bảo ở lại đánh tổ tôm. Tôi phải nói dối là về họp Phường.
Tuyên đưa tay:
- Vâng. Không có anh thì mất vui.
Dăm ba người đến trước đang ngồi trong nhà, lố nhố đứng dậy, mỗi người hỏi một câu. Rồi không chờ Tuyên mời lần thứ hai, tất cả tự động leo lên phản, chia nhau ngồi xếp bằng quanh mâm cỗ thịnh soạn. Hai đĩa thịt gà luộc vàng ngậy, phủ lớp lá chanh thái nhuyễn. Giò lụa, xôi gấc. Giò lợn ninh măng khô. Lòng gà xào mướp. Cá chép rán, tương gừng. Món nào nhìn cũng đẹp, ăn cũng ngon. Tuyên xách chai rượu Mỹ từ trong buồng ra, trịnh trọng đặt trước mặt Ấu rồi gọi thằng cháu đang quạt ruồi phành phạch bên cạnh nồi chè hoa cau, lại đứng trước mặt Tuyên để nói vài lời phi lộ theo đúng nghi thức. Đối với mọi người trong ủy ban, Tuyên là chỗ thân tình giao dịch hàng ngày. Nhưng dù cho thân đến mấy thì thân, thủ tục khách sáo vẫn không bỏ được. Tuyên loanh quanh cố tìm một lý do cho bữa tiệc nhưng nghĩ mãi không ra, gã đành miễn cưỡng gán ghép:
- Báo cáo ủy ban, hôm nay là ngày kỵ của bố cháu đây. Thành ra nhà cháu có chén rượu nhạt, tí dưa tí muối, xin mời ủy ban chiếu cố. Chả mấy khi ủy ban quá bộ lại chơi, thật là rồng đến nhà tôm, xin cứ tự nhiên như ở nhà...
Sáu bảy cái mồm cùng đồng thanh cất lên:
- Không dám! Không dám!
Và trong khi miệng nói “không dám” thì mọi bàn tay đều sột soạt cầm đũa. Tuyên vỗ nhẹ lên vai thằng cháu, đuổi nó đi chỗ khác chơi cho người lớn nói chuyện. Rồi gã kéo cái ghế đẩu lại gần phản, khép nép ngồi xuống ngay bên cạnh nồi cơm gạo tám thơm trắng toát. Bữa tiệc hôm nay Tuyên mượn nhà đứa cháu, thết đãi ủy ban nhân dân phường Bạch Mã vì có việc quan trọng cần nhờ vả. Việc ấy, cả ủy ban đều đã biết, đó là lá đơn xin ly hôn mà Tuyên nộp cho Ấu cách đây sáu tháng, cần được Phường giúp đỡ giải quyết trước khi chính thức đưa lên toà án nhân dân Quận thụ lý. Cho Tuyên ly hôn với vợ thì quá dễ, vì cả hai đều chẳng muốn nhìn mặt nhau nữa. Nhưng cái phức tạp nằm ở phần phân chia tài sản, bởi vợ chồng Tuyên hiện đang làm chủ căn nhà xây mà cứ tính theo thời giá thì ít lắm cũng phải hơn mười lượng vàng. Đó chính là lý do Tuyên phải đi đòn ngầm, len lén bàn tính với lãnh đạo Phường tại nhà thằng cháu để vợ khỏi biết.
Thực khách bắt đầu động đũa. Tuyên khép nép ngồi nhìn, kiểm tra toàn bộ xem có thiếu thứ gì cần thiết chăng. Thỉnh thoảng gã lại ngoái cổ nhìn ra sân. Chờ Ấu lên tiếng giục, Tuyên mới gắp thịt gà đặt vào bát. Chưa kịp ăn thì có tiếng nói oang oang từ ngoài cổng:
- Phơi đỗ, phơi lạc, liệu mà khuân vào đi. Mưa đến nơi kia kìa!
Mọi cái đầu đều ngẩng lên nhìn ra. Riêng Tuyên thì tươi hẳn nét mặt, quăng vội đôi đũa sơn xuống mâm, đứng dậy đón khách. Miệng nở sẵn nụ cười, tay xoa lia lịa vào nhau theo thói quen từ thuở vào đời, Tuyên chạy ra thềm hớn hở nói:
- Cả nhà chờ bác mãi!
Chủ tịch Ấu nói đùa một câu nhạt nhẽo:
- Các cụ bảo là “ăn đi trước”! Chỉ có cái ông Thái này thì bất luận ai mời, ông ấy cũng cứ dềnh dàng, bắt người ta phải đợi!
Tuyên đưa tay đỡ cái xà-cọt của Thái, đặt ở đầu giường. Đám người ngồi trên phản tự động xích lại gần nhau để nhường một khoảng trống cho Thái. Ông ta ngồi ngay bên cạnh Ấu, bưng cốc rượu của chủ tịch Phường nhấp một chút, nhăn mặt thở khà thật mạnh rồi gắp vội miếng giò lụa ngòm ngoàm nhai. Ngay sau đó, ông gác đôi đũa lên mặt bát, nhoài người véo một nắm xôi, dùng mấy ngón tay viên lại cho chặt như cơm nắm, đưa lên mồm cắn từng miếng rất gọn ghẽ. Đầu ông gật gù, ánh mắt lim dim tận tình thưởng thức. Ông lặp đi lặp lại những động tác gọn ghẽ ấy đến ba bốn lần, miệng nhai không lúc nào ngừng, cho đến khi dạ dầy đã lưng lửng, ông mới khoan khoái bảo mọi người:
- Biết là chiều nay có bữa cỗ ngon, thành ra nhịn từ sáng đến bây giờ!
Vài giọng cười lẻ loi cất lên vì tưởng đó là câu khôi hài của Thái. Trong bất cứ đám đông nào, tiếng nói của Thái cũng được người ta dành cho nhiều chú ý. Lý do giản dị vì Thái là một đảng viên lớn tuổi lại tỏ ra thông thạo nhiều vấn đề và ăn nói có đầu đuôi ngọn ngành. Mặt Thái xương xương, má hơi hóp và cái trán quá cao làm cho mặt gã trông dài hẳn ra. Thái nhuộm tóc, nhưng vì thiếu chăm sóc đều đặn nên lúc nào cũng khoe ra một mảng màu trắng sát da đầu. Các đồng chí nể Thái là vì tất cả những chức vụ quan trọng ở Phường, bên Đảng ủy cũng như bên chính quyền Thái đều đã từng nắm giữ. Một dạo trên Huyện thiếu người, gã lên công tác hai năm ở phòng Thông tin Văn hoá rồi lại trả về Phường để Thái ra làm chủ tịch. Gã ngồi ghế ấy cho đến năm 87 thì xin nghỉ hưu ở tuổi mới ngoài năm mươi vì chứng phong thấp hành hạ thường xuyên, uống thuốc Nam, thuốc Bắc và châm cứu khoảng một năm, bệnh giảm hẳn, Thái lại quay ra làm việc ở hợp tác xã sản xuất đồ gỗ. Người như thế, nói chung, mặt nào cũng biết, tuy chẳng có thứ nào đến nơi đến chốn.
Năm kia, triển khai nghị quyết của Đảng đưa xuống là bất cứ cuộc bầu cử nào, dù trong nội bộ Đảng ủy cũng như ủy ban nhân dân, đều phải phát huy cho được tính dân chủ và tính truyền thống để phù hợp với chính sách đổi mới của nhà nước, Thái đã đưa ra một sáng kiến rất hay mà các đồng chí trong chi bộ đều cảm phục. Đảng viên ở Bạch Mã khá đông, nhưng cấp ủy chỉ thị lấy có bảy người. Giá cứ như thông lệ thì bầu cử chỉ là hình thức chiếu lệ, chưa bầu đã biết trước những ai sẽ là Đảng ủy viên lãnh đạo Phường. Đảng ủy cần bảy người, luôn luôn chỉ có bảy ứng cử viên tiền chế vốn là những khuôn mặt quen thuộc muôn đời không thay đổi. Nhưng đấy là chuyện thời trước. Bây giờ đổi mới thật rồi, không thể như thế được. Thái giải thích chính sách một cách khoa học và cụ thể trong cuộc họp riêng với các đồng chí cấp ủy:
- Trên chỉ thị phải nêu bật được tính dân chủ và tính truyền thống. Năm nay, ta lấy bảy đồng chí vào cấp ủy. Nếu ta chỉ đưa ra bảy người ứng cử tức là thiếu dân chủ. Xin chi ủy cho tôi cùng ứng cử, nhưng các đồng chí vận động anh em đừng bỏ phiếu cho tôi. Tôi già rồi, báo cáo các đồng chí là không kham nổi việc Đảng nữa đâu. Tôi úng cử chỉ cốt để chi bộ thấy ta có tám người mà chỉ chọn lấy bảy thôi. Như vậy khi báo cáo lên Quận, Quận mới thấy là ta đảm bảo được tính dân chủ!
Mọi cái đầu đều gật gù nhất trí và nhìn Thái bằng cặp mắt hết sức ngưỡng phục. Thái lại tiếp:
- Nhưng dân chủ chưa đủ. Trên còn chỉ thị ta phải có tính truyền thống nữa. Thế nào là tính truyền thống? Nghĩa là không lệch lạc, không chao đảo, không thể để kẻ địch len lỏi vào mà phá hoại công cuộc đổi mới của ta. Cho nên để phát huy tính truyền thống thì tất cả những đồng chí nào đang là Đảng ủy viên, năm nay bầu lại, ta cứ giữ nguyên những đồng chí ấy. Nếu ta thay đổi tức là không phát huy được tính truyền thống của cách mạng, trái với chỉ thị của trên!
Mọi khuôn mặt ngồi nghe Thái nói lại càng gật đầu mạnh hơn và nhiệt liệt biểu dương kiến thức lỗi lạc của Thái. Chính vì thế, trên giấy tờ, Thái tuy chỉ là một cán bộ hưu trí, nhưng trong thực tế, tiếng nói của Thái có sức nặng chỉ đạo mà mọi đảng viên đều tin tưởng và dễ dàng nghe theo.
Nhưng trong tất cả những vai trò khác nhau mà Thái đã kinh qua thì lãnh vực luật pháp mới thật là sở trường của Thái. Vào những năm trước đây, tuy tư pháp hoàn toàn tập trung trong tay hành pháp, nhưng mỗi khi một bị cáo ra trước toà án nhân dân, chính quyền đều có đề cử một người của Đảng đóng vai trò luật sư biện hộ để phạm nhân khỏi cảm thấy cô đơn trước vành móng... lợn! Thái chính là vị trạng sư quen thuộc của phường Bạch Mã, đứng về phía nhân dân mà bênh vực bị cáo. Thái nổi tiếng rất nhanh nhờ gặp bất cứ ai phải ra toà, gã cũng đều khuyên một câu chí tình:
- Trong chế độ ưu việt của ta, thì cách bào chữa hay nhất là nhận tội và xin khoan hồng!
Nếu có người bướng bỉnh cãi lại rằng họ không thể nhận được vì họ vô tội thì Thái lại càng tha thiết hơn:
- Không có tội mà cứ mạnh dạn nhận tội thì càng chứng tỏ mức độ thành khẩn cao hơn! Đừng nói lôi thôi gì cả. Cứ nhận đi!
Sau này, khi Nguyễn văn Linh công bố chính sách đổi mới, cho phép luật sư đoàn thành hình và hành nghề lại tại miền Nam, thì thiên hạ cũng bắt đầu gọi Thái là trạng sư một cách nửa đùa nửa thật và thậm chí nhiều người trong Phường còn tìm đến xin gặp Thái mỗi khi có điều cần thẩm vấn về những khúc mắc trong pháp lệnh nhà nước xã hội chủ nghĩa mà thực sự Thái chỉ biết rất sơ sài.
Một trong những thân chủ đang nôn nóng trao đổi với Thái là Tuyên. Ăn xong bát cơm thứ nhất, Tuyên nhìn Thái, nhập đề:
- Đơn của em chả biết đến bao giờ toà mới xử, bác nhỉ?
Bàn tiệc đang ồn ào nói chuyện, không ai bảo ai, nhất loạt im lặng để chờ câu trả lời của Thái. Gã đang mút cái chân gà, buông tạm xuống mâm, tợp một ngụm rượu rồi vênh mặt giảng:
- Cậu hỏi thế tức là cậu chả biết cái gì cả!
Tuyên bẽn lẽn:
- Thưa thật với bác và các anh đây, em sốt ruột quá! Còn ở ngày nào với con ranh ấy, em còn khổ! Chỉ mong toà cho ly hôn dứt khoát cho rảnh nợ!
Thái dõng dạc:
- Sốt ruột đến mấy cũng không được! Phải đúng thủ tục pháp lý. Cậu tưởng vợ chồng cứ muốn bỏ là bỏ ư?
Tuyên ngạc nhiên:
- Ô hay! cả nó cũng kiên quyết đòi ly hôn chứ nào phải mình em! Em nói trên có bác, có anh chủ tịch với lại tất cả các anh em đây, em là em nhịn lắm, chứ vào tay người khác thì người ta chả để nó yên đâu! Quân lá mặt lá trái, lấy cớ đi buôn bán để theo giai, bôi gio trát trấu vào mặt em!
Phun ra câu ấy, giọng Tuyên bỗng trở nên nghẹn ngào, mắt chớp lia lịa ra chiều cay đắng lắm. Thái quay người lại phía sau, vói tay lấy cái sà-cọt, moi ra một sấp giấy vàng ố để chứng tỏ mình nói có sách:
- Lẽ tất nhiên rồi ủy ban và toà án sẽ giải quyết cho cậu ly hôn, nhưng phải tiến hành đúng thủ tục. Điều 43 của pháp lệnh viết rõ rằng: “Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau”. Thông tư số 39-NCPL ngày 21.2.1972 cũng như thông tư số 25- TATC ngày 30.11.1974 cũng nói rằng: “Công tác hoà giải là một công tác quan trọng của toà án, nhằm góp phần vào việc tăng cường và củng cố tình đoàn kết nhân dân...” Đại để là như vậy. Nghĩa là dứt khoát, ủy ban và toà án sẽ tiến hành hoà giải cho cả hai người đã. Không được thì rồi hẵng bàn đến chuyện ly hôn! Hướng giải quyết như thế nào, thì toà cứ nghe theo ủy ban trình bày mà quyết định!
Tuyên khổ sở cười buồn:
- Em đã thưa với bác với lại các anh trong ủy ban là phần em thì các anh bảo sao, em nghe làm vậy. Nhưng con ranh ấy đời nào nó bằng lòng hoà giải! Trò đời, nói xin lỗi các anh, thứ đàn bà mà đã giai sấp gái ngửa thì còn biết gì đến tình nghĩa nữa mà hoà với lại chẳng hoà! Thôi thì bác đã dạy như vậy, em xin biết vậy. Nhân tiện có mặt đông đủ ủy ban ở đây, xin các anh tiến hành ngay cho, giúp em giải quyết càng sớm càng tốt để em yên tâm lao động!
Chủ tịch Ấu mặt đỏ gay, mồ hôi vã ra như tắm, đưa tay tháo lỏng nút cà-vạt rồi bảo ủy viên thư ký:
- Sáng mai ông thảo cho tôi cái văn thư gửi lên toà án nhân dân Quận. Xin toà cho biết ngày nào thuận tiện thì anh em mình kéo lên.
Ấu quay sang Thái, nịnh một câu:
- Văn thư là một chuyện. Toà thì lúc nào chả nhiều việc. Thành ra muốn nhanh thì phải có ông Thái nhúng tay vào mới xong. Không thì người ta xếp xó ở đấy, biết bao giờ mới ngó đến đơn của mình!
Thái hãnh diện gật gù:
- Được rồi! Tôi sẽ liệu!
Thái cất giấy tờ vào sà-cọt để ăn tiếp. Gã gắp miếng thịt đùi chấm vào bát nước mắm đã cạn sạch. Mấy năm nay gặp ai Thái cũng than là mắt kém lắm rồi, phải đeo kính lão mới đọc được chữ. Nhưng vào bàn tiệc, miếng thịt nào Thái gắp cũng là miếng ngon, chưa bao giờ nhằm lẫn. Phần Tuyên, dù bận nói chuyện, mắt vẫn chăm chú theo dõi từng người chung quanh một cách hết sức chu đáo. Bất cứ ai vừa cạn chén cơm, gã đón ngay lấy và xới thêm vào. Gã đứng dậy, bước vào buồng trong rồi băng qua mảnh sân nhỏ xuống bếp lấy thêm nước mắm. Một người đàn bà trẻ đang lom khom trong góc, thoăn thoắt gọt đu đủ bầy lên cái mâm gỗ sơn đỏ thẫm, ngẩng lên hỏi Tuyên:
- Ngoài ấy cần gì hở anh?
Tuyên cười rạng rỡ:
- Đầy đủ lắm, không thiếu gì cả!
Tuyên đặt bàn tay lên tấm lưng mỡ màng của người yêu mới, xoa nhè nhẹ dần xuống phía duới. Lớp vải phin nõn mềm mại truyền rất nhanh cảm giác êm ái từ da thịt người phụ nữ qua bàn tay gân guốc của Tuyên. Gã thì thầm bảo:
- Thế nào cũng xong việc, Nhài ạ! Phải cái là thủ tục rườm rà lắm. Không khéo cả năm nữa mới giải quyết xong!
Người đàn bà nhăn mặt:
- Chết! Lâu thế cơ à? Em sốt ruột lắm! Chỉ muốn anh cưới em ngay thôi!
Tuyên ghé cái mồm đầy hơi men, hôn chụt vào gáy Nhài và nhấn mạnh:
- Người ta còn nóng hơn lửa đốt đây này! Chỉ muốn mau mau tống cổ con khốn nạn ấy đi để đón em về! Nhưng mà làm thế nào được! Pháp lệnh nhà nước phải chấp hành chứ!
Gã khom người lấy chai nước mắm rót vào bát rồi bảo người yêu:
- Trong này em xong cả rồi chứ gì? Thôi, em để đấy cho anh. Em chạy đi đâu thì đi. Đừng để các ông ấy thấy em ở đây, không tiện. Độ hơn một giờ nữa thì quay trở lại.
Nhài buông con dao, chùi tay vào miếng giẻ máng trên vách rồi đứng dậy:
- Vâng, thế thì em đi đây! Anh liệu mà tiếp khách cho tử tế.
Tuyên bưng bát nước mắm lên nhà, đặt vào vị trí cũ. Gã nhìn thoáng mâm cơm. Hai đĩa giò lụa đã bay nhẵn. Hai đĩa thịt gà luộc cũng chỉ còn lại toàn xương xẩu. Khay xôi gấc vẹt hẵn đi một mảng lớn. Phó chủ tịch Hải vừa nhai vừa luôn tay đuổi ruồi. Những khuôn mặt loang loáng mồ hôi, đỏ gay như gà chọi, đem chuyện thiên hạ làm đề tài bàn tán để mua vui. Thái vẫn là người phát ngôn nhiều hơn cả. Gã bảo:
- Việc đời chả biết thế nào mà lường! Hôm nọ tôi đi ăn cưới thằng cháu bên Ba Đình, tình cờ gặp lại lão Tùng. Lão bây giờ làm to lắm, giám đốc công ty Vitoba, được phép kinh doanh ngoại hối, giao dịch thẳng với nước ngoài. Lão bảo vất vả lắm. Là vì chính sách đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, lão mù tịt có biết gì đâu! Nhưng mà khổ nhất là cái khoản tiếng Anh. Dạo trước, lão đi tu nghiệp ở Liên xô, cắm đầu cắm cổ học tiếng Nga. Mới thông thạo được một tí thì bây giờ vứt hết, đổi sang tiếng Anh. Không biết tiếng Anh thì sợ chúng nó lừa, hợp đồng không dám ký. Mà ngần ấy tuổi mới bắt đầu học vỡ lòng thì kiếp nào mới đọc thông nổi cái hợp đồng! Lão nói riêng với tôi là lão rất lo nay mai nhà nước sẽ bang giao với Mỹ. Bởi rằng là vì bang giao rồi thì kinh tế thị trường sẽ phát triển rất nhanh. Chứng ấy những người như lão làm thế nào mà cáng đáng được công việc quản lý kinh tế! Thì nói ngay như anh em mình đây này, cầm súng đánh Mỹ thì được chứ bây giờ bảo làm ăn với Mỹ thì chịu!
Bàn tiệc đăm chiêu suy nghĩ những điều Thái vừa công bố và ai cũng tự an ủi mình rằng làm giám đốc cũng chẳng sung sướng gì! Thái nhếch mép cười:
- Lão ghé tai tôi nói đùa: Đang ở thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội thì lại đột xuất bỏ đó để tiến lên chủ nghĩa tư bản! Buồn cười nhỉ!
Giọng đùa cợt của Thái không làm những khuôn mặt chung quanh hoan hỉ. Trái lại tất cả đều cảm thấy có cái gì vướng mắt pha lẫn chút đắng cay. Trưởng ban thông tin văn hoá từ lúc nhập tiệc chưa phát biểu câu nào, bây giờ mới đủng đỉnh góp ý:
- Tôi nói câu này, không phải thì các bác các anh bỏ quá đi cho, nhưng mà kinh tế thị trường có cái hay là người bán hàng đố có dám hách dịch như ngày trước. Dạo trước xếp hàng cả giờ đồng hồ, đến phiên mình trình phiếu với tờ hộ khẩu, nhân viên mậu dịch hạch sách đủ điều, mắng xa xả vào mặt mình, y như phát chẩn cho ăn mày không bằng! Mua bia thì phải mang cốc theo, chìa ra cho nó rót. Rót ít rót nhiều, mình cũng đành cắn răng mà chịu. Bây giờ bố bảo! Nhà nước cho thương nghiệp tư doanh bung ra, hiệu này cạnh tranh hiệu kia, cô bán hàng nào cũng lễ phép, nói năng gọi là cứ ngọt lịm như mía lùi!
Ấu chớp mắt buồn rầu:
- Đành rằng thế. Nhưng được cái này thì lại mất cái kia...
Mọi người tưởng Ấu sẽ triển khai thêm câu nói nước đôi của gã, nhưng gã mập mờ dừng lại và nâng cốc rượu uống cạn. Thái cởi cúc áo ngực, xoè chiếc quạt giấy phe phẩy rồi nhìn Tuyên, quay lại đề tài cũ. Gã biết bữa cơm thịnh soạn hôm nay gã được mời với tư cách một luật gia, nên không thể ngậm miệng ăn tiền được. Gã thở mạnh rồi nói:
- Cái khoản phân chia tài sản mới phức tạp chứ còn ly hôn thì sớm muộn gì cũng xong. Điều 42 của luật hôn nhân và gia đình qui định rằng, việc phân chia tài sản phải do hai bên thoả thuận. Lẽ tất nhiên là không có cặp vợ chồng nào đã đánh nhau đến vỡ đầu và đòi bỏ nhau mà còn thoả thuận êm đẹp được! Cho nên Phường sẽ xem xét cụ thể để giải quyết cho hợp tình hợp lý, không bên nào bị thiệt thòi, rồi trình toà án xin cử hội đồng định giá tài sản xuống tận nơi để kiểm tra đồ đạc, nhà cửa mà qui thành tiền từng thứ một. Nếu hội đồng định giá tổng kết rồi mà hai bên vẫn không nhất trí thì phải làm đơn xin viện Kiểm sát Nhân dân xét lại!
Tuyên nhíu mày lo âu vì không ngờ thủ tục lôi thôi quá như vậy. Hiểu ý gã, Thái nói thêm:
- Nghe thì thấy phức tạp, nhưng rồi đâu cũng vào đấy cả thôi! Cụ thể tôi hỏi cậu, cái nhà vợ chồng cậu đang ở, khởi kỳ thủy là của ai? Ai mua cái nhà ấy? Mua chung hay mua riêng?
Tuyên gãi đầu:
- Báo cáo bác với các anh, chả dám giấu gì bác với các anh đây, nhà là nhà của bố mẹ nó mua từ cái đời tám kiếp nào kia. Rồi lúc hai ông bà ấy sắp chết thì bán lại cho em. Em đã giả tiền đầy đủ chả thiếu xu nào. Hiện em với nó cùng đứng tên. Nhưng mà nó cứ nhất định cãi là cái nhà của riêng nó, bố mẹ nó chết đi để lại. Nó mồm loa mép giải, nói xin lỗi các anh, nó rêu rao với mọi người là lúc em ở bộ đội về, trên răng dưới dái, nó cho ở nhờ mấy năm nay là may lắm rồi! Anh thấy có mất nết không chứ!
Thái điềm tĩnh:
- Dễ! Không phải lo cái ấy. Chỉ biết rằng hiện nay cậu với nó đứng tên chung, phải không nào? Nghĩa là cậu có dứt một nửa đã. Nhưng mà một nửa thì nói làm gì! Tôi muốn cả cái nhà ấy phải về tay cậu cơ. Ra toà, cậu cứ khai là bố mẹ nó bán lại cái nhà cho cậu, cậu đã chồng tiền đủ rồi. Cần thì ủy ban cấp cho cậu cái giấy chứng nhận. Cứ nói cứng như thế. Ông bà ấy chết rồi, cậy mả lên mà làm chứng hay sao! Còn về vợ cậu, lẽ tất nhiên là nó cũng sẽ khai với toà là nó có chung tiền với cậu, mua cái nhà ấy. Cũng chả sao! Mình sẽ xét quá trình bản thân và gia đình nó. Từ bé đến giờ nó có chịu lao động như người ta đâu, chỉ loanh quanh bán buôn một vốn bốn lời. Công an Đồng Xuân đã mấy lần cảnh cáo mà vẫn chứng nào tật ấy. Tóm lại, nó là thành phần lý lịch xấu. Cậu là bộ đội phục viên, lẽ tất nhiên toà phải chiếu cố. Phần thắng sẽ về tay cậu!
Tuyên sung sướng quá, run run xoa tay cảm động:
- Trăm bề xin nhờ bác và ủy ban giúp hộ, em chả dám quên ơn!
Thái gật gù:
- Ơn nghĩa thì nói làm gì! Nhưng cậu cứ an lòng, tôi đã dúng vào là phải xong!
Ấu đề nghị thẳng:
- Muốn cho vững bụng, cậu về xem nhà có thứ gì, cứ lẳng lặng khuân đi mà bán trước hoặc giấu ở chỗ nào, chứ mai kia hội đồng định giá xuống làm việc, họ ghi vào biên bản rồi thì khó mà thủ riêng được!
Câu nói của Ấu nhắc Tuyên một sự thực hết sức khổ tâm. Gã buốt nhói tự trách mình mấy tháng nay đã không nghĩ ra phương án mà Ấu vừa tiết lộ. Bây giờ thì muộn mất rồi! Ngọc đã ra tay trước. Những gì có giá, Ngọc đã đẩy đi gần hết. Niềm hy vọng cuối cùng của Tuyên chỉ là cái xác nhà mà thôi. Tuyên cười gượng gạo:
- Con ranh ấy nó cũng đáo để lắm anh ạ! Chả biết đứa nào xúi nó, em lên Hà Nội có một hôm, lúc giở về thì cả nhà chi còn có hai cái chõng! Bàn ghế, giường tủ, nồi niêu, nó khuân tiệt! Nhưng em chả tiếc, em chỉ cần cái nhà thôi!
Bàn tiệc không ai xúc động vì lời phân bua của Tuyên. Tuy đứng về phía Tuyên, nhưng họ đều biết trong vụ này, Tuyên là kẻ hoàn toàn có lợi.
Sau khi ở Campuchea về, Tuyên phục viên, lang thang đầu đường xó chợ, không tìm được việc gì để tự nuôi thân. Trở lại đi học thì gã không tính đến chuyện ấy. Giữa lúc trắng tay như vậy thì Tuyên gặp Ngọc. Mùng ba Tết, Ngọc đến mừng tuổi gia đình một người quen, thấy Tuyên đang đánh tam cúc ở đấy. Chủ nhà có việc phải đứng dậy, nhờ Ngọc cầm hộ mấy ván. Ngọc đánh rất cao, nhưng kết tốt đen bị Tuyên đem đôi tốt đỏ ra bắt. Cờ bạc ngày xuân mua vui thôi, tiền bạc không đáng kể. Chủ nhà từ trong bếp bước ra, vui vẻ hỏi:
- Ai ăn mà ầm ĩ lên thế?
Đứa con nhanh nhảu đáp:
- Cô Ngọc bị anh Tuyên đè mẹ ạ!
Câu nói vô tình làm cả nhà cười sảng khoái. Ngọc đỏ mặt bẽn lẽn đứng dậy:
- Cháu giả lại cho bác đây này. Cháu vội lắm, không chơi đuợc đâu!
Tuyên cũng mất hứng, không đánh nữa, chạy theo Ngọc lân la làm quen. Từ đó hai bên đi lại với nhau. Nhan sắc của Ngọc không có gì nổi bật, nước da lại ngăm đen vì suốt ngày ở ngoài đường, nhưng Ngọc dâm và có của riêng. Lúc làm đám cưới, có người gọi Tuyên là chuột sa chĩnh gạo. Gạo nếp hay gạo tẻ thì họ không biết, nhưng chắc chắn là Ngọc khá giả và Tuyên được nương nhờ. Cụ thể là ngay sau ngày thành hôn, Tuyên dọn vào đăng ký hộ khẩu thường trú luôn tại nhà vợ. Người ta thường bảo “phúc bất trùng lai”, nhưng riêng với Tuyên thì cái may xảy đến liên tục: Ở rể mới hơn hai năm, bố mẹ vợ thi nhau lăn ra chết! Giang sơn từ đây thu về một mối. Hà Nội sau chiến tranh dân số tăng rất nhanh, bình quân mọi người chỉ có bốn mét vuông để ở, hai vợ chồng Tuyên thênh thang làm chủ nguyên căn nhà xây ở quận ngoại thành mà bạn bè bộ đội cũ của Tuyên ai đến cũng phải trầm trồ khen Tuyên tốt số. Có đứa thân mật đùa với Tuyên: “Cậu làm cách nào mà bố mẹ vợ cùng về nơi chín suối trong vòng một năm, chỉ tớ với!”
Nói chung thì vận Tuyên đỏ lắm. Ngọc buôn bán mỗi ngày một khá hơn nhờ nhà nước khuyến khích thương nghiệp tư doanh những năm sau này. Từ một người trung gian chạy mối, ngược xuôi thấp thỏm lo công an rình bắt, Ngọc nhanh chóng có hẳn một sạp hàng bán máy móc và đồ điện ngay ở phố Bà Triệu, một trong những khu vực đang phát triển rất nhanh theo mô hình chợ trời của miền Nam. Ngọc càng khá thì Tuyên càng nhàn. Nàng mua Honda cũ cho gã, sáng đưa vợ đi, rồi rong chơi cả ngày, đến tối ra đón Ngọc về.
Khi người ta đang giàu mà tụt xuống thành nghèo thì dễ sinh tủi phận. Nhưng khi đang nghèo mà thành giàu thì lại dễ hư thân, nhất là khi cái giàu ấy không phải do mồ hôi nước mắt của chính mình tạo dựng. Tuyên lêu lổng đàn đúm, tìm vào ăn chơi tận thành phố Hồ Chí Minh. Lúc quay về phải tiêm thuốc trụ sinh đến mấy hôm mới khỏi bệnh. Ở Hà Nội, những tụ điểm băng phim đồi trụy, những nhà xông hơi La Thành, Kim Liên, Ánh Hồng, những quán cà phê xanh có tấm cót vây quanh từng bàn để khách vừa uống nước vừa gỡ gạc các cô chiêu đãi cho đôi tay đỡ cảm thấy thừa thãi, đâu đâu cũng nhẵn mặt Tuyên bởi gã là khách thường trực. Ngọc giận lắm. Mấy ông anh bà chị đã ở riêng, lảm nhảm nói ra nói vào mãi, càng làm Ngọc xấu hổ bội phần:
- Tao đã bảo trước rồi mà! Lấy thằng phải gió ấy về mà hầu! Nói ra thì lại bảo là chị không vun xới cho em! Bây giờ nai lưng làm bao nhiêu, nó phá bấy nhiêu! Hầu nó mà nó có để yên cho đâu! Quân chó dái nấp gấu quần đàn bà không biết nhục! Bỏ quách nó đi cho xong!
Bà chị cả dài miệng nhiếc mãi làm Ngọc chỉ muốn độn thổ. Ngọc về nhà, đùng đùng trút hết nỗi ấm ức trong lòng, vừa khóc vừa chửi. Tuyên lúc đầu ngồi im hút thuốc. Về sau cũng quát lên, át cả giọng vợ. Người ta dù chai lì đến đâu thì cái mặc cảm nương nhờ vẫn không thể nào xoá hẳn trong lòng, cho nên Tuyên bộc lộ ngay trong câu nói đầu tiên:
- Này! Hỗn vừa vừa chứ! Đừng có cậy làm ra tiền mà lên giọng với tôi! Thằng này không để yên đâu! Mới có một tí vốn đã vác mặt lên!
Rồi không chờ Ngọc phản ứng, Tuyên đứng vụt dậy, làm bộ vùng vằng bỏ đi. Gã phóng xe ra chợ Đồng Xuân thăm cô gái mà gã đã quen mấy tháng nay, đó là Nhài. Nhài trẻ hơn Ngọc, phụ mẹ bán cửa hàng giải khát ngay ở đầu chợ. Gặp Tuyên vài lần, cô thấy cảm mến cái tác phong vừa công tử vừa khinh bạc của Tuyên. Và lần đầu tiên ngồi sau lưng Tuyên trên chiếc Honda sang trọng của gã, nhẹ nhàng lượn ra bờ hồ Hoàn Kiếm một buổi tối mùa hè, cô đã ngây ngất cắn vào vai Tuyên để bày tỏ niềm rạo rực trong lòng cô đối với Tuyên. Tình càng ngày càng lậm sâu, thúc đẩy Tuyên toan tính chuyện bỏ vợ.
Một buổi trưa, Ngọc nhờ bà chị và đứa cháu ra nom cửa hàng, Ngọc về nhà. May là giữa lúc Tuyên đang nồng nặc hơi men, lăn ra ngủ, chị lặng lẽ dắt chiếc Honda đi gửi rồi trở ra tiệm bàn tính với người chị. Đêm qua, sau một trận cãi vã sôi nổi, Tuyên đã nói thẳng ý định nộp đơn xin ly hôn. Ngọc uất nghẹn trong cổ nhưng cũng phải giả vờ hùa theo:
- Anh không nộp đơn, tôi cũng nộp kia mà! Anh tưởng tôi còn muốn sống với anh nữa hay sao? Báu gì cái thứ chỉ biết lêu lổng trác táng!
Sáng nay, Ngọc tạt sang bà chị, mắt còn sưng húp, rủ chị ra cửa hàng cùng bàn tính. Cả nhà ai cũng xúi Ngọc bỏ Tuyên cho nhẹ thân:
- Ngữ ấy, buông mày ra một ngày là chỉ có đi ăn mày thôi! Bỏ ngay cho nó trắng mắt ra!
Thấy Ngọc không nói gì, bà chị đốc thêm:
- Thế mày có biết rằng là cả năm nay nó phải lòng con đĩ Nhài ở chợ Đồng Xuân không? Cả làng cả nước ai cũng biết, chỉ có mình mày mù mới không thấy! Cứ nghe tao, bỏ béng nó đi. Mày mới hăm nhăm hăm sáu, lại có của, khối đứa lăn vào, xua đi không hết! Báu gì cái thằng chết trôi ấy!
Ngọc gật đầu cho chị vui lòng. Lập tức bà thủ thì khuyên Ngọc:
- Nhưng hẵng khoan, đừng nói gì vội. Nữ trang, vòng vàng, đá quí, tiền bạc, đem giấu hết đi đã. Đưa sang bên tao hay là gửi cái Nhung. Rồi các thứ đồ đạc, máy móc, bán dần đi đã. Bán sạch rồi mới nộp đơn lên toà.
Ngọc gật đầu nhất trí với kế hoạch của chị nhưng lại thoáng lo âu bởi nếu đem tư trang vàng bạc sang gửi chị thì cũng nguy hiểm không kém gì để ở nhà, vì ông anh rể nổi tiếng là tay cờ bạc. Trước mắt, Ngọc chỉ nghĩ ngay đến cái Honda mà Ngọc rất sợ Tuyên sẽ ra tay bán trước. Bà chị lại thở dài tiếp:
- Dạo thầy u mất, đã bảo mãi là khiêng cái sập gụ với cái tủ chè sang bên tao. Tao thì cần gì những thứ ấy! Khuân vào chỉ chật nhà thôi chứ quí hoá gì! Nhưng mà nó là vật gia bảo của ông nội để lại, bây giờ làm thế nào? Có nhớ thằng Cao nhà bà Phan không? Vợ chồng đem nhau ra toà ly dị, toà bảo chia hai tài sản. Về nhà, nó tức quá, cái gì cũng đem chẻ làm đôi. Có cái giường nó cũng cưa đôi, mỗi người một nửa! Chỉ có nước bổ ra làm củi chứ nằm thế nào được nữa!
Câu chuyện bà chị kể làm Ngọc càng lo. Nàng cầm xâu chìa khoá, đón xích lô chạy về mặc dầu Ngọc không hy vọng giờ này Tuyên có nhà.
Thanh toán xong chiếc xe, Ngọc trở ra, hớn hở báo chị:
- Chị chớ có hở miệng cho ai biết nhá. Em gửi bên chị Nhung. Giấu mãi tận trong bếp, lấy cái chiếu cũ đậy lên! Nó đang ngủ say lắm. Tỉnh dậy thế nào cũng cuống lên vì tưởng mất trộm!
Hai chị em nhìn nhau khúc khích cười chia sẻ niềm vui chiến thắng. Nhưng niềm vui ấy chẳng kéo dài được bao lâu bởi nỗi lo sinh tử của Ngọc vẫn là căn nhà. Ngọc đau nhói nghĩ tới căn nhà hương hoả từ đời ông cha để lại, nay mai sẽ không còn là sở hữu riêng của Ngọc nữa. Đúng là nuôi ong tay áo. Rước nó về, cung phụng đủ thứ để rút cuộc bị phản bội. Ly hôn là cầm bằng nàng sẽ mất một nửa vì hiện hai người đứng tên chung. Ở phường Bạch Mã của Ngọc có cặp vợ chồng lục đục đến mấy năm, biết không thể hàn gắn được mới đem nhau ra toà xin ly hôn. Sau khi hội đồng định giá báo cáo lên, toà truyền chia đều tài sản cho đôi bên. Nhưng bán căn nhà thì đi đâu? Hộ khẩu mấy chục năm ở địa chỉ ấy, di chuyển đi chỗ khác vừa khó khăn vừa tốn kém. Hai vợ chồng chỉ còn cách duy nhất là mua cót về ngăn đôi căn nhà vốn đã rất hẹp để khỏi trông thấy mặt nhau. Nghĩa là một hộ biến thành hai hộ nhưng vẫn chung một mái nhà. Chẳng giải quyết được gì cả, bởi họ vẫn phải nghe giọng nói của nhau nên vẫn thửa cơ hội để chửi nhau. Bức tường ô nhục mỏng dính đứng lù lù giữa nhà, ngăn không nổi một tiếng động nhỏ. Bên này khiêu khích bên kia. Ông chồng khoét lỗ trên tấm cót, nhìn sang theo dõi bà vợ cũ và thậm chí lắm khi tức quá, ông đạp phăng cả tấm cót, lao qua, túm tóc mà đánh. Đánh vì tức đã đành, mà lại thêm vì ghen nữa bởi lâu lâu ông nghe có giọng đàn ông bên kia tấm cót. Lại thêm nhà bếp cầu tiêu vẫn phải dùng chung. Ra vào vẫn phải chạm mặt. Cái ấy mới thật là thảm cảnh mà không cách nào giải quyết được. Ngọc rùng mình tưởng tượng ra nay mai Ngọc sẽ lâm vào tình trạng ấy. Ngọc sẽ dứt khoát bán nhà, chia tiền cho Tuyên theo lệnh toà án, rồi về nhập chung hộ khẩu với chị mặc dầu nàng không ưa ông anh rể có máu gỡ gạc.
Ngọc đoán quả không sai. Xế chiều, Tuyên bừng mắt dậy, la toáng lên rồi lao ra trình công an chiếc Honda bị mất cắp. Đối với các đồng chí lãnh đạo ở Phường, Tuyên là chỗ giao tình thân thiết, bởi gã rất khéo nói, nhã nhặn và thường xuyên dùng tiền của vợ để kết giao. Nhưng dù rất thân, trưởng ban công an khi nghe Tuyên mếu máo khai báo, đã nhìn Tuyên bằng cặp mắt ngờ vực. Gã nghi chính Tuyên bán xe của vợ rồi khóc lóc đóng kịch hô hoán là mất trộm. Tuy vậy, gã cũng trấn an:
- Được rồi, anh cứ về đi. Công an sẽ điều tra. Ai chứ anh thì chúng tôi phải làm đến nơi đến chốn!
Nhưng ngay khi ở ban công an về, Tuyên khám phá ra xe không mất. Đường phố Hà Nội mấy khi vắng bóng người qua lại! Hàng xóm hai bên cả chục người nhìn thấy Ngọc đẩy Honda đi, ngay tình chạy sang nói cho Tuyên biết. Gã tức uất lên, lấy chiếc xe đạp cũ phóng ra cửa hàng của vợ, túm ngay lấy ngực áo Ngọc, quát lớn:
- Honda giấu ở đâu? Muốn sống thì nói ngay không ốm đòn bây giờ!
Cơn giận trong lòng Ngọc đã nén xuống từ lâu, dai dẳng chịu đựng cả năm nay, lúc này không nhịn được nữa. Nàng đẩy Tuyên ra, mặt hầm hầm khiêu khích, đứng chống nạnh, bướng bỉnh nạt lại:
- Giỏi thế cơ đấy! Xe của tôi, tôi cất. Tôi không nói, để xem anh làm gì được tôi nào? Tiền đứa nào bỏ ra mua xe? Nói lớn lên cho cả làng nước nghe đi! Một đống của của tôi, giao cho anh để anh đi chơi nhà thổ, đi nhà xông hơi, rồi đèo con đĩ Nhài ra bờ hồ, phải không nào?
Tuyên bất thần thụi một quả thật mạnh vào ngực vợ. Ngọc loạng choạng lùi lại mấy bước, suýt ngã ngửa vào quầy bán thuốc lá của người bên cạnh. Xét về sức vóc, Ngọc có thể đối đầu được với chồng mà phần thắng chưa biết sẽ về ai. Nhưng trước mặt bàng dân thiên hạ, Ngọc phải nhịn vì không muốn mang tiếng đanh đá. Nàng ngồi thụp xuống thút thít khóc. Bạn hàng chung quanh mỗi người góp vào một câu. Lẫn trong những lời khuyên giải, không thiếu những tiếng mỉa mai, khinh bỉ Tuyên là thằng chồng lêu lổng, sống bám gấu váy đàn bà, mặc dầu Ngọc chỉ mặc quần chứ không mặc váy! Rồi tiếng còi của công an ré lên vì bà chị nhanh chân lén đi gọi. Tuyên vội vàng nhẩy tót lên xe, lủi mất. Gã đi tìm Nhài và tiết lộ:
- Lộ rồi, Nhài ạ! Con đĩ ấy nó biết chuyện của anh với em rồi!
Nhài gắt:
- Thì bỏ quách nó đi cho xong.
Tuyên chưa nói gì thì Nhài xuống giọng dịu dàng:
- Anh nộp đơn ly hôn đi. Em sẽ về hầu hạ anh suốt đời!
- Em chả nói anh cũng làm. Ở với nó một ngày dài như một năm. Ngày mai anh sẽ viết đơn đem ra Phường!
Tối hôm ấy về nhà, vợ chồng Tuyên đánh nhau một trận như bão tố làm hàng xóm hai bên thức gần trắng đêm. Đến giai đoạn này thì Tuyên không ly dị cũng không được. Ngọc không phát lương nữa. Ăn trưa, ăn chiều luôn ngoài chợ, mặc kệ Tuyên muốn ra sao thì ra. Gã nhặt nhạnh đồ đạc trong nhà đem bán, rồi vay chỗ này giật chỗ kia, sống qua ngày chờ toà phân xử. Nếu may mà chiếm được cả căn nhà này thì gã sẽ đón Nhài về rồi bắt đầu lại cuộc sống mới. Còn nếu không may thì ít nhất toà cũng bắt bán nhà chia hai. Chừng đó gã sẽ ôm tiền, nhập chung hộ khẩu với Nhài. Mẹ Nhài có cửa hàng giải khát. Nhài là con gái duy nhất, tay hòm chìa khoá, làm gì chả có vốn cung phụng cho Tuyên, ủy ban Phường đứng về phía Tuyên, nhất là lại được Thái hỗ trợ, mười phần Tuyên thấy sẽ thắng cả mười.
Buổi tiệc chấm dứt lúc trời nhá nhem tối. Thực khách ăn uống rất thật lòng, đĩa nào cũng sạch bóng. Con chó gầy gầm gừ gậm xương dưới gậm phản. Đàn nhặng xanh rủ nhau đậu kín mặt mâm. Ông nào cũng đã no căng bụng, nhưng khi Tuyên bưng khay đu đủ và nồi chè hoa cau đặt giữa phản, vẫn chẳng có ai từ chối vì sợ làm buồn lòng gia chủ! Thái lên tiếng rủ Đình và Âu về đánh chắn. Cả bọn nhất loạt đứng lên theo, nhao nhao nói vài lời cảm ơn theo thói quen rồi khật khưỡng kéo nhau ra hè. Tuyên xoa tay tiễn khách ra mãi tận cổng. Thái choàng vai Tuyên, nhắc đi nhắc lại mấy lần là cứ an tâm, mọi việc đã có Thái định liệu.
Hơn một tháng sau, do tài vận động của Thái, phiên toà hoà giải được triệu tập tại toà án nhân dân Quận. Kinh nghiệm từ bao năm đều cho thấy, vợ chồng khi đã lôi nhau đáo tụng đình thì đừng bàn chuyện hoà giải làm gì nữa cho mất thì giờ. Không lăn sả vào mà ăn tươi nuốt sống nhau là may lắm rồi, còn nói chuyện đoàn tụ thì viển vong quá! Nhưng thủ tục pháp lý không thể bỏ qua được. Chủ tịch Ấu cầm đầu các bạn ở Phường, trịnh trọng lên tham dự. Thái lăng xăng ghé tai người này, dặn dò người kia như một vị luật sư lão thành sắp lao vào một vụ kiện to tát. Về phía Quận, ngoài thẩm phán Phùng thị Lý ngồi ghế chánh án, còn có đại biểu hội Liên hiệp Phụ nữ và đại biểu Quận hội Phụ nữ. Để thêm vây cánh cho Tuyên, Thái lôi luôn ông cựu đại úy tiểu đoàn trưởng ngày xưa của Tuyên, cụt một chân, hiện làm nghề bơm xe ở Khâm Thiên, đến tham dự để nếu cần thì minh xác thành tích chiến đấu của Tuyên.
Ngọc đi với hai người chị và mấy đứa cháu. Ngọc mặc áo cánh trắng, quần đen rộng ống, tóc chải gọn ghẽ, cột chiếc khăn xanh sau gáy. Nàng gầy đi nhiều sau chuỗi ngày lo âu và ít ngủ. Tuy nhiên cặp mắt vẫn điềm tĩnh nhìn thẵng, không để lộ sự khúm núm và cũng không thèm ngó sang phía Tuyên.
Dãy ghế bên kia, Tuyên ngồi ngay ngắn bên cạnh Thái và gã thương binh cụt chân. Tuyên mặc đồ bộ đội, ngực đeo huân chương, cố tình nhắc toà cái dĩ vãng chống Mỹ cứu nước của gã để xin toà chiếu cố. Nhài cũng có mặt, nhưng cô ngồi chờ ở quán nước ngoài cổng toà án.
Dĩ nhiên cả Tuyên và Ngọc đều không nghĩ đến việc tái hợp. Họ ra đây vì thủ tục hoà giải của toà và nhất là vì số phận căn nhà mà toà sẽ định đoạt. Truyền thống từ bao nhiêu năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vốn dành một thứ quyền rất lớn cho hành pháp, cho nên mọi phán quyết của toà thường dựa trên báo cáo và đề nghị của chính quyền địa phương, cụ thể trong vụ này là ủy ban Nhân dân phường Bạch Mã. Biết thế nên Tuyên rất an tâm. Gã đúng dậy đọc một bản báo cáo rất lâm ly gồm hai phần chủ yếu: Đề cao chính mình và trút mọi tội cho Ngọc. Tuyên dứt lời, chủ tịch Ấu, rồi một loạt trưởng ban và dĩ nhiên cả Thái, thay phiên nhau đọc tham luận, nội dung bênh vực Tuyên và chê trách Ngọc để rồi đưa đến kết luận:
- Đề nghị toà án giải quyết hợp tình hợp lý, tránh gây thiệt hại cho Phan văn Tuyên!
Phiên toà không dính dáng một tí nào đến chủ đích hoà giải, mà hoàn toàn biến thành cuộc đấu tố được sắp đặt khá chu đáo. Đại biểu hội Liên hiệp Phụ nữ cũng như Quận hội Phụ nữ sốt ruột lắng nghe, hết sức bực bội vì thấy chánh án Phùng thị Lý cứ ngồi đực mặt như phỗng đá, không hề có phản ứng nào đối với sự thiên vị quá rõ rệt của Phường. Cả hai gắng nhịn để chờ đến lượt Ngọc đọc báo cáo. Ngọc đứng dậy, hai tay run run nâng tờ giấy trước mặt. Giọng nàng mất hẳn bình tĩnh đến mấy phút vì không ngờ ủy ban Phường đứng hẵn về phía Tuyên, moi móc lý lịch từ cha mẹ nàng cho tới bản thân nàng để lên án và nhất là Tuyên dám vu cho Ngọc tội ngoại tình. Đúng là vừa đánh trống vừa ăn cướp. Nhưng dù biết thế, Ngọc cũng không kịp phản ứng bởi nàng chỉ có thể đọc theo những dòng chữ đã viết sẵn. Nàng không có khả năng ứng khẩu, nhất là khi thấy chung quanh toàn những người chống lại mình. Ngọc mím môi, cố cầm nước mắt để khỏi bật khóc trước toà vì uất ức.
Khi hai bên đã phát biểu xong, chánh án Phùng thị Lý mới lạnh lùng tuyên bố:
- Triển khai thông tư số 25-TACT ngày 30 tháng 11 năm 1974, toà án nhân dân quận Khải Hoàn hôm nay cho tiến hành thủ tục hoà giải đoàn tụ giữa Phan văn Tuyên và Vũ thị Ngọc. Nhưng cả nguyên đơn, bị đơn đều kiên quyết không hoà giải vì mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng đến mức không thể chung sống được nữa, Chiếu điều 42 luật Hôn nhân và Gia đình, toà cho tiến hành thủ tục ly hôn và phân chia tài sản. Đề nghị phường Bạch Mã tạo điều kiện để toà án xem xét và giải quyết dứt điểm trong phiên toà sắp tới.
Hai tháng sau, tất cả những khuôn mặt cũ lại lục tục kéo nhau ra toà. Chủ tịch Ấu thay mặt Phường đề nghị toà giao căn nhà cho Tuyên. Đại biểu Quận hội Phụ nữ bênh vực Ngọc, xin toà định giá và chia hai mới hợp lý. Chánh án Phùng thị Lý lần này sinh động hơn, nét mặt tươi tỉnh như có chuyện vui trong lòng, chậm rãi mở một xấp hồ sơ đặt trước mặt rồi ưỡn người ra thành ghế, nghiêng đầu nghe hai bên tranh cãi. Nếu để ý một chút, người ta sẽ thấy Lý chỉ giả vờ theo dõi chứ cặp mắt ra lơ đãng, dường như đang tính toán chuyện khác trong đầu. Chờ mọi người phát biểu xong, Lý gọi Tuyên lên, thân mật hỏi:
- Dạo còn ở bộ đội, lĩnh lương hàng tháng có đủ tiêu không?
Tuyên toan phì cười nhưng không dám. Lương bộ đội mà lại không biết hay sao mà hỏi! Dù sao thì Tuyên cũng vui vì biết Thái đã gặp riêng chánh án và có lời gửi gấm nên Lý mới tỏ ra bình dân với Tuyên như vậy. Gã điềm nhiên đáp:
- Báo cáo, tằn tiện lắm thì mới tạm đủ.
- Thành ra khi phục viên thì tay trắng?
- Báo cáo đúng. Ai cũng thế cả ạ!
Phùng thị Lý tay cầm cái bút, gõ nhè nhẹ trên xấp hồ sơ, mỉm cười gật đầu:
- Thế lúc anh lấy vợ, anh đang làm gì?
- Thưa, mới ở bộ đội về, cũng chưa biết làm gì cả.
- Bố mẹ anh làm nghề gì?
- Thưa bố tôi mất lâu rồi. Mẹ tôi thì ốm quanh năm, ở chung hộ với em tôi làm giáo viên.
- Rồi từ ngày lấy vợ đến giờ, anh có vào hợp tác xã, có công tác ở nhà máy, xí nghiệp hay cơ quan nào không?
Ngồi ở hàng ghế dưới, mấy chục người theo dõi mẩu đối thoại, chả hiểu tại sao chánh án lại thăm hỏi Tuyên một cách thoải mái như vậy. Chỉ có Thái hơi ngờ ngợ đoán Phùng thị Lý đang gài bẫy, nhưng gã gạt ngay ý nghĩ ấy bởi tiếng nói của Phường bao giờ cũng làm nghiêng lệch cán cân toà án. Huống chi Thái cũng có quen biết Lý, đã có trao đổi, không đời nào Lý quyết định ngược hẳn lại đề nghị của cả Phường. Tuyên đã hứa với Thái một món tiền bồi dưỡng nếu gã lấy được căn nhà và Thái đã đáp lại bằng một câu chắc như đinh đóng cột:
- Lẽ tất nhiên cái nhà ấy là của cậu rồi! Nhưng vạn bất đắc dĩ có phải chia hai, thì cậu cứ bám trụ ở đấy, đừng đi đâu cả. Nó bực mình, nó sẽ phải dọn đi!
Bây giờ nghe Phùng thị Lý thẩm vấn Tuyên những câu lạ tai, Thái hơi chột dạ và ngờ ngợ đoán rằng mình có thể thua cuộc: Toà sẽ chia đều cho Tuyên và Ngọc. Thái nén tiếng thở dài, đăm đăm nhìn Tuyên. Tuyên cười gượng trả lời câu hỏi của Lý:
- Báo cáo, tôi đã nộp đơn nhiều chỗ mà chả có chỗ nào nhận cả!
Phùng thị Lý ngẩng lên, nghiêm mặt nói lớn hơn:
- Anh từ bộ đội về phục viên, không có tài sản gì cả, gia đình lại nghèo không giúp đỡ được anh. Rồi từ khi lấy vợ, anh cũng chả đi làm ngày nào cả. Thế mà anh khai rằng bố mẹ vợ anh trước khi chết, bán lại căn nhà ấy cho anh, anh đã giả tiền đầy đủ. Anh lấy tiền ở đâu mà giả? In ra tiền hay đi ăn cướp? Vợ chồng ở với nhau theo lẽ thường của chồng công vợ, góp gạo thổi cơm chung. Nhưng từ khi lấy chị Ngọc, anh không lao động ngày nào cả, hoàn toàn sống bằng tiền của vợ. Toà xét anh chẳng có tí gì trong căn nhà ấy. Điều 42 luật Hôn nhân và Gia đình qui định bốn nguyên tắc phân chia tài sản. Nguyên tắc thứ hai nói rằng: “Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng phải xem xét một cách hợp lý tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên”. Nguyên tắc thứ tư lại nói rằng: “Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ”. Qua theo dõi và kiểm tra, Toà xét rằng:
Phan văn Tuyên không đóng góp tí nào vào tài sản chung của hai vợ chồng, cho nên toà quyết định giao cả căn nhà cho Vũ thị Ngọc bởi căn nhà ấy vốn là của cha mẹ ruột chị Ngọc để lại! về phần Phan văn Tuyên thì được tạm trú thêm ba tháng để chờ Phường thu xếp chuyển hộ khẩu đi chỗ khác!
oOo
Mẹ Nhài quăng mạnh cái muỗng nhựa vào chậu nước, bực bội bảo Tuyên:
- Cái Nhài nó đang dở tay, không gặp cậu được!
Tuyên cười gượng:
- Bác cho con xin cốc cà phê. Con ngồi đợi một lát cũng được. Con có chuyện muốn bàn với Nhài.
- Còn chuyện gì nữa mà bàn! Đã giả nhời dứt khoát cậu rồi cơ mà!
Tuyên chớp mắt run run ngồi xuống. Mẹ Nhài lạnh nhạt không thèm ngó, mặt hầm hầm ném cái này, vứt cái kia để tỏ thái độ phản kháng sự hiện diện của Tuyên. Đã biết rõ hai mẹ con không còn chút cảm tình nào với mình từ sau vụ ly hôn trắng tay, nhưng Tuyên vẫn còn tuyệt vọng bám víu bởi Nhài không dám nói thẳng, chỉ loanh quanh đổ cho mẹ chưa muốn Nhài đi lấy chồng. Tuyên ngồi trầm ngâm một lúc rồi dè dặt nhắc lại:
- Bác cho con xin bác cốc cà phê! Giời hôm nay rét quá!
Mẹ Nhài rút ngăn kéo, lôi ngay ra cuốn vở, lật vài trang rồi chìa ra trước mặt Tuyên:
- Số nợ của cậu nhiều quá rồi! Chả phải tôi không tin cậu, nhưng mà nhà hàng ít vốn, giật chỗ này đắp chỗ kia, cậu hiểu cho! Chỉ có mình cậu thôi đấy, chứ chả ai uống chịu nhiều đến thế bao giờ...
Giọng bà lớn quá, khiến đám khách ngồi rải rác trong quán đều nhất loạt quay sang phía Tuyên. Gã lảo đảo đứng dậy bước ra ngoài, nghiến răng tự nhủ:
- Mẹ con nhà mày, thế nào ông cũng cho một quả lựu đạn!
Gã cắm đầu bước đi, nhưng không biết đi đâu. Gã dừng lại ở một ngã tư, định băng qua đường thì tình cờ bắt gặp một thanh niên chở người đàn bà lớn tuổi trên chiếc Honda quen thuộc của Tuyên mà Ngọc đã tịch thu đem giấu mấy tháng trước đây. Tuyên hồi hộp muốn hét lên vì tiếc nuối. Chiếc Honda đến gần rồi lăn chậm qua trước mặt Tuyên. Gã há hốc mồm nhận ra người đàn bà trên xe chính là chánh án Phùng thị Lý.
[3] LẠ GIƯỜNG
LÚC đầu, theo như tôi đoán thì Tùng không phải là người tham lam. Cả Phượng, vợ anh cũng vậy. Chẳng qua vì ý thức pháp luật chưa thấu đáo, lại thêm những nhận định quá đơn giản về tổ chức xã hội bên này, cho nên hai vợ chồng mới quyết định giả vờ xin ly thân để Phương trở thành single mother, lãnh trợ cấp, ở nhà chính phủ, mặc dầu Tùng có việc làm lương cao và trên thực tế hai người vẫn đề huề chung sống. Quanh Phượng, trong các cộng đồng thuộc những sắc dân khác, không thiếu gì người trường kỳ thụ hưởng kiểu này và họ cảm thấy thua thiệt hay dại dột nếu bỏ lỡ cơ hội. Phượng thường nhún vai bảo Tùng: “Tiền chính phủ, tội gì không lấy!”
Mấy chữ “tiền chính phủ” nếu dùng ngày xưa ở trong nước thì còn có thể tạm coi là đúng, bởi phần lớn ngân sách quốc gia đều xuất phát từ các nguồn viện trợ. Nhưng tại các nước tư bản ngày nay như Hoa kỳ, Canada thì làm gì có tiền chính phủ! Tất cả đều là tiền của dân đóng thuế, chính phủ không có đồng bạc nào cả. Cho nên, xài tiền của chính phủ, thật ra là lấy tiền của người khác, của những công dân chăm chỉ tháng tháng lãnh lương, ngắt ra một phần nộp cho sở thuế. Vợ chồng Tùng, nhất là Phượng, không nghĩ ra điều ấy, nên cứ thản nhiên cho rằng chính phủ nhiều tiền lắm, không ăn cũng uổng!
Bây giờ thì Phượng và Tùng đã có một số vốn khá lớn. Tiền nhà quá rẻ, cuộc sống lại giản tiện, ít nhu cầu. Tùng chăm làm overtime, Phượng cũng lâu lâu làm kiếm thêm tiền mặt. Trên giấy tờ, hai người đã ly thân nhưng thực sự vẫn là vợ chồng, vẫn đầu gối tay ấp rất mặn nồng. Căn nhà ba phòng ngủ nhà nước cấp cho Phượng, nàng thấy thừa thãi quá bởi nàng chỉ có hai đứa con nhỏ. Giả như chính phủ chỉ cho có một phòng ngủ cũng chẳng sao. Vợ chồng con cái có thể lăn ra thảm mà nằm vẫn còn rộng chán!
- Lúc đã ngủ rồi thì nằm trên giường hay dưới đất, có khác gì nhau!
Phượng thường lý luận như vậy và sợ người ta chê mình kém văn minh. Nàng nhấn mạnh thêm:
- Chứ còn gì nữa! Trên đời này có ai đang ngủ mà biết mình nằm ở đâu không? Giường đẹp hay giường xấu, chỉ lúc thức mới phân biệt được, chứ khi đã ngủ rồi thì còn cần gì!
Và nàng dứt khoát cho mướn một phòng để cái người mướn ấy sẽ trả tiền nhà thay cho nàng. Như vậy là Tùng, Phượng và hai đứa con hoàn toàn miễn phí, kiếm được bao nhiêu, tóm gọn bấy nhiêu. Ở cái xứ Canada này, hay nói đúng hơn là tất cả những nước kỹ nghệ tân tiến, có thẻ tín dụng, thì mối lo âu đeo đẳng suốt kiếp người là tiền nhà, hoặc nhà thuê hoặc mortgage. Cho nên nếu tạm thời thoát được cái gánh nặng ngàn cân ấy, dù chỉ một quãng thời gian như Tùng và Phượng hiện nay, thì tiền trong trương mục tiết kiệm sẽ lên nhanh vùn vụt.
°
° °
Tôi chính là người đầu tiên, và có thể cũng là người cuối cùng, mướn phòng của vợ chồng Tùng, tháng nộp bốn trăm vừa ăn vừa ở. Ngày ấy, tôi vừa bị mất việc vì hãng đóng cửa. Nền kinh tế cả nước đang gặp chu kỳ suy thoái. Nộp đơn hàng chục nơi, không chỗ nào thèm trả lời. Đường cùng, tôi đành xin đi học nghề. Đi học dĩ nhiên là nghèo. Một mình không thể chịu nổi cái apartment tôi đang ở từ mấy năm nay. Có người bạn rủ về sống chung, nhưng tôi sợ mình ham vui, trở ngại cho việc học nên nảy ra ý định ẩn cư tại một nơi không quen biết.
Một hôm tôi ra tiệm giặt công cộng, thấy dán mảnh giấy nhỏ “Phòng cho mướn” kèm theo số điện thoại, tôi liên lạc ngay và chạy lại xem nhà. Tùng và tôi chưa biết nhau, nhưng qua câu chuyện thăm hỏi vòng vo, cả hai đều cảm thấy gần gũi bởi cùng quen chung một số người khác. Dĩ nhiên Phượng không muốn để người lạ đến ở, bởi ngay cái việc cho thuê phòng của nàng đã bất hợp pháp rồi. Nàng cần một người thân, và nếu hiền lành đến độ ngờ nghệch như tôi thì lại càng quí. Về phần tôi, tôi cũng có nhiều thiện cảm với Tùng và Phượng. Tùng đứng đắn, chừng mực, từ lời nói đến hành động đều không có gì quá lố. Phượng thì nhanh nhẹn, xinh xắn. Nói chung, nhìn bề ngoài hai người rất đẹp đôi. Nếu cố tìm khuyết điểm thì cả hai chỉ có chung một tật nhỏ là ngại tiêu tiền! Nhưng điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến tôi, bởi tôi chỉ cần một căn phòng riêng để học và ngủ.
Một tuần lễ sau, hai người vui vẻ phụ tôi dọn đồ đạc vào. Căn nhà của Tùng và Phượng tương đối còn khá mới, lại ít tầng, cho nên vệ sinh trong ngoài rất chu đáo, khác hẳn không khí hỗn tạp tôi thường bắt gặp ở những cao ốc khác mà chính phủ cung cấp cho các gia đình có lợi tức thấp. Thiết kế bên trong giản dị nhưng gọn ghẽ. Ngày ngày đi học về, tôi mở cửa chính leo thẳng lên lầu, chủ đích tránh tối đa việc tham dự vào cuộc sống riêng tư của Tùng và Phượng. Tôi cố gắng sắp xếp để mọi sinh hoạt của mình đều thu gọn trong căn buồng nhỏ trên lầu, bên cạnh hai phòng ngủ nữa mà chỉ buổi tối gia đình Tùng mới kéo lên, hò hét trong giây lát rồi lăn ra ngủ. Phượng biết tôi cần yên tĩnh để học bài nên lúc nào cũng giữ con chơi ở tầng dưới. Nghĩa là, một ngày tôi chỉ gặp gia đình Tùng trong bữa cơm chiều, còn ngoài ra, sự hiện diện của tôi trong căn nhà này hoàn toàn không làm phiền đến ai kể cả hai đứa con nít.
Thời gian trôi rất nhanh. Cuộc sống phẳng lặng kéo dài được gần một năm thì có những tin đồn làm Tùng và Phượng bắt đầu bối rối. Nền kinh tế Canada thật sự chưa bao giờ đáng gọi là huy hoàng nhưng ít ra cũng được liệt vào hàng cường quốc kỹ nghệ. Mấy năm nay bỗng dưng xuống dốc thê thảm. Khi đất nước thịnh vượng, chính phủ ít bới móc những lạm dụng của dân chúng. Nhưng khi ngân sách thiếu hụt, mọi thứ chi tiêu phải xiết lại, thì các cơ quan nhà nước, đặc biệt là sở thuế, tung ra hàng loạt biện pháp để giảm chi tối đa và vơ tiền về cho công quĩ.
Cộng đồng Jamaïca trong thành phố, không biết có phải là sắc dân đạt kỷ lục về trò giả vờ ly hôn nhưng vẫn sống chung để lãnh trợ cấp hay chăng, mà sở Xã Hội ào ạt thăm viếng trước nhất. Nhân viên chính phủ theo dõi, rình rập, thẩm vấn và khám phá ra khá đông người gian lận. số tiền phạt, hồi tố lại bao nhiêu năm qua, làm nhiều bà single mother tán gia bại sản tính ra còn nặng nề hơn cả vụ AMWAY mấy năm trước.
Những người bạn của Tùng gia nhập hệ thống AMWAY hoàn toàn vì ngay tình, tưởng có thể tránh thuế được. Không ngờ sự thật là họ bị hướng dẫn sai lạc, cuối cùng lâm vào cảnh dở khóc dở cười khi chính phủ truy xét. Còn Tùng và Phượng, giả vờ ly dị để lãnh trợ cấp mà vẫn sống chung, trò chơi này nguy hiểm hơn vì cố tình phạm pháp. Tôi nghe loáng thoáng hai vợ chồng có lần bàn tính và tỏ ra hết sức đăm chiêu. Một là họ phải tái hợp, trở thành vợ chồng chính thức trên giấy tờ. Điều này có nghĩa rằng quyền lợi hiện tại sẽ mất hết bởi luơng của Tùng khá cao. Hai là Tùng phải dọn ra, mướn chỗ khác và như thế thì chẳng những không có lợi gì về tài chánh mà còn tự làm phiền toái mình bởi Ngưu lang Chức nữ tình nguyện chia ly!
Một hôm Phượng đi chợ về, chắc nghe thiên hạ bàn tán và hù dọa, chạy vội lên lầu gõ cửa phòng tôi và nhớn nhác dặn:
- Nếu có ai hỏi, anh đừng nói là anh mướn phòng của tôi nhé. Anh cứ bảo anh là bà con, đến thăm ở vài hôm thôi...
Tôi đang bận học bài nên chỉ gật đầu cho qua chuyện, không tò mò hỏi han thêm. Buổi chiều, Tùng đi làm về lại chạy lên lầu và cười cười dặn tôi một câu tương tự, chỉ khác một điều là nét mặt Tùng điềm tĩnh lắm, còn Phượng thì lo âu thấy rõ. Mà nàng lo là phải. Chính phủ cấp nhà cho ba mẹ con nàng theo nhu cầu, nàng dùng để đầu tư, dĩ nhiên là trái luật rồi. Xã hội này rất thương những bà mẹ độc thân, với điều kiện phải độc thân thật!
Năm ngoái, có người đề nghị cắt giảm trợ cấp của single mother vì ngân sách thâm thủng quá nặng, lập tức hàng ngàn người nhao nhao phản đối trên báo chí. Họ giải thích rõ ràng rằng, khoản trợ cấp ấy không thể bỏ được bởi nó không chỉ nhắm vào các bà mẹ, mà vì tội nghiệp những đứa trẻ không cha. Ly dị là một thảm cảnh của những xã hội văn minh và thống kê đã cho thấy, con cái của những cặp vợ chồng ly dị thường dễ bị khủng hoảng tinh thần, tỉ lệ thành công sút kém hơn những trẻ em trong một gia đình mà cha mẹ hạnh phúc. Chính vì vậy, những bà mẹ độc thân đáng được hưởng sự quan tâm đặc biệt của xã hội để chăm sóc con cái chu đáo hơn, miễn là đừng vì sự dễ dãi của chính phủ mà lạm dụng.
Một hôm Phượng đang nấu bếp thì có người gõ cửa. Nàng chạy ra và tái mặt vì nhân viên sở Xã Hội đến thăm cùng với một cô thông dịch viên người Việt. Rất may cho Phượng là Tùng đi làm chưa về, bởi nếu Tùng có nhà thì coi như bị bắt quả tang, không cách nào chối cãi được. Nàng đón khách vào, lật đật pha nước, lấm lét nhìn quanh, bứt rứt khổ sở vì những đồ dùng của Tùng bày la liệt khắp nhà. Từ cái gạt tàn thuốc lá, giày dép, quần áo đàn ông... đều làm Phượng lo sợ vì nó chứng tỏ nàng không sống một mình. Cô thông ngôn trấn an Phượng:
- Nhân viên welfare bữa nay đến thăm chị để xin chị trả lời một số câu hỏi trong tờ tham khảo, nhằm mục đích tìm hiểu và cải tiến chương trình giúp đỡ những bà mẹ độc thân. Nói tóm lại, đây là một cuộc survey, chị trả lời bốn mươi hai câu hỏi trong tờ questionaire, tốn chừng mười lăm phút là xong. Ngoài ra không có mục đích gì khác!
Sở dĩ cô thông dịch viên nói rõ như vậy là bởi cô rất cảm thông những trường hợp như Phượng. Hễ cứ nghe sở Xã Hội đến gõ cửa là hoảng hốt, chỉ sợ họ cúp welfare. Ngay lúc này, dù đã nghe cô thông ngôn cắt nghĩa, Phượng vẫn cho rằng bề ngoài họ làm bộ tham khảo hay thăm viếng, nhưng âm mưu thực sự của họ là muốn kiểm tra xem Tùng, chồng nàng, có sống chung trong căn nhà này hay không. Và vì tin như vậy, nàng mất hết cả thoải mái, vừa trả lời câu hỏi vừa loay hoay suy nghĩ phương cách xử trí trong tương lai. Tính Phượng vốn đa nghi, cho nên nàng kết luận ngay là ‘‘chắc có đứa nào tố”, chứ không thì nhân viên sở Xã Hội đến đây làm gì! Cô thông dịch viên đầy kinh nghiệm, nhìn thấu tâm trạng Phượng, hai ba lần minh xác:
- Tôi nhắc lại với chị, là sở Xã Hội làm giám định thông thường thôi. Hàng năm họ vẫn làm, đặc biệt là trong các cộng đồng Á châu và da đen. Họ làm chơi thôi, không có gì quan trọng đâu!
Rồi người đàn bà Canada bắt đầu hỏi Phượng:
- Bà ở đây mấy người?
Phượng nhìn cô thông dịch viên, lúng túng vì có tật giật mình:
- Dạ thưa ba người. Chỉ có ba người thôi. Tôi và hai cháu bé!
Giữa lúc đó, thật không may cho Phượng, tôi từ trên lầu lò mò xuống lấy ly nước, cả ba cùng ngẩng lên nhìn tôi. Tôi thấy mặt Phượng tái xanh, không nói được lời nào, chỉ trố mắt nhìn tôi oán trách. Nhân viên sở Xã Hội hỏi Phượng:
- Ai đấy?
Phượng giật mình ấp úng đáp:
- Bạn tôi ở Montreal mới qua chơi!
Bà Canada giơ tay chào tôi theo thói quen: “Hi! How are you?” rồi bỗng tươi hẳn nét mặt, ra vẻ thông cảm với Phượng:
- Bà đã có bạn mới? He must be the right man!
Bà buông cây bút xuống bàn và bắt tay Phượng:
- Congratulation!
Phượng đang ngơ ngác thì cô thông ngôn giải thích thêm:
- Chị có quyền có người yêu mới. Xứ này đâu có bắt buộc ai ly dị thì phải sống mãi một mình đâu! Chính phủ còn mong chị lập gia đình lại để tự lo liệu, khỏi lãnh trợ cấp nữa!
Và cô thân mật bảo Phượng:
- Chị quen anh ấy lâu chưa? Tôi cũng đã ly dị một lần. Hai năm sau, tôi lấy chồng khác, cho nên tôi rất hiểu hoàn cảnh của những người như chị!
Phượng cười ngượng ngập, chưa biết nói gì thì cô lại nói thêm:
- Không biết chị có đồng ý với tôi không, nhưng tôi thấy thế này: Thà mình cứ độc thân thì không sao, đã lấy chồng một lần rồi, khi ly dị lại muốn lấy chồng khác ngay! Ở một mình nó thế nào ấy, làm như thiếu cái gì, phải không chị?
Dứt lời, cô cười lớn như để chia sẻ niềm vui với người đồng hội đồng thuyền. Phượng cũng cười theo nhưng gượng gạo lắm. Tôi chắc nàng đang quá bận tâm, vui thế nào được trong hoàn cảnh này! Cô thông ngôn lắm mồm lại ghé tai Phượng nói thêm:
- Chị có người yêu mới là phải! Phải như thế để ông chồng cũ của chị đừng có bén mảng lại làm phiền chị nữa! Cái hồi tôi mới ly thân cũng vậy. Chỉ mới separate thôi đấy nhé, tôi vác ngay một ông kép trẻ về. Ông chồng cũ tôi hết dám lè nhè. Không biết chồng cũ của chị thế nào, chứ ông chồng tôi... mất dạy lắm. Nói chung, đàn ông họ đều thế cả. Đã bỏ nhau rồi mà vẫn cứ ghen! Mỗi lần điện thoại đến, tôi cho ông bồ tôi nhấc phone. Thế là hết nói!
Rồi cô lại nghếch mắt cuời khanh khách, y như vừa đạt được một thành tích lớn trong cuộc đời.
Tôi đứng ở tủ lạnh rót coca vào ly, theo dõi câu chuyện của ba người, phân vân không biết phải xử trí thế nào. sở Xã Hội tưởng lầm tôi là người tình mới của Phượng, thay thế Tùng đi nốt quãng đường đời còn lại. Tôi không thể chạy ra cải chính, bởi như vậy sẽ lộ ngay cái tội Phượng lấy nhà chính phủ cho tôi mướn. Tôi khẽ kéo ghế, nhẹ nhàng ngồi xuống bàn ăn và lần đầu tiên có ý định dọn ra để tránh phiền toái cho Tùng và Phượng nếu mai sau bị sở Xã Hội điều tra về tình trạng ly dị đích thực của hai người.
Ngoài phòng khách, một loạt câu hỏi đang đặt ra cho Phượng: Bà ly dị từ hồi nào? Ly dị êm đẹp hay cay đắng? Sau khi ly dị và sống một mình với hai con, cuộc sống có những khó khăn gì và bà có nhận thấy con cái bà thay đổi tính nết do cuộc ly dị của bà gây nên không? Chính phủ cần làm gì thêm cho những đứa con của bà?
Đại khái một loạt câu hỏi rất bình thường, nhưng câu nào cũng làm Phượng nghi ngại vì sợ người ta gài bẫy. Nàng nhớn nhác nhìn đồng hồ trên tường, chỉ sợ Tùng tan sở về bất tử thì hỏng hết mọi việc. Tôi thấy một điều mâu thuẫn ở Phượng là nàng rất mong buổi tiếp xúc kết thúc thật mau, nhưng khi trả lời bất cứ câu hỏi nào, nàng cũng cứ vòng vo phân trần dù là những câu “yes or no "khiến tôi ngồi uống nước trong bếp, vừa sốt ruột vừa bực bội, dù câu chuyện chẳng dính dáng gì đến mình.
Buổi chiều, Tùng đi làm về. Hai vợ chồng ngồi bàn tán to nhỏ rất lâu trong bếp, quên cả hai đứa con đói bụng léo nhéo đòi hamburger. Tôi nằm đọc sách trên phòng, chờ mãi cũng không nghe tiếng Tùng gọi xuống ăn cơm như thường lệ. Lâu lắm, tôi nghe tiếng Tùng nạt hai đứa nhỏ:
- Lên lầu chơi cho bố mẹ nói chuyện! Lát nữa ăn!
Tôi gấp sách lại, chạy vội xuống nhà, lấy bánh mì, peanut butter và nước táo, rồi rủ cả hai đứa lên phòng tôi ngồi. Nhìn xuống chân thang, tôi thấy Tùng vẫn đứng trầm ngâm bên cạnh quầy bếp, bàn tay phải đặt trên rổ bát, mắt nhìn ưu tư qua cửa sổ hướng về sân sau. Phượng thì lấm lét nhìn ra đường xem có ai rình rập, theo dõi Tùng vào căn nhà này hay không! Tôi quay vào phòng, tắt máy computer, bảo hai đứa nhỏ ngồi ăn rồi xuống nhà trấn an Tùng:
- Có gì đâu mà ông lo! Họ làm survey thôi. Xứ này ông còn lạ gì! Đủ các thứ thăm dò.
Phượng bước lại, thành thật kể lể:
- Lo chứ anh! Thể nào họ cũng theo dõi! Anh cũng như người trong nhà, tôi mới nói. Trên giấy tờ, anh Tùng và tôi đã ly dị rồi. Anh ấy đâu có quyền ở đây. Mỗi tháng tôi lãnh hơn một ngàn tiền single mother. Nếu họ khám phá ra tụi tôi vẫn sống chung với nhau, họ bắt trả lại, rồi còn phạt nữa. Ba năm là hơn ba chục ngàn, cộng với tiền lời và tiền phạt... Chưa kể tôi còn cho anh mướn phòng nữa!
Im lặng một lát, Phượng tiếp:
- Chắc có đứa nào tố!
Tôi phì cười:
- Chị lúc nào cũng hay nghi ngờ. Chẳng có ai tố cả! Ngân sách thiếu hụt quá nặng, chính phủ nợ mấy chục tỉ, cho nên họ phải tìm đủ mọi cách để kiếm tiền. Thuế GST chẳng hạn. Biết là dân chúng oán trách, biết là việc thương mại sẽ bị ảnh hưởng, nhưng chính phủ vẫn phải ban hành chỉ vì nhà nước quá nghèo!
Phượng bảo Tùng:
- Cẩn thận vẫn hơn. Từ nay anh đừng đậu xe trước cửa nữa. Đậu xa xa bên con đường nhỏ, rồi đi bộ vào lối sau. Rủi có người theo dõi...
Tùng lắc đầu:
- Ăn thua gì! Nếu họ đã cố tình chộp mình thì thể nào cũng dính. Biết đâu chính hàng xóm tố cáo, mình chối làm sao được!
Tôi cắt ngang:
- Nhưng hiện nay họ chưa điều tra thì tại sao ông bà không giải quyết dứt khoát đi. Đợi đến khi họ xông vào rồi thì chạy làm sao khỏi!
Phượng hỏi một câu hết sức ngây ngô:
- Giải quyết cách nào bây giờ?
- Thì tôi dọn ra. Ông bà làm giấy đoàn tụ lại với nhau, đừng lãnh trợ cấp nữa.
Câu trả lời của tôi mới thật là ngớ ngẩn. Đừng lãnh trợ cấp nữa thì còn gì để nói! Mấu chốt của vấn đề chỉ là mỗi tháng Phượng nhận tấm chèque một ngàn mấy trăm đồng tiền trên trời rớt xuống, chưa kể mọi thứ quyền lợi khác về thuốc men, bảo hiểm. Nếu tự dưng khước từ số tiền ấy thì quả là một hy sinh quá lớn lao, Phượng không thể làm nổi. Chẳng phải Phượng tham, vì rõ ràng tôi nghe có lần hai người bàn nhau rằng, hễ để dành đủ tiền mua căn nhà trả cash thì sẽ không thèm lãnh welfare nữa!
Phượng nhìn tôi bằng cặp mắt kinh ngạc, vì không ngờ tôi có thể đưa ra một đề nghị quá tàn nhẫn như vậy! Nàng thà chấp nhận cho Tùng đi nơi khác, chứ đời nào chịu bỏ trợ cấp và căn nhà quen thuộc này! Nhưng nếu Tùng dọn ra, đi mướn phòng, sắm đồ đạc thì cũng như không! Có khi còn lỗ nữa, so với tiền welfare hiện tại của vợ.
Tôi thấy sự hiện diện của mình chẳng giúp gì được Tùng nên lặng lẽ bỏ lên lầu. Tôi dự định cuối tháng sẽ trả phòng ra đi, để tránh những phiền toái cho chính mình mai sau, vì biết đâu sở Xã Hội chẳng kêu tôi ra làm chứng.
Mấy hôm sau, Tùng đi làm về, rầu rầu bảo vợ:
- Có người bị rồi, em ạ. Đám da đen dính gần hết!
- Da đen thì bị lâu rồi! Em nghe nói từ năm ngoái.
- Có lẽ bây giờ đến lượt dân Á châu. Tàu, Phi, Ấn Độ, Việt Nam... Anh nghe thằng Trúc nó bảo rằng sở Welfare đang mở chiến dịch hỏi thăm các sắc dân châu Á!
Tôi ngồi ăn cơm, lặng lẽ không góp ý bởi tôi thấy vợ chồng nhà này vô lý quá. Ngày nào cũng nhắc đi nhắc lại nỗi lo âu của mình, nhưng hoàn toàn không có ý định giải quyết cho dứt khoát nỗi lo âu đó! Y như người có bệnh mà cương quyết không đi bác sĩ! Thà rằng, Tùng và Phượng đã bị điều tra, đã bị sở Xã Hội bắt gặp quả tang Tùng ở thường trực trong nhà thì kể như chuyện đã rồi, chỉ còn cách nộp phạt và ngồi thở than với nhau. Đằng này, họ chưa hề bị thẩm vấn, nghĩa là họ vẫn có lối thoát rất dễ dàng, nhưng họ không muốn thoát, cứ hồi hộp chờ chính phủ đến làm phiền! Tôi biết giờ này Phượng đã có số tiền mặt khá lớn giao cho Tùng bỏ ngân hàng và mua Canada Saving Bond bởi nàng không thể đứng tên. Số tiền đó càng lớn thì Phượng lại càng muốn nó tăng thêm. Chính vì cái tâm lý ấy mà trong xã hội, người giàu thường hà tiện hơn người nghèo. Người nghèo có ít, tiêu bừa đi không tiếc, bởi để dành cũng chả đáng bao nhiêu. Người giàu, có quá nhiều, ngắt đi một phần nhỏ cũng thấy đau.
Ông anh họ của Tùng là một bác sĩ thuộc hàng cự phú, chán ngấy bà vợ từ mấy năm nay, nhưng cắn răng không dám ly dị vì sợ bị chia tiền! Cái ấy đúng là bỏ người chạy lấy của. Một cô bạn của Phượng chắt chiu được gần một trăm ngàn đô-la. Tuổi cô đã trên ba mươi mà thời gian cứ trôi đi vùn vụt, nhưng cô cảm thấy khó lấy chồng quá, bởi cô nhất định tìm cho bằng được thằng đàn ông nào phải có số vốn tương đương như cô thì cô mới chấp nhận. Cưới thằng nghèo thì vốn bị cưa hai, thà ở vậy làm gái già sướng hơn! Đây cũng chính là trường hợp bỏ người chạy lấy của! Mà buồn cười nhất là chính Tùng và Phượng kể cho tôi nghe về hai nhân vật ấy với một giọng giễu cợt hàm ý chê bai. Thế mà hóa ra Phượng cũng có cái thú đếm tiền y như họ.
Hôm sau Tùng đi làm, tôi đi học rồi vào thư viện như thường lệ. Buổi chiều tôi về sớm, nghe Phượng tâm sự:
- Anh cứ ở đây với chúng tôi, việc gì phải dọn ra? Welfare đâu có cấm cản tôi có bạn hay người nhà đến ở. Miễn là họ không bắt được quả tang ông xã tôi vẫn chung sống với tôi là chẳng sao cả! Hôm qua, anh Tùng bàn với tôi là anh ấy nên lánh mặt đi một thời gian vì sợ nhân viên sở Xã Hội theo dõi. Chờ xong chiến dịch rồi lại quay về.
Tôi ngạc nhiên ngắt lời:
- Anh ấy định mướn nhà ở riêng hay ở với ai?
- Không, anh ấy về Việt Nam.
Tôi à một tiếng rồi bỏ lên lầu. Tôi biết từ lâu Tùng vẫn có ý định về thăm cha mẹ nhưng phần vì tiếc tiền, phần vì Phượng cản, nên chưa đi. Phượng cản không phải vì lý do chính trị mà vì nàng còn tiếc tiền hơn cả Tùng nữa. Nay thì nhân cơ hội một công đôi chuyện, Phượng bằng lòng cho chồng xin nghỉ một tháng và chuẩn bị lên đường. Hôm tôi đưa ra phi trường, Tùng hết sức hoan hỉ, bàn chuyện mua sẵn căn nhà ở Sài gòn để mai kia về sinh sống. Tùng bảo:
- Không tính trước, vài năm nữa người ở hải ngoại đổ về, giá nhà tăng gấp ba gấp bốn, muốn mua cũng khó khăn!
Rồi Tùng dặn dò:
- Tôi biết ông bận học, không có thì giờ. Nhưng ở nhà, thỉnh thoảng ông xem bà xã tôi với hai đứa nhỏ có cần gì thì nhờ ông giúp một tay! Tháng sau tôi về.
Tôi gật đầu cười:
- Ông về thì có thể tôi đã dọn đi rồi. Nhưng dù đi đâu, nếu bà xã ông cần, tôi vẫn phải đến. Nhất là hai đứa con ông. Tôi thương tụi nó lắm.
Tùng ngạc nhiên:
- Ông cứ ở đó, tại sao phải dọn đi? Dù welfare có hỏi cũng đâu có sao? Ông cứ xưng là bạn hay bà con đến chơi!
Tôi không nói gì, Tùng lại tiếp:
- Còn nếu ông nhất định đi thì ông chờ tôi một tháng nữa rồi hãy đi. Tôi về lại, ông đi đâu, tôi phụ với ông dọn nhà.
Tôi đáp hững hờ:
- Vậy cũng được!
Tùng tỉ tê tâm sự:
- Tôi tính lại rồi. Xong chuyến này trở về, tụi tôi làm hôn thú lại để bà xã tôi khỏi lãnh trợ cấp nữa. Ăn của chính phủ mấy năm như thế cũng đủ rồi. Rủi họ phanh phui ra, mất cả chì lẫn chài mà lại mang tiếng. Thiên hạ lúc này thất nghiệp nhiều, tôi may mắn vẫn còn job mà lương khá cao. Ăn của nhà nước nhiều quá cũng thấy kỳ! Chính vì thế mà tôi rủ ông ở lại. Vợ tôi không lãnh welfare nữa thì đâu còn ai thắc mắc, tôi muốn cho mướn mấy phòng cũng mặc kệ tôi chớ!
Tôi gật đầu rồi đổi đề tài:
- Ngày nào ông về, ông cho tôi biết để tôi ra đón.
- Tôi có dặn bà xã tôi rồi. Mười bốn tôi về, vì mười lăm là sinh nhật thằng Bi, phải dẫn tụi nó đi MacDonald’s. Mười bốn, nhờ ông đón tôi.
- Tôi sẽ chở bà xã ông với hai đứa nhỏ ra đón. Ông yên trí!
Tùng cảm động, ngỏ ý cám ơn bằng cách đưa đẩy:
- Ông có muốn mua gì ở bên ấy không, tôi mang qua cho. Địa chỉ ông bà già ông, tôi có rồi. Tôi sẽ ghé thăm.
Tôi lắc đầu ngăn lại:
- Ông đừng ghé nhà tôi. Nói thật với ông, tôi đang đi học, nhận được thư nhà, nhiều khi tôi còn không muốn bóc ra xem. Đọc thư chịu không nổi, chỉ muốn bỏ học đi làm lại để kiếm tiền gửi về. Tôi ráng hai năm nữa rồi sẽ giải thích với gia đình sau. Bữa trước thằng bạn tôi về Sài gòn ghé thăm ông bà già tôi. Nó nói phét nói lác làm ai cũng tưởng bên này tôi có tiền mà bạc nghĩa với gia đình, ông thương tôi thì đừng đến!
Tùng nhìn tôi thông cảm và khẽ thở dài. Tôi bỏ anh xuống trước cửa nhà kiếng phòng đợi phi cảng, bắt tay từ giã rồi phóng thẳng đến trường.
°
° °
Một tháng vắng Tùng, dĩ nhiên Phượng nhớ lắm bởi từ ngày lấy chồng chưa xa nhau một đêm. Tuy vậy, bù lại, tinh thần Phượng thanh thản hơn vì không lo nhân viên sở Xã Hội bất thần gõ cửa và phát hiện Tùng có mặt ở đây.
Hai tuần lễ đầu, Tùng điện thoại về mỗi sáng thứ bảy và lần nào cũng đòi nói vài câu với tôi. Tuần thứ ba hoàn toàn im lặng. Tuần cuối cùng, Tùng phone sang, run run báo cho Phượng biết mẹ anh đau nặng phải vào bệnh viện Thống Nhất, sợ không sống nổi. Anh bảo Phượng ra phố, chuyển thêm cho anh hai ngàn mỹ kim, đồng thời nhờ tôi phone vào hãng, xin phép cho anh nghỉ thêm một tháng nữa.
Phượng buồn lắm. Không phải nàng buồn vì Tùng kéo dài thời gian du lịch. Tùng ở thêm một hai tháng nữa cũng không sao vì chính nàng muốn Tùng xa căn nhà này ít lâu để tránh sự theo dõi của chính phủ. Phượng buồn chỉ vì chồng nàng hôm đi đã bọc theo khá nhiều tiền, nàng đã đứt ruột lắm rồi, thế mà nay còn đòi gửi thêm. Tôi chở mẹ con nàng ra phố chuyển tiền và an ủi:
- Anh ấy có nói với tôi là chuyến này sẽ mua nhà ở Sài gòn. Chắc vì vậy mà cần thêm tiền.
Phượng gắt nhẹ:
- Ông ấy nói thế chứ tôi đâu có bằng lòng! Đồng tiền cầm trong tay vẫn chắc hơn. Mua nhà ở Sài gòn để làm gì? Biết mình có về được không!
Tôi lại phải trấn an Phượng:
- Có mấy ngàn đô thôi! Chị cứ coi như đánh bạc, biết đâu mai kia chị bán kiếm lời!
Nhưng rồi hết hai tháng, Tùng vẫn không quay về. Anh cũng chẳng điện thoại hay thư từ thăm hỏi Phượng và hai đứa con thỉnh thoảng vẫn nhắc đến bố mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Phượng bắt đầu mất bình tĩnh, mà chính tôi cũng cảm thấy hoang mang. Phượng hối hận đã cho chồng về Việt Nam một mình chỉ vì sở Xã Hội thanh tra. Bạn bè của nàng, dăm ba người single mother giả mà nàng thường liên lạc, ai cũng bảo Phượng chỉ lo vớ vẩn, chính phủ có theo dõi gì đâu! Nàng viết thư về Việt Nam cho gia đình chồng mà thật sự cả nhà chỉ mới biết mặt nàng qua hình chụp, thì chẳng thấy ai trả lời. Nàng nóng lòng bàn với tôi, đặt ra hàng chục giả thuyết, nhưng tôi có biết gì nhiều về Tùng đâu mà quyết đoán. Người như Tùng không phải loại ham vui quên bổn phận và vợ con. Hay anh bị tai nạn? Tôi thoáng nghĩ nhưng không dám nói ra. Cuối cùng, Phượng viết thư nhờ người bà con bên nàng đến tận nhà bố mẹ Tùng thăm dò xem có chuyện gì không may xảy ra chăng. Biện pháp này nếu không xong thì chính nàng sẽ phải dẫn hai đứa nhỏ về một chuyến cho rõ hư thực.
Bước sang tháng thứ tư, Phượng mới nhận được một lá thư của người nhà cho hay bản tin bất ngờ về Tùng qua đoạn viết sau đây: “Theo lời chị dặn, em đã đến nhà anh Tùng, nhưng không gặp. Người nhà anh ấy bảo: anh Tùng trước đây có lập gia đình ở Canada, nhưng đã ly dị hơn ba năm rồi. Bây giờ anh ấy sắp cưới một cô gái làm giáo viên ở Sài gòn”...
Phượng mếu máo đưa cho tôi coi lá thư, uất quá không nói được lời nào, chỉ luôn tay rút Kleenex thấm nước mắt. Đúng là lộng giả thành chân! Không hiểu vì những nguyên cớ gì, chính tôi đã chứng kiến một số cặp vợ chồng lúc đầu chỉ làm bộ ly dị, rồi rốt cuộc một thời gian sau thì bỏ nhau thật, hoặc cách này hay cách khác. Tôi có ngờ đâu cái “tiền lệ” kỳ quái ấy lại xảy đến với Tùng và Phượng.
Trước khi lên đường, chẳng có dấu hiệu gì là Tùng sẽ thực hiện một... bước ngoặt lịch sử đột xuất như vậy. Gần một năm ở chung với họ, tôi biết chắc là Tùng và Phượng là cặp vợ chồng nhiều hạnh phúc, ít ra là không cãi vã thường xuyên như nhiều người bạn khác của tôi. Nhân loại đã đồng ý với nhau rằng: Một cặp vợ chồng êm ấm thường có nghĩa là, trong hai người phải có một người hèn, mà cái người hèn ấy thường là thằng chồng! Từ đó mới có câu “ở hèn gặp lành”, rồi sợ con cháu chê cười, các cụ mới đọc chệch đi thành “ở hiền gặp lành” cho đỡ ngượng!
Riêng vợ chồng Tùng không nằm trong trường hợp tôi vừa kể. Cả hai hoà thuận thật bởi cả hai cùng cư xử vừa phải, không ai lấn át ai. Cũng chính vì vậy tôi càng kinh ngạc khi nghe tin Tùng sang ngang một cách bình thản như vậy. Chuyện tiếng sét ái tình hoá ra có thật ngoài đời chứ không phải chỉ nằm trong tiểu thuvết. Và một người dù quá khứ nghiêm chỉnh đến đâu thì cũng chẳng thể căn cứ vào đó để đảm bảo không có lúc sa ngã. Hạnh phúc lúc nào, cứ biết lúc ấy, mọi tiên đoán cho tình yêu đều có thể lầm lạc cả. Biết bao nhiêu cặp vợ chồng khắng khít tưởng ngàn đời không dứt được, thế mà đùng một cái chia tay. Hoá ra họ vẫn “sleeping with the enemy”mà không hề biết! Điều ngạc nhiên nhất đối với tôi là Tùng vốn yêu tiền đến thế mà nay dám bỏ việc làm giữa lúc nền kinh tế đang suy thoái trầm trọng, tỉ lệ thất nghiệp mỗi ngày một tăng, quả thật Tùng đã chọn tình thay tiền rồi!
Từ hôm nhận bản tin Tùng sắp cưới vợ, căn nhà tôi ở bao trùm một không khí hoang lạnh, dù rằng Tùng vắng mặt đã cả mấy tháng trước đó. Gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay!Tùng rong chơi với người tình mới, bỏ tôi đương đầu với nỗi thảm thương của Phượng. Cuộc sống thường nhật hoàn toàn bị xáo trộn, việc học hành của tôi thành ra cũng thăng trầm theo. Có lúc đang im lặng, Phượng bỗng oà lên khóc. Hai đứa con nhìn mẹ một lúc rồi cũng mủi lòng, méo xệch mồm, nấc lên theo. Tôi còn tâm trí nào mà ngồi bên đèn sách! Hết dỗ con rồi lại dỗ mẹ, tôi muốn dọn đi nhưng không đành lòng khi tang gia bối rối.
Suốt ngày Phượng ủ rũ, buông xuôi từ áo quần đến mái tóc, tự biến mình thành một con người khác. Nàng nằm vật vã trên giường, không ngó ngàng gì đến nhà cửa nữa. Tôi đi học về, bếp nước cứ lạnh tanh, phải tự động nấu mì gói mà ăn tạm cho qua ngày. Hai đứa con Phượng lê la ở phòng khách, đòi cái này, hỏi cái kia, ít khi tôi thấy Phượng nhếch mép trả lời. Những hôm trái gió trở trời, tôi nghe chúng léo nhéo ở phòng bên, khóc đêm, đái đêm, tôi cũng phải ngồi dậy chạy sang bởi Phượng dường như biết có tôi, nên cứ nằm vạ trên giường, không thèm ra!
Nuốt mì gói mãi đã chán ngấy, mà lại thấy Phượng không ăn uống gì, sợ nàng kiệt sức chết, tôi phải chạy đi chợ, thay đổi bữa cơm bữa cháo, bưng lên phòng cho nàng. Chao ôi, tôi đóng tiền để nàng nấu cơm tháng, không ngờ chính tôi phải nấu ngược lại! Tôi cần một nơi yên tĩnh để học bài, không ngờ lại lạc vào giữa thế giới điêu tàn, bao trùm một màu tang ngút trời như thế này!
Cứ như tôi đoán thì sự đau xót của Phượng đã lên tới cực điểm không phải chỉ vì tiếc nhớ Tùng mà hơn thế nữa, vì bao nhiêu tiền bạc dành dụm của nàng đã giao cả cho Tùng đứng tên. Vengeance aux deux visagel Hận thù gồm cả hai mặt: Hận kẻ bạc tình khoảng 49% và thù kẻ lấy tiền chiếm 51% trong lòng nàng. Đưa hết tiền cho Tùng khi Tùng đã ký tên ly dị thì cũng chẳng khác nào gửi trọn tài sản trong tay một kẻ hoàn toàn xa lạ, trước mặt luật pháp không còn cách nào để đòi lại được!
Phượng nhìn lại quanh mình và càng nghẹn ngào tự trách. Đồ đạc trong nhà toàn những thứ second hand. Áo quần cũng chỉ dám mặc loại rẻ tiền. Mấy lần định sắm cái nhẫn hột xoàn làm của riêng, nhưng lại tiếc tiền tự nhủ “mình có tiệc tùng đình đám gì đâu mà phải đeo hột xoàn!” Giờ thì trắng tay như người mới vượt biển. Có hơn hai ngàn tiền mặt nhét dưới nệm giường thì hôm rồi Tùng bảo gửi về hai ngàn, Phượng đã làm theo, coi như cú đá bồi cạn tàu ráo máng mà Tùng xử với người vợ hiền sáu năm chung sống.
Thấy Phượng vật vã quá, tôi đề nghị một điều mà lẽ ra tôi không nên nói:
- Có cái trương mục nào chị đứng tên chung với anh Tùng không? Nếu có, chị chạy ngay ra ngân hàng, xem có tiền thì rút hết ra đi!
Phượng gắt lên:
- Làm gì có! Lãnh welfare, ai dám để cả mấy chục ngàn trong nhà băng!
Tôi cũng nhận ra mình ngớ ngẩn, vội nói thêm:
- Nhưng mà chị lo gì. Sớm muộn anh ấy cũng phải về đây chứ đi đâu! Chừng đó chị nói chuyện với anh ấy. Dù có bỏ chị lấy vợ khác thì cũng phải trả lại tiền cho chị chứ! Đồ đạc, quần áo bao nhiêu thứ. Nhất là còn cái xe của anh ấy nữa!
Phượng rưng rưng nước mắt, lắc đầu tuyệt vọng:
- Đồ đạc thì toàn thứ đem cho không ai thèm lấy! Cái xe thổ tả, bán một ngàn chưa chắc đã có người mua! Ông ấy quay lại làm gì nữa!
Những ngày đen tối cứ kéo dài triền miên, càng thê lương hơn khi mùa đông vừa đến, mới bốn năm giờ trời chiều đã xám ngắt. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ! Huống chi người đã tan nát cõi lòng mà bên ngoài gió tuyết còn vù vù phụ hoạ! Ban ngày, hai đứa nhỏ đến lớp mẫu giáo, tôi cũng vội vã ra đi vì không muốn ở nhà để nghe tiếng thở dài bất tận của Phượng. Buổi chiều, tôi ngồi nán lại thư viện, tránh những bữa cơm chung nhạt nhẽo mà Phượng nuốt không trôi. Ban đêm, nhiều khi đã khuya lắm, tôi vẫn nghe tiếng bước chân Phượng đi ra đi vào ở phòng bên cạnh, tiếng ti-vi mở nho nhỏ lúc hai ba giờ sáng, hoặc đôi khi là tiếng trăn trở của người thao thức khó ngủ. Phượng gầy đi nhiều. Đôi mắt quầng thâm và hai má hốp lại. Tôi biết chắc Tùng đã trở lại thành phố nhưng tránh hẳn mọi liên lạc với Phượng. Có người đã gặp Tùng trong một siêu thị xa tít ngoài ngoại ô, nói cho tôi biết, nhưng tôi không kể lại với Phượng, bởi tôi thấy không có lợi gì cho nàng. Đau khổ nào thì thời gian cũng xóa được. Phượng còn trẻ, nhan sắc ở mức khá, thừa sức để chỉ nay mai sẽ có người yêu khác. Chưa gì trong thành phố đã có dăm ba ông hỏi thăm nàng, nhưng có lẽ còn ngại vì sự hiện diện của tôi trong căn nhà này. Tôi là chứng nhân một biến cố lớn trong đời nàng. Mai kia, khi Phượng vui duyên mới, chính tôi sẽ nhìn được những đổi thay ở nàng và sẽ nhắc lại cho nàng nghe những quằn quại của ngày hôm nay mà nàng tưởng không bao giờ có thể vượt qua được.
°
° °
Ngày tháng nặng nề rồi cũng trôi qua. Tùng bỏ nhà đã hơn bảy tháng. Phượng bắt đầu phục hồi đôi chút, mang sinh khí trở lại với những sinh hoạt thường nhật trong gia đình để nấu cho tôi những bữa ăn đều đặn.
Từ lúc nào tôi không để ý, Phượng đã chăm sóc lại dung nhan và y phục, dám mua những bộ quần áo đề giá trên... một trăm đồng, tô môi full lips màu đỏ thẫm thời trang, uốn tóc spiral perm và vẽ lông mày thật đậm. Tôi ngẩn ngơ nhận ra Phượng còn trẻ và đẹp lắm. Tôi nhớ có lần trong bữa ăn, Phượng đã tỏ ý chê bai những cô gái trẻ bắt chước người mẫu, tô môi full lips nhoè nhoẹt “trông như hề vẽ mặt trên sân khấu!”. Bây giờ thì chính nàng lại thấy cái nét thẩm mỹ mới mẻ ấy có sức lôi cuốn mọi
người. Đàn bà khi yêu bao giờ cũng đẹp rạng rỡ và trở nên dễ tính khác thường. Phượng thu dọn lại căn nhà đã bỏ bê gần một năm nay, tưới nước cho những chậu cây đang chết héo gần cửa sổ. Cả buồng ngủ của tôi vốn hết sức bừa bãi, một hôm đi học về, tôi cũng thấy đồ đạc lau chùi sạch bóng và thu xếp thứ nào ra thứ nấy. Tôi ngờ rằng Phượng đã nhen nhúm trong lòng một hình bóng nào khác chăng! Ngày ngày tôi đi học, hai đứa bé cũng đến trường, biết đâu trong căn nhà này đã chẳng diễn ra những gặp gỡ ân tình mới, làm đổi thay tâm trạng trống vắng của Phượng? Tôi đã thấy có người lạ đến tìm Phượng một đôi lần. Tôi đã nghe lại tiếng cười rộn rã của nàng mỗi lần nói chuyện với người nào đó trong điện thoại. Nàng quên hẳn Tùng rồi chăng? Thoáng đặt câu hỏi như vậy thôi, chứ tôi không bận tâm thắc mắc bởi chuyện đó chẳng dính gì đến tôi. Mà nếu đúng như thế thì cũng là điều đáng mừng, chẳng những cho Phượng mà cho cả tôi nữa, bởi tôi đã chán ngấy cái cảnh tai bay vạ gió, lọt vào căn nhà này để hứng lấy những phiền toái vốn chẳng liên hệ gì đến mình.
Mỗi lần nhận tấm chèque welfare ít ỏi, Phượng ngồi thừ người ở phòng khách rất lâu, chớp mắt nuối tiếc số vốn dành dụm đã tiêu tán. Rồi, dường như để bù đắp lại quãng thời gian khờ dại ngày trước, Phượng không chắt chiu nữa, rủ tôi đi ăn tiệm, dẫn tụi nhỏ đi xi-nê và sắm thêm đồ chơi cho chúng. Thậm chí còn một chân hụi sống, tuy chẳng đáng bao nhiêu, nàng cũng hốt luôn, ôm về được hơn một ngàn, mua áo quần và mỹ phẩm. Phượng cười giải thích:
- Lúc này thiên hạ hay giật hụi trốn về Việt Nam. Tôi hốt non cho chắc ăn!
Mấy chữ “trốn về Việt Nam” chính nàng vô tình nhắc đến gợi nhớ đến Tùng khiến nàng thở dài. Tôi gạt đi:
- Hụi lớn mới sợ bị giật. Hụi của chị, tháng đóng có một trăm, hốt chót được ngàn hai, giật làm gì?
Giọng Phượng đầy ân hận:
- Hồi đó bà Nam Trân cứ rủ mãi tôi vào một chân hụi, tháng góp năm trăm. Nói là năm trăm chứ thực ra thì chỉ độ ba trăm rưởi, bốn trăm thôi. Người ta bỏ tiền lời cao lắm. Giá tôi nghe bà ấy, thì bây giờ cũng còn được vài ngàn!
Tôi không nói gì vì trò chơi này tôi không rành. Thấy nàng cứ lâu lâu lại buốt nhói về tiền bạc, tôi dè dặt hỏi:
- Cái ngày chị với anh Tùng ra toà ly dị, chị nuôi hai đứa con, toà có bắt anh Tùng phải cấp dưỡng hàng tháng bao nhiêu không?
- Có chứ. Mỗi tháng bốn trăm. Nhưng anh biết đấy. Lúc đó chỉ ly dị trên giấy tờ, thành ra mình đâu có để ý. Bây giờ ông ấy trốn luôn, biết ở đâu mà liên lạc!
Tôi đã toan tiết lộ cho Phượng biết Tùng hiện có mặt tại thành phố này, nếu có tìm thì cũng sẽ gặp để bắt Tùng phải gửi tiền cho các con. Nhưng tôi vừa sực nghĩ ra một điều làm tôi cảm thấy ân hận đã đi quá sâu vào vấn đề riêng tư giữa Phượng và Tùng.
Một người thích tiền như Phượng, chắc chắn không thể không nhớ đến trách nhiệm chu cấp của Tùng. Sở dĩ nàng chưa truy lùng Tùng có lẽ vì nàng vẫn còn hy vọng Tùng một ngày gần đây sẽ quay lại. Nàng điểm phấn tô son, chăm lo lại nhan sắc, biết đâu chẳng vì niềm kỳ vọng mơ hồ đó vì nàng vẫn tin bản chất Tùng không phải là người bạc bẽo. Tùng sa ngã trong một phút yếu lòng, rồi cũng sẽ bừng tình tìm về với vợ con. Cho nên trong lúc chờ đợi, Phượng không muốn làm điều gì quá đáng, tỏ ra mất tình nghĩa đối với Tùng, cửa vườn nàng vẫn mở, để Tùng quay lại lúc nào cũng được.
Có lẽ tôi đoán đúng, bởi ngay sau khi nói câu ấy, Phượng chuyển đề tài, lảng qua chuyện khác và tuyệt nhiên không thắc mắc gì đến bốn trăm bạc mà đáng lẽ Tùng phải phụ nuôi con mỗi tháng. Tôi chợt phì cười vì thấy mình ngớ ngẩn. Lúc thì cho rằng Phượng đang bước vào cuộc tình mới. Khi thì lại đoán rằng nàng vẫn còn tha thiết với Tùng.
Nhiều lần tôi đã tự nhắc mình chỉ là kẻ đứng bên lề, không can dự gì đến cuộc sống riêng tư của Phượng. Vậy mà tôi vẫn cứ soi mói tìm hiểu, dù chẳng ấp ủ một mục đích nào cả. Có hôm trong bữa ăn, tôi tò mò hỏi:
- Cái ông đi BMW đến gặp chị hôm trước là ai vậy?
Phượng nhìn tôi rất nhanh và đáp gọn:
- Bà con của ông Tùng.
Tôi à một tiếng nhỏ. Phượng cũng chẳng nói gì thêm nữa, khiến tôi ngượng ngập về sự hiếu kỳ vô lý của mình. Tôi tự nhủ từ nay sẽ trở lại với những sinh hoạt bình thường, vùi đầu vào đèn sách giống như thuở trời đất chưa nổi cơn gió bụi trong căn nhà này.
°
° °
Những ngày kề cận Noël, tuyết xuống nhiều, nhưng tôi thường xuyên ôm cặp ra thư viện vì hai đứa nhỏ nghỉ học ở nhà, luôn miệng hò hét, rượt nhau lên xuống cầu thang, tôi không đọc nổi một trang sách. Từ ngày vắng mặt Tùng, hình như chúng nô đùa tự do hơn, Phượng mắng mãi cũng chẳng có kết quả gì. Tôi không phiền lòng chút nào, ngược lại còn thấy tội nghiệp chúng. Tuổi thơ vui chơi được là tốt, ai nỡ cấm cản làm gì! Thà tôi chịu khó đội tuyết ra đi, trong lòng còn thấy thanh thản hơn.
Vào đúng đêm Giáng Sinh, tôi đã sửa soạn sẵn, chuẩn bị đi dự party của lũ bạn cùng lớp, nhưng thấy hai đứa con Phượng cứ quấn lấy, níu kéo tôi ở nhà và nhất là ánh mắt Phượng nhìn tôi khẩn khoản, tôi đành cởi áo coat ra, ngồi lại chơi với chúng bên cạnh cây Noël lấp lánh sáng do chính tay tôi dựng ở góc phòng khách.
Tội nghiệp hai đứa nhỏ không cha, mà từ ngày Tùng vắng mặt, Phượng buồn quá nên cũng lơ là cả nhiệm vụ người mẹ. Hình như chúng sắp quên Tùng vì ít lâu nay tôi để ý, không nghe chúng hỏi mỗi khi đi học về như mấy tháng trước. Tôi dạy chúng hát bài Jingle Bells, cho chúng mở những gói quà nhỏ đặt dưới chân cây thông giả và sau cùng cắt bánh sinh nhật.
Phượng ngồi ở salon, chăm chú quan sát. Chiều nay, nàng đã đem hết những cuốn album kỷ niệm, xé bỏ từng đống ảnh chụp với Tùng để xoá tan dấu tích kẻ bội phản. Nàng mặc bộ đồ trắng toát từ trên xuống duới, tươi mát như ngọn cây non phục sinh sau những ngày chói chan nắng hạ. Ở Việt Nam, với cái nhìn thẩm mỹ cổ điển, Phượng có thể bị chê là gầy, nhưng sang đây lại hoá ra đẹp. Tôi ngước lên, vô tình bắt gặp đôi mắt long lanh đang nhìn tôi rất khác thường, tôi vội cúi xuống và nô đùa với lũ trẻ, đè nén những cảm xúc có thể làm tôi lạc hướng.
Bên tôi, những tiếng reo hò hồn nhiên, những giọng cười như nắc nẻ mỗi khi hai đứa nhỏ giành nhau xé cả mấy lớp giấy hoa mới khám phá ra gói quà chỉ có mỗi một cái kẹo. Tôi ngồi xoay lưng lại phía Phượng, thản nhiên nói cười như đang vui lây cái vui của lũ trẻ mà thật sự trong lòng ngổn ngang trăm mối. Tôi biết Phượng đang nhìn tôi với ánh mắt xúc động bởi thấy tôi thương các con nàng. Mà tôi thương thật chứ không phải vờ vịt như nhiều gã đàn ông khác chỉ dùng con để tán mẹ. Khi chiếm được mẹ rồi thì lập tức trở mặt muốn đạp lũ con ra cửa! Tôi mơ hồ cảm thấy Phượng có cái gì đổi khác đối với tôi. Và chính tôi, nếu gần gũi Phượng thêm một thời gian nữa, cũng sẽ yếu mềm mở một cánh cửa tình yêu mới, ít ra là thứ tình yêu xác thịt. Ở vào hoàn cảnh của tôi, lửa gần rơm ngày này qua ngày khác, dù rơm có ẩm ướt đến mấy thì rồi lửa cũng bắt cháy. Tôi hối hận đã không ra đi ngay khi biết tin Tùng dứt khoát bỏ Phượng. Sự hiện diện của tôi trong căn nhà này vô lý lắm, không ai có thể cắt nghĩa được. Nhưng bây giờ chia tay vẫn chưa muộn. Chỉ cần một tí can đảm, hay đúng hơn là một chút nhẫn tâm, tôi sẽ làm được.
Thằng Bi đập vào vai tôi, ngúng nguẩy bảo:
- Chú đánh lừa cháu! Quà gì mà toàn giấy, cháu bóc mỏi cả tay!
Tôi cười giải thích:
- Không phải chú đánh lừa cháu đâu. Chỉ có ba gói quà thật. Nhưng chú làm thêm bảy gói quà giả để các cháu bóc cho vui!
Tôi cầm lên cái gói nhỏ nhất hình chữ nhật, bọc giấy tím thẫm với cái nơ xanh mà tôi đã đánh dấu sẵn, đưa cho thằng Bi và bảo nó mang lại tặng mẹ. Nó lắc đầu nhìn tôi:
- Chú tặng mẹ cháu đi!
Tôi đứng dậy đến ngồi bên Phượng, trao cho nàng và nói:
- Gói này của chị. Chả có gì đâu, nhưng tôi tặng chị cho đúng thủ tục Noël xứ này.
Phượng đỡ lấy, đặt lên lòng, không nói gì cả, chỉ rưng rưng nước mắt cúi xuống. Tôi dè dặt hỏi:
- Chị vẫn chưa hết buồn?
Phượng lắc đầu đáp:
- Chuyện cũ tôi quên rồi. Tôi xin lỗi anh, mấy tháng vừa rồi tôi thật là bê bối, cơm nước bữa có bữa không, làm phiền anh quá. Mong anh đừng giận!
Tôi khách sáo đáp lại:
- Chị vui là tôi mừng rồi. Thấy chị thảm thương quá, tôi cũng áy náy.
Nàng nói rõ hơn:
- Tôi chỉ sợ anh giận, rồi anh bỏ đi.
Dứt lời, Phượng lảng ngay sang chuyện khác, nhìn đồng hồ và bảo tôi:
- Anh ngồi chơi, tôi cho các cháu đi ngủ, trễ quá rồi !
Nàng đứng dậy, giục hai đứa trẻ đi đánh răng rửa mặt và dắt chúng lên phòng. Còn lại một mình, tôi mở nhạc Giáng sinh nho nhỏ, tắt hết mấy ngọn đèn lớn trong phòng cốt để một mình cây Noël đơn độc bừng lên muôn màu rực rỡ. Tôi ngã người nằm trên sofa, nhắm mắt lại, lắng tai nghe tiếng hát quen thuộc đã bao năm làm tôi ray rứt. Bài thơ Trụ Vũ phổ nhạc năm nào khi chưa mất nước, bây giờ gợi lại niềm thương nhớ sâu thẳm trong tôi về một mùa đông đã xa lắm:
Xin tình yêu giáng sinh
Trên quê hương ngục tối
Xin tình yêu giáng sinh
Cho loài người tội lỗi...
Tôi lẩm nhẩm hát theo, dù câu nhớ câu quên mà vẫn thấy lòng dâng lên nhiều cảm xúc. Chợt nghe tiếng bước chân đến gần, tôi giật mình mở mắt ra, thấy Phượng đang đứng bên cạnh, dáng cao và gầy, đôi mắt đen thăm thẳm trên gương mặt mờ tối. Tôi vội vàng ngồi lên và lúng túng hỏi một câu đáng lẽ không cần hỏi:
- Chị chưa đi ngủ?
Phượng ngồi xuống bên tôi, khoảng cách thật gần gũi trên chiếc sofa, với tay lấy gói quà nhỏ mà lúc nãy tôi trao tặng, xé giấy mở ra. Chỉ là một chai mỹ phẩm Estée Lauder mà tôi nhờ cô bạn cùng lớp mua giùm bởi chưa hề có thói quen tặng quà cho bất cứ ai. Phượng cảm động thấy rõ, chớp mắt nói cảm ơn, tay run run xoay qua xoay lại lọ nước hoa mấy lần rồi mới đặt xuống bàn. Nàng cúi đầu thì thầm:
- Mấy tháng nay, không có anh bên cạnh, không biết làm sao em sống nổi!
Tôi giật thót người vì lần đầu tiên Phượng xưng em với tôi và giọng nàng cũng không bình thường như tôi vẫn nghe từ khi dọn vào đây. Dù ít kinh nghiêm về ái tình, tôi cũng đoán chắc được rằng: Lại thêm một bước ngoặt lịch sử, một rung động mới của con tim!
Sau câu nói mở đường thiết tha ấy, lẽ ra tôi phải nắm lấy thời cơ, hành xử như bất cứ người đàn ông nào khác trên cõi đời này, là choàng cánh tay qua vai Phượng, kéo nàng gục vào ngực tôi và phun ra vài câu cải lương cho phù hợp với tình thế, để rồi từ đó, có thể tiến xa hơn nữa cũng rất dễ dàng. Tình yêu ở một người đàn bà đã có chồng có con, thường đỡ mất thì giờ hơn thứ ái tình chay tịnh thuở học trò. Nhưng tôi lại chẳng có phản ứng gì, không nổi máu gỡ gạc, chỉ ngồi đực mặt một lúc rồi đứng dậy, với tay bật đèn, xoá mất cái khung cảnh thơ mộng ngàn năm một thuở mà Phượng đã thân ái dành cho tôi.
Mấy phút nặng nề trôi qua, không ai nói với ai lời nào. Phượng ngượng ngùng cúi đầu bước lên lầu. Tôi thơ thẩn dưới nhà, ngổn ngang xao xuyến đi tới đi lui rồi cũng tắt nhạc và bỏ lên phòng ngủ.
Ngang qua buồng của Phượng, tôi thấy đèn còn sáng trưng và cửa vẫn mở rộng. Nàng chưa thay áo ngủ, vẫn mặc nguyên bộ đồ trắng ngồi trên giường, chân co chân duỗi, tựa lưng sát vách, ôm cái gối vào lòng, đôi mắt nhìn hờ hững sang bức tường đối diện. Thấy tôi đi qua, Phượng cũng chẳng thèm ngó ra. Tôi bước thẳng về phòng mình, tháo cà-vạt quăng lên giường, trong lòng thấy nao nao bứt rứt vì cần nói với Phượng một điều gì đó mà chưa nói được.
Tôi ngồi xuống mép giường, bâng khuâng suy nghĩ. Chợt thấy trên bàn học có gói quà nhỏ bọc giấy hoa vàng và tấm thiệp Noel dựng bên cạnh, tôi vội lao tới, lật đật bóc ra xem. Mùa Giáng sinh, nhưng Phượng không có lời chúc mừng nào cả. Nàng viết cho tôi một câu rất ngắn: “Tặng anh, nguồn an ủi mới của đời em. Phượng”.
Tôi lặng người ngồi xuống ghế, bàn tay đưa lên lùa vào mái tóc. Tôi đoán không sai. Chính tôi đã giúp Phượng phục sinh sau những ngày vùi dập bi thảm, chính tôi đã đưa nàng trở lại cuộc sống bình thường, đã giúp nàng điểm phấn tô son lại, cho nàng một niềm tin mới để nàng nhìn được ánh sáng của tương lai sau lần đổ vỡ bất ngờ mà Tùng gây nên. Cũng chính vì thế cho nên thái độ lạnh nhạt lúc nãy của tôi trong phòng khách, chắc chắn đã làm nàng tổn thương không ít. Nhưng thà như thế, bởi tính tôi không thích mập mờ.
Tôi đứng dậy bước ra, rẽ sang buồng nàng. Phượng vẫn ngồi trong tư thế cũ, chỉ hất ngược mái tóc lên, cho tôi nhìn rõ hai dòng nước mắt nhạt nhoà trên má. tôi muốn bước vào, kéo Phượng nằm xuống bên tôi, tìm lời vỗ về để nàng tủi thân khóc nức nở hơn. Nhưng tôi không làm được, chỉ đứng tựa khung cửa, một chân bắt chéo qua chân kia, hai tay khoanh trước ngực. Tôi ho một tiếng nhẹ, nhưng nàng không quay lại. Dù vậy, tôi nhất định lên tiếng một lần cho xong:
- Ngày nghe tin anh Tùng dứt khoát với chị, tôi đã định dọn ra để chị thu xếp chuyện riêng. Nhưng thấy chị đau buồn quá, nhất là tôi rất mến các cháu, tôi nán lại một thời gian xem có phụ chị được chút gì không. Bây giờ thì tôi mừng là chị đã quên chuyện cũ. Tôi xin phép chị, ngày mai tôi dọn sang ở chung với một người bạn. Cám ơn chị đã cho tôi ở đây trong thời gian vừa qua và chúc chị nhiều hạnh phúc trong tương lai...
Nói dứt câu, tôi không chờ phản ứng của Phượng, lặng lẽ bước nhanh về phòng.
NGUYỄN NGỌC NGẠN